View Single Post
  #2 (permalink)  
Old 12-16-2008, 10:34 PM
CuongV's Avatar
CuongV CuongV is offline
Member
 
Join Date: Aug 2008
Posts: 63
1. Ư nghĩa “Ngũ uẩn đều không” của Bát nhă không quán:

Hàng Bồ tát thâm nhập trực quán Bát nhă sẽ quán chiếu thấy “Ngũ uẩn đều không” đây chính là yếu chỉ của Tâm kinh. “Ngũ uẩn” bao gồm 5 yếu tố sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Tức bao gồm tất cả các yếu tố vật chất và tinh thần để tạo ra vạn pháp. Nếu tại “Ngũ uẩn” này thấy rơ bản chất của chúng đều là không có tự tính, tức là nhận thức được tính không của vạn pháp. “Ngũ uẩn” lại gọi là “Ngũ ấm” hoặc “Ngũ tụ”. Nghĩa của “uẩn” là tích tụ, tức là tổng tích tụ của một loại nào đó. Trong “Ngũ uẩn” th́ “sắc uẩn” là bao gồm tất cả các hiện tượng vật chất. Bốn uẩn khác: thụ, tưởng, hành, thức thuộc hiện tượng tinh thần. “Sắc” trong “Sắc uẩn” có 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là chất ngại, tức những chướng ngại, trở ngại do vậl chất gây ra. Nghĩa thứ hai là biến hoại tức không vĩnh hằng tồn tại. “Sắc” bao gồm 11 loại: “Ngũ căn” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tức năng lực của nhận thức, “Ngũ cảnh” là đối tượng của “Ngũ căn” tức đối tượng của nhận thức, c̣n gọi là “Ngũ trần” (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và “Vô biểu sắc”. “Vô biểu sắc” là khi thụ giới, lấy cái thân, khẩu, biểu nghiệp khoẻ mạnh làm duyên, toàn thân là một loại sắc thể của tứ đại tạo thành. Sắc thể này có công năng pḥng ngừa sự sai trái và tội ác. V́ luôn luôn pḥng ngừa sự sai trái và tội ác của thân, khẩu cho nên dùng nó làm giới thể. V́ nó không biểu hiện ra ngoài bằng h́nh tướng cụ thể nên gọi là “Vô biểu”. Sở dĩ gọi là “sắc” v́ nó do tứ đại: đất, nước, gió, lửa trong thân sinh ra, không giống các sắc thông thường khác. Đây cũng là một loại hiện tượng tinh thần. Sách Đại thừa Ngũ uẩn luận nói: “Thế nào là sắc uẩn? Nghĩa là tứ đại và những thứ đo tứ đại tạo ra như đất, nước, gió, lửa và bốn tính như cứng, ướt, nóng, động. Sở dĩ gọi nó là “Đại” v́ chúng tồn tại khắp trong bất cứ một vật thể nào. “Ngũ căn”, “Ngũ cảnh” là năm loại năng lực cảm giác và năm loại đối tượng bị cảm xúc tới, bị cảm giác tới.

Về vấn đề hoạt động tâm lư tức hiện tượng tinh thần, Phật giáo chia làm 4 yếu tố lớn: thụ, tưởng, hành, thức. “Thụ” là lúc chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh, trong nội tâm sinh ra một loại tác dụng có ư nghĩa lĩnh nạp cảm thụ. “Thụ”' có “khổ thụ”' và “lạc thụ”, tức là chỉ cảm giác khổ, vui về mặt tinh thần khi mà các khí quan của thân tâm tiếp xúc với ngoại giới. Ngoài ra c̣n có một cảnh giới trung dung, khiến cho người có cảm giác không khổ, không vui gọi là “xả thụ”.

“Tưởng uẩn” là chỉ tất cả những quan niệm, biểu tượng, cho đến khái niệm của sự phản ánh do những yếu tố sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp... cấu thành. Tức là tác dụng của tưởng.

“Hành uẩn” nghĩa chính là tạo tác, tương đương với các hoạt động tư duy như động cơ, ư chí, ư muốn, ư hướng vv... ư chí của hành uẩn sẽ sản sinh ra nghiệp quả.
“Thức uẩn” là sự tổ hợp của tri giác, là năng lực nhận thức thông qua các khí quan cảm giác đối với cảnh mà nhận thức, nhận biết sự vậl và hiện tượng. Trên thực tế đó chính là tác dụng nhận thức của căn và trần tiếp xúc với nhau mà sản sinh ra, tức là “lục thức”. V́ “Ngũ uẩn” là cái pháp do nhân và duyên hội tụ với nhau mà sinh ra. Mà phàm là phép do nhân và duyên sinh ra, đều không có thực thể, tức là không có một thực thể cố định, trường tồn bất biến nào. Nếu như tách ĺa “Ngũ uẩn” này để t́m một cái thực thể tự ngă, là không bao giờ có. Vào thời Đường tại Trung Quốc hai ngài Pháp Nguyệt và Trí Tuệ Luân đă dịch “Ngũ uẩn giai không” thành “ngũ uẩn tự giai không”. “Tự tính” chính là tính thực thể độc tồn bất biến. Tính thực thể này không thể dùng những khí quan thông thường mà có thể dễ dàng nhận thức được, nắm bắt được, cho nên gọi là “đều không”, tức “thực tướng” không chịu sự khống chế của bấl cứ nhân duyên nào, v́ nó không có tự tính. Tất cả các yếu tố để cấu thành “Ngũ uẩn” bản thân cũng là “không”, “vô tự tính”. Cho nên tất cả sự khổ nạn, những nỗi thống khổ của thế gian đều là những pháp do nhân duyên sinh ra thảy đều không, rốt cuộc không. Nếu như chúng ta thể nghiệm, quan sát sự vật hiện tượng và bản thân như vậy sẽ độ thoát được tất cả khổ ách của ta và chúng sinh–“độ nhất thiết khổ ách”. Những “khổ ách” trên không ngoài hai thứ: thuộc về bản thân th́ có sinh, lăo, bệnh, tử; thuộc về bên ngoài th́ có ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ v.v... Căn nguyên của tất cả khổ ách này chính là v́ chúng sinh luôn coi bản thân ḿnh có tính thực thể trường tồn. Luôn lấy ḿnh làm tiền đềc, “khổ ách” v́ thế mà sản sinh ra. Nếu như chúng ta thông đạt, hiểu thấu tự tính của vạn pháp là không, vô ngă như thế sẽ không có bất cứ khổ ách nào rồi.

Tóm lại, Phật giáo nói con người là do “Ngũ uẩn” hoà hợp mà sản sinh ra, tức là sự thống nhất hài hoà giữa cái hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật chất, hoặc là sự thống nhất giữa thân và tâm. Mục đích của Phật giáo là “Ngũ uẩn” hoà hợp sinh ra con người và vạn pháp chính là ở chỗ phá trừ “chấp ngă” tức phá trừ sự chấp trước coi “tâm” là ngă hoặc bản ngă. Tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa Hữu bộ cho rằng: con người do “Ngũ uẩn” hoà hợp mà có, về mặt bản chất là “không” nghĩa là không có tự tính, từ đó kiến lập ncn quan niệm “Nhân vô ngă”. Tư tưởng của Phật giáo Đại thừa tiến thêm một bước cho rằng: “Ngũ uẩn” bản thân cũng là không. V́ bản thân mỗi “uẩn” cũng là do nhiều yếu tố nhỏ bé khác tạo nên, như vậy sẽ kiến lập nên quan niệm “pháp vô ngă”.
Reply With Quote