Thread: Anh giáo
View Single Post
  #1 (permalink)  
Old 07-10-2007, 10:39 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 181
Anh giáo

Thuật ngữ Anh giáo (Anglicanism) được dùng để chỉ những giáo hội tuân giữ các truyền thống tôn giáo được thiết lập và phát triển bởi Giáo hội Anh quốc. Cộng đồng Anh giáo (Anglican Communion) được xác lập như là một cấu trúc bao gồm nhiều giáo hội đa sắc thái, theo các xác tín thần học và bản sắc dân tộc, công nhận Giáo hội Anh quốc là định chế khai sáng. Ước tính trên toàn cầu hiện có khoảng từ 70 đến 80 triệu tín hữu Anh giáo.

Anh giáo vẫn thuộc về Công giáo hay đă trở nên một phần của cộng đồng Kháng Cách hiện c̣n là một ẩn số, khi Anh giáo tự nhận ḿnh có những ràng buộc về thần học và sống đạo với cả Công giáo La Mă và Cộng đồng Kháng Cách. Một mặt, quan điểm chính thức của Giáo hội Anh quốc là “duy tŕ đức tin Công giáo”. Nghi thức thờ phụng với tâm điểm là lễ ban thánh thể, đồng hành với truyền thống công giáo, và Cộng đồng Anh giáo nhấn mạnh quan điểm hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo Cổ - một cộng đồng nhỏ gồm các giáo hội đă tách rời khỏi Công giáo La mă năm 1870 v́ những bất đồng về các vấn đề thần học và về thuộc tính vô ngộ (không sai lầm) dành cho giáo hoàng. Mặt khác, Anh giáo được khai sinh từ Cuộc Cải cách Kháng Cách.

Giống Chính thống giáo và Công giáo La mă (nhưng khác với hầu hết các giáo hội Kháng cách), Anh giáo công bố thẩm quyền của ḿnh dựa trên quyền kế thừa tông đồ (apostolic succession) được lưu truyền từ các môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-xu. Tín hữu Anh giáo truy nguyên nguồn gốc đến tổng giám mục đầu tiên của giáo hội, Thánh Augustine thành Canterbury.

Khởi nguồn

Trong khi tín hữu Anh giáo thừa nhận cuộc ly giáo dưới triều Henry VIII là nhân tố khai sinh Giáo hội Anh quốc như một thực thể độc lập, họ nhấn mạnh đến tính liên tục của giáo hội từ trước Cuộc Cải cách Kháng Cách. Bộ máy tổ chức của giáo hội đă được thiết lập tại Hội nghị Herford năm 673 AD, khi các giám mục Anh lần đầu tiên cùng làm việc trong một thể chế, dưới quyền lănh đạo của Tổng giám mục thành Canterbury. Kể từ thiết chế tôn giáo thời Elizabeth, Giáo hội Anh quốc thừa hưởng di sản từ cả Công giáo và Kháng Cách, với quân vương nước Anh được đặt vào vị trí đứng đầu giáo hội. Tuy nhiên, vua nước Anh không có vai tṛ nào trong các giáo hội thuộc cộng đồng Anh giáo tại các quốc gia khác trên thế giới.

Cuộc cải cách tại Anh khởi đầu với những mục tiêu chính trị của Henry VIII, khi một trong các bà vợ của nhà vua, sinh cho ông một hoàng tử để thừa kế ngai vàng, yêu cầu có một cuộc hôn nhân chính thức; cùng lúc nhà vua cũng nhận thấy sự cần thiết và ích lợi của việc thay thế ngai giáo hoàng bằng ngai báu nhà vua trong vị trí đứng đầu giáo hội. Kiến thức về lịch sử của Henry VIII đủ tốt để nhà vua nhận ra rằng khi dành lấy quyền đứng đầu giáo hội, nhà vua chỉ phục hồi quyền lực vốn đă dành cho vua chúa các nước Âu châu từ thời hoàng đế La Mă Constantine (thế kỷ thứ 4), mà họ đă bị tước đoạt sau khi quyền lực của các giáo hoàng gia tăng.

Đạo luật Quyền Tối thượng đặt Henry vào vị trí đứng đầu giáo hội, trong khi các đạo luật khác như luật giải thể tu viện mang một số lượng lớn các loại tài sản vào tay nhà vua, rồi sau đó vào tay các nhà quư tộc. Điều này tạo nên các nguồn vật chất lớn lao hỗ trợ cho giáo hội mới vừa độc lập trên lănh thổ nước Anh, dưới quyền cai trị của một quân vương. Tuy vậy, người thiết lập nền thần học đặc thù cho Anh giáo là Tổng Giám mục Canterbury, Thomas Cranmer với sự tiếp bước của Richard Hooker và Lancelot Andrewes. Cranmer được hưởng nền giáo dục tại Âu châu lục địa, chịu ảnh hưởng tư tưởng cải cách, và v́ vậy, mặc dù là một linh mục, ông đă kết hôn. Bởi v́ Cranmer và các nhà lănh đạo khác của Giáo hội Anh quốc được tấn phong bởi các giám mục theo quyền kế thừa tông đồ, các vị này lại truyền chức cho những linh mục khác, Anh giáo được xem là vẫn duy tŕ quyền kế thừa tông đồ.

Trong thời trị v́ ngắn ngủi của Edward VI, con trai của Henry, Cranmer đă thành công đáng kể trong nỗ lực đem Giáo hội Anh quốc đến gần với các quan điểm thần học Calvin. Kinh Cầu nguyện chung ra đời trong thời gian này. Cuộc cải cách bị đảo ngược đột ngột khi Nữ hoàng Mary lên ngai sau cái chết của em ḿnh. Chỉ đến thời trị v́ của Elizabeth I, giáo hội Anh mới được xác lập như là một giáo hội Công giáo cải cách.
Trong thế kỷ 16, tôn giáo đóng vai tṛ quan trọng như là một nhân tố nối kết toàn thể xă hội. Những bất đồng tôn giáo chắc chắn sẽ dẫn đến những bất ổn xă hội, những âm mưu thông đồng và cầu viện binh lực nước ngoài để lũng đoạn triều chính hay lật đổ ngai vàng.

Giải pháp của Elizabeth nhằm giải quyết các bất đồng tôn giáo mà không cần đổ máu là xác lập một thiết chế giáo hội với nghi thức thờ phụng sao cho mọi người đều có thể dự phần, với một hệ thống thần học có thể bảo đảm sự đồng thuận của các khuynh hướng khác nhau về cung cách giải thích Kinh Thánh. Nguyên tắc nền tảng của Kháng Cách là mọi sự phải được chứng minh là phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh, đă bị đảo ngược bởi tín điều thứ VI của bản Ba mươi chín Tín điều của Anh giáo, theo đó không ai bị buộc phải tin bất cứ điều ǵ trừ khi điều đó được chứng minh rơ ràng trong Kinh Thánh.

Nguyên tắc này dẫn đến sự nh́n nhận có những khoảng trống nơi Kinh Thánh không cung cấp sự dạy dỗ rơ ràng. V́ vậy, cần có sự bao dung cho nhiều quan điểm dị biệt và cần xem chúng là hợp pháp. Trong khi phần lớn dân chúng tỏ ra muốn đồng hành với thiết chế tôn giáo này, những những nhóm cực đoan ở hai thái cực thần học không muốn chấp nhận, và những rạn nứt bắt đầu xuất hiện bên trên bề mặt của sự hiệp nhất tôn giáo tại Anh.

Trong thế kỷ kế tiếp, có những dịch chuyển quan trọng hoặc về phía phong trào Thanh giáo hoặc về phía các trào lưu thiên về Công giáo. Cần nên biết rằng vào thời ấy, khái niệm về quyền tự do tôn giáo là không thể hiểu được và không thể chấp nhận được, v́ vậy, cũng dễ hiểu khi mục tiêu của các nhóm đấu tranh là làm thế nào để kiểm soát giáo hội chứ không phải để được hưởng quyền tự do tôn giáo. Theo tiêu chuẩn của Âu châu lục địa, mức độ bạo động tôn giáo tại Anh tuy không cao, nhưng cũng đủ làm mất mạng một quân vương (Charles I) và một tổng giám mục Canterbury (William Laud). Kết quả sau cùng của cuộc chính biến phục hồi vương quyền của Charles II là nỗ lực trở lại các lư tưởng thời kỳ Elizabeth. Tóm lại, trong giai đoạn này, đa số cư dân tại Anh chọn lựa con đường trung dung, c̣n đứng tại hai cực đối nghịch nhau là các nhóm Công giáo La Mă và Thanh giáo, mỗi nhóm đều đủ mạnh để tự bảo vệ ḿnh khỏi bị nuốt chửng bởi nhóm kia, và đủ khôn ngoan để có thể tồn tại bên ngoài giáo hội thay v́ t́m cách kiểm soát giáo hội. Cuộc cải cách tại Anh được xem là hoàn tất vào thời điểm này.

Măc dù thiết chế Elizabeth đă không dành được sự đồng thuận của toàn thể dân Anh, Anh giáo hiện đang phát triển tại nhiều nơi trên thế giới, một thành quả vượt quá mọi sự mong đợi của mọi tín hữu Anh giáo thế kỷ 16 và 17.

Thể chế

Tổng Giám mục Canterbury được dành một vị trí danh dự trong ṿng các tổng giám mục thuộc Cộng đồng Anh giáo. Ông được nh́n nhận là primus inter pares, nghĩa là đứng đầu nhưng b́nh đẳng. Tổng Giám mục Canterbury không hành xử bất kỳ thẩm quyền nào trên các giáo hạt bên ngoài nước Anh. Tổng Giám mục Canterbury đương nhiệm Rowan Williams, nguyên tổng giám mục xứ Wales, là chức sắc cao cấp đầu tiên bên ngoài Giáo hội Anh quốc được bổ nhiệm vào chức vụ này kể từ cuộc cải cách.

Từ thời trị v́ của Henry VIII, thẩm quyền tối thượng trên Giáo hội Anh quốc được trao cho nhà vua. Từ thời Elizabeth I, danh hiệu này là “Thống đốc Tối cao” (Supreme Governor) thay v́ là “Đầu” của giáo hội. Trong thực tế nhà vua chỉ trông chừng sự vận hành của bộ máy hành chánh của giáo hội và bổ nhiệm các tân giám mục khi cần thiết. Ngày nay, chức trách này được giao cho Thủ tướng. Các giáo hội Anh giáo bên ngoài nước Anh không có mối quan hệ nào với quân vương nước Anh, tuy vẫn nh́n nhận Tổng giám mục Canterbury là nhà lănh đạo của Cộng đồng Anh giáo trên toàn thế giới, mặc dù chức vụ này vẫn được bổ nhiệm bởi vương quyền Anh quốc (trong thực tế, bởi thủ tướng Anh).

Gần đây, bên trong Cộng đồng Anh giáo xuất hiện một số ư kiến yêu cầu thay đổi thể chế của Cộng đồng sao cho vị trí lănh đạo Cộng đồng không được chọn lựa từ nước Anh, nhưng được bầu chọn bởi các giáo hội thành viên của Cộng đồng. Song, chưa có dấu hiệu nào cho thấy sẽ có cải tổ về thể chế, trong khi nguy cơ về một sự phân hoá nghiêm trọng bên trong cộng đồng là gần kề khi Giáo hội Episcopal (Anh giáo) tại Hoa Kỳ, vào ngày 2 tháng 11 năm 2003, tấn phong giám mục cho một người đồng tính luyến ái công khai, linh mục Gene Robinson thuộc giáo hạt New Hampshire, đă dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ từ các giáo hội Anh giáo tại nhiều nơi trên thế giới, với sức mạnh chủ đạo đến từ các nước châu Phi, nơi Anh giáo, trái ngược với t́nh trạng suy thoái của giáo hội tại Hoa Kỳ và Âu châu, đang trên đà phát triển cả về số lượng và ảnh hưởng. [1]

Anh giáo thường được đồng nhất với Giáo hội Anh quốc, nhưng trong thực tế các giáo hội Anh đang có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trong một số nơi (Hoa kỳ, Tô Cách Lan) Anh giáo được biết đến với tên Episcopal, từ tiếng Latin episcopus, “giám mục”, có nguồn gốc Hi văn, nghĩa là “người quản lư”. Tên gọi này ngụ ư giáo hội được quản trị theo thể chế giám mục.

Mỗi giáo hội cấp quốc gia được đặt dưới quyền lănh đạo của một Tổng Giám mục, hoặc Giám mục trưởng (Presiding Bishop) như trong trường hợp của giáo hội Episcopal tại Hoa Kỳ. Giáo hội quốc gia được chia thành các giáo hạt, thường tương ứng với địa gới hành chính của các tiểu bang hoặc các tỉnh.
Các chức sắc giáo hội được phân định theo ba chức vụ được tấn phong: Chấp sự (Deacon), Linh mục (Priest) và Giám mục (Bishop). Không có yêu cầu sống độc thân cho các chức vụ này. Tại hầu hết các giáo hội, phụ nữ có thể được phong chức chấp sự, trong nhiều giáo hội khác, phụ nữ có thể đảm nhiệm chức vụ linh mục, và trong một số giáo hội, có thể được tấn phong giám mục. Những ḍng tu đă bị huỷ bỏ trong thời kỳ cải cách bắt đầu được phục hồi kể từ thời trị v́ của nữ hoàng Victoria.
Reply With Quote