| Thần học
Anh giáo đặt thẩm quyền của ḿnh trên Kinh Thánh, Truyền thống và Lư trí. Trong khi có một số người cho rằng cả ba đều có giá trị ngang nhau, th́ giáo lư chính thức của Anh giáo luôn luôn đặt Kinh Thánh vào vị trí tối thượng. Anh giáo nh́n xem Kinh Thánh, ba bản tín điều của hội thánh chung (Tín điều Nicene, Tín điều Các Sứ đồ và Tín điều Athanasian), cùng với bản Ba mươi chín Tín điều và Kinh Cầu nguyện chung (năm 1662) của Anh giáo là chuẩn mực căn bản cho thần học Anh giáo. Đặc điểm
Trong cộng đồng Cơ Đốc giáo, Anh giáo được biết đến với tính đa dạng về thần học và giáo nghi. Các cá nhân, nhóm, giáo xứ, giáo hạt hay giáo hội quốc gia có thể chọn lựa hoặc nối kết với truyền thống và thần học Công giáo hoặc chọn hướng ngược lại, đồng hành với các nguyên tắc của cuộc Cải cách.
Một số tín hữu Anh giáo tuân giữ các nghi thức sùng kính của Công giáo La mă như lần hạt cầu kinh, cầu khấn với các thánh. Một số khác đặt tin tưởng vào các sách thứ kinh (deuterocanonical) trong Kinh Thánh, mặc dù giáo lư Anh giáo dạy rằng những sách này nên được đọc trong nhà thờ v́ mục đích giáo huấn đạo đức, nhưng không nên dùng cho việc lập thuyết.
Về phần ḿnh, những tín hữu Anh giáo nhấn mạnh đến bản thể Kháng Cách của giáo hội, tập chú vào các tiêu chí của cuộc Cải cách về sự cứu rỗi bởi ân điển của Thiên Chúa qua đức tin của tín hữu, hai thánh lễ của Phúc Âm (Báp têm và Tiệc Thánh), và Kinh Thánh chứa đựng mọi điều cần thiết cho sự cứu rỗi.
Sự phân hóa bên trong giáo hội lên đến đỉnh điểm trong thế kỷ 19 khi phong trào Công giáo Anh (Anglo-Catholic) nhấn mạnh vào khía cạnh Công giáo, và phong trào Tin Lành (Evangelical) tập chú vào phương diện Cải cách của giáo hội. Hai nhóm này thường được gọi là “Thượng giáo hội” và “Hạ giáo hội”, ngụ ư về cung cách hành lễ của mỗi nhóm trong nghi thức thờ phụng (“Thượng giáo hội” quan tâm đến tính uy nghiêm, trang trọng của nghi thức, trong khi “Hạ giáo hội” thích chọn lựa các nghi thức đơn giản, và xem nghi thức là một cách biểu trưng cho tấm ḷng).
Tuy nhiên, hầu hết tín hữu Anh giáo quyết định tự giữ ḿnh để không bị lôi cuốn vào hai cực này, họ thường nhấn mạnh rằng, Anh giáo, cần được hiểu theo ư nghĩa chính xác, là con đường trung dung của Cơ Đốc giáo, đi giữa Công giáo và Kháng Cách. Các ḍng tu
Ngay sau thời kỳ phục hưng của phong trào Công giáo, là sự xuất hiện và phát triển của các ḍng tu, được thành lập cho những hoạt động từ thiện. Khởi phát từ thập niên 1840 và kéo dài trong thế kỷ sau, các ḍng tu có mặt tại Anh quốc, Hoa kỳ, Canada, Ấn Độ cũng như tại các quốc gia xa xôi khác ở Phi châu, Á châu và khu vực Thái B́nh Dương.
Các tu sĩ và nữ tu dâng hiến đời ḿnh cho Thiên Chúa theo lời thệ nguyện sống nghèo khổ, trinh bạch và vâng phục, dành trọn th́ giờ cho các hoạt động tôn giáo và phục vụ người nghèo.
Kể từ thập niên 1960, có sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và qui mô các ḍng tu trên toàn thể Cộng đồng Anh giáo. Nhiều ḍng tu lớn từng hoạt động tại nhiều nước nay chỉ c̣n lại một tu viện với một ít tu sĩ hay nữ tu già yếu. Số người xin gia nhập các ḍng tu là rất ít, và một số ḍng tu nay không c̣n hiện hữu.
Dù vậy, ngày nay vẫn c̣n có vài ngàn tu sĩ đang hoạt động tại khoảng 200 tu viện trên khắp thế giới.
Điều gây ngạc nhiên là sự phát triển số lượng tu sĩ và nữ tu tại những nơi như Quần đảo Solomon, Vanuatu và Papua Tân Guinea. Tại đây những tu sĩ và nữ tu thường ở độ tuổi từ 20 đến 25, trẻ hơn độ tuổi trung b́nh của các đồng lao của họ tại những nơi khác trên thế giới từ 40 đến 50 năm.
|