| Tư tưởng Bát Nhă tâm Kinh Tiến sĩ Phật học Thích Thanh Quyết Bát nhă Ba La mật đa Tâm kinh gọi tắt là Bát nhă Tâm kinh hoặc Tâm kinh gồm 1 quyển. Năm Trinh Quán thứ 23 (649) Đường Huyền Trang (600–664) dịch từ Phạn văn ra Hán văn, Sa môn Trí Nhân ghi chép lại. Hiện tồn bản dịch sớm nhất do Cưu Ma La Thập (343-413) dịch gọi là Ma ha Bát nhă ba la mật đa Tâm kinh, gồm 1 cuốn. Từ đó tới nay Tâm kinh được truyền dịch tại Trung Quốc ít nhất là 21 lần. Các cao tăng học giả xưa nay chú, sớ kinh này nhiều không kể xiết. Được ghi chép trong Đại Tạng Kinh hơn 80 loại(1). Song lưu hành rộng răi nhất vẫn là Bát nhă Tâm kinh do Huyền Trang dịch, toàn kinh gồm 260 chữ. Xưa nay tụng niệm hoặc chú giải đều dựa theo bản dịch này. Chữ “Tâm” trong Tâm kinh vốn chỉ trái tim, nghĩa mở rộng chỉ những điều tinh tuư, cốt tuỷ, bí mật. V́ thế xưa nay thường dịch là Chú. Tâm kinh ngôn giản ư rộng, thống nhiếp ư nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cốt yếu của các kinh Bát nhă. V́ nó hiển thị ra nội dung và tinh thần quan trọng nhất của bộ kinh này, cho nên gọi là Tâm kinh. Vốn tại thời kỳ Đại thừa Phật giáo phát triển rực rỡ, các kinh điển sản sinh rất nhiều. Trừ kinh Vô Lượng Thọ đại biểu cho tín ngưỡng Tịnh độ, kinh Pháp Hoa đại biểu cho đức từ bi của Phật Đà, nhưng đáng được chú ư lại là các kinh điển thuộc loại Bát nhă. Bát nhă dịch là Trí tuệ, tức là loại trí tuệ dùng để hoá trừ vô minh, vọng chấp của bản thân, dùng để chứng chân lư một cách chân thực. Điều mà Phật giáo cho là giải thoát chân chính, không thể toàn bộ nương nhờ, dựa dẫm vào sự cứu độ của Phật và Bồ Tát. Phật và Bồ Tát cứu độ chúng sinh cốt ở chỗ các vị thuyết pháp, dùng vô lượng phương tiện thiện xảo để dẫn dắt chúng sinh, khiến chúng sinh ĺa xa chấp trước. Chúng sinh muốn đạt tới cảnh giới “bất trước” này, cần phải tự khai ngộ, muốn chứng đắc tự tâm khai ngộ, chỉ có thăng tiến, đề cao trí tuệ mới hoá giải được vọng chấp. Tất cả các hoạt động dạy và học, các sự tu tŕ của giới và định, đều là để hướng tới mục tiêu đạt được trí tuệ này. Đại thừa Phật giáo cho rằng có 6 loại thực tiễn gọi là “Lục độ”, cũng gọi là “Lục độ ba la mật đa”; bao gồm: bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ. “Ba la mật đa” dịch là hoàn thành (người xưa dịch là đến bờ bên kia, tức bờ giác), giai đoạn cuối của thực tiễn tu tŕ Phật giáo Đại thừa, chính là sự hoàn thành của hoạt động trí tuệ. V́ thế “Bát nhă ba la mật đa” là sự triệt để quy túc (quy tụ). Bỏ cái này th́ sẽ không có bất cứ một tính thực tiễn nào. “Bát nhă ba la mật đa” trong lư tưởng thành Phật có vị trí rất đặc thù, vô cùng quan trọng. V́ thế các kinh điển dùng nó làm chủ đề càng ngày càng nhiều, h́nh thành nên các kinh điển thuộc loại Bát nhă. Kinh điển thuộc hệ thống Bát nhă biên soạn sớm nhất là Bát thiên tụng Bát nhă kinh, tiếp theo có Nhị vạn ngũ thiên tụng Bát nhă kinh, Thập vạn tụng Bát nhă kinh, Kim cương Bát nhă kinh, Lư thú Bát nhă kinh v.v... Song lưu hành rộng răi nhất, được các học giả hoan nghênh nhất chính là Tâm kinh. Kinh này như trên đă nói bản dịch rất nhiều, tại Trung Quốc hiện c̣n 9 loại dịch bản khác nhau. Theo khuôn khổ phân làm 2 loại: Quảng và Lược. Lược bản chỉ có phần Chính tông mà khuyết phần Tựa và phần Lưu thông. Quảng bản th́ đủ cả 3 phần: Tựa, Chính văn, Lưu thông. Kết cấu của toàn kinh, trước hết thuyết minh rơ Năng quán trí, sau biện minh Sở quán cảnh, sau nữa hiển minh Sở đắc quả, cuối cùng tán thán Đại minh chú, song nói chung chủ yếu vẫn là làm sáng tỏ 3 phần trên: Năng quán trí, Sở quán cảnh, Sở đắc quả. Năng quán trí tức hiểu sâu Bát nhă, đoạn đầu Tâm kinh nói: “Bồ tát Quán Tự Tại, lúc thực hành sâu Bát nhă ba la mật đa, quán chiếu thấy ngũ uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức đều không, cứu độ hết thảy khổ ách”, đó chính là tổng cương lĩnh của toàn bộ Tâm kinh. Tất cả nghĩa lư sâu xa của Tâm kinh, thậm chí nghĩa lư của toàn bộ Phật pháp, đều nằm trong câu này, mà câu đầu “Quán Tự Tại Bồ Tát” đây là cương yếu trong cương yếu. “Quán” là quán chiếu, là dùng trực quán Bát nhă soi thấu các pháp, thấy rơ tự tính của các pháp đều là “không tính” từ đó mà chứng đắc được tự tại giải thoát. “Quán Tự Tại Bồ tát” chính là bậc Đại Bồ tát dùng tuệ nhăn Bát nhă sâu sắc để quán chiếu thực tướng của vũ trụ và nhân sinh. Ngay trong lúc thâm nhập thực quán Bát nhă, có thể từ trong cảnh ô uế, phiền năo này mà thẳng đến cảnh giới thanh lịnh tốt lành của bờ giác bên kia. “Quán Tự Tại” cũng không nhất định đặc chỉ Đức Quán Thế âm Bồ Tát. Chỉ cần người có đủ trí tuệ đạt ngộ, quán chiếu vạn pháp mà tâm vẫn tự tại, không bị vạn pháp lôi kéo đó chính là “Quán Tự Tại”(1). Trí tuệ đó có thể “Quán chiếu thấy ngũ uẩn đều không”, đó chính là “thâm sâu Bát nhă”. Bát nhă tiếng Phạn là Prajna tạm dịch là “trí tuệ”, trong các kinh văn thường không dịch là “Trí tuệ” mà vẫn bảo lưu âm Phạn, chính là v́ “Trí tuệ” chỉ là dịch rơ ra một bộ phận ư nghĩa của chữ “Bát nhă”, mà không thể thay thế toàn bộ ư nghĩa sâu xa của Bát nhă. “Bát nhă” bao gồm 3 tính chất, một là Thực tướng Bát nhă. Thực tướng là tướng chân thực, tướng như thực của các pháp, ĺa nhất thiết danh ngôn khái niệm, hư vọng, phân biệt, song lại có đầy đủ nhất thiết tướng. Hai là, Quán chiếu Bát nhă tức dùng Bát nhă để quán chiếu đương thể thực tướng của vạn pháp. Ba là, Văn tự Bát nhă, tức nhờ vào việc dùng văn tự, ngôn ngữ để chỉ dạy dẫn dắt chúng sinh, khiến họ khai ngộ. Trong đó Văn tự Bát nhă là cảnh giới thân chứng của Đại thừa Bồ Tát. Tóm lại, Bát nhă là trí tuệ vô phân hiệt, siêu việt đối đăi, xa ĺa hết thảy vọng tướng, phủ nhận hết thảy nhận thức sai biệt của thế tục, là trí tuệ hiểu thấu thẳng tới nhận thực tự tính của vạn pháp đều là tính không. Tiếp theo là biện minh Sở quán cảnh tức hiển thị thực tướng các pháp chính là không tướng. Ở đây chính là phá trừ uẩn, xứ, giới, duyên sinh, tứ đế, trí, đoạn trừ pháp chấp. Cuối cùng là hiển thị Sở đắc quả, trước hết đắc quả Niết bàn, sau là đắc quả Bồ đề. Hiển lộ rơ thập phương chư Phật đều nhờ có “hành thâm Bát nhă” mà đắc quả thành Phật. Vừa rồi (đoạn trên) đă giải thích rơ Năng quán trí. Nay tiếp tục giải thích Sở quán cảnh và Sở đắc quả. |