|
2. Ư nghĩa của “sắc không tương tức” trong tư tưởng Bát nhă không quán
“Ngũ uẩn giai không” của Bát nhă không quán cốt ở chỗ sau khi phá trừ hai chấp “nhân vô ngă” và “pháp vô ngă”, nhưng lại sợ rằng phá trừ chấp “hữu” lại dễ đắm ch́m, sa lầy vào chấp “không”. Cho nên Bát nhă Tâm kinh được coi là đề cương của Kinh đại Bát nhă đă tiến sâu thêm một bước, làm cho người tu Phật, học Phật không được chấp “hữu” và không được chấp “không”; (Hữu c̣n gọi là sắc, v́ sắc là sự tồn tại hiện hữu của vạn pháp), đó chính là ư nghĩa “Sắc không tương tức” của tư tưởng Bát nhă không quán. Kinh nói:
“Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; Sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng giống như thế”
Cặp phạm trù triết học Phật giáo “sắc, không” là tối quan trọng trong tư tưởng Bát nhă không quán. “Sắc” là chỉ tất cả vạn vật do nhân duyên hoà hợp mà tồn tại. Sự vật mà do nhân duyên hoà hợp mà tồn tại th́ tự tính của nó không độc lập, không vĩnh hằng tồn tại, cho nên nói tự tính của nó là “không”. “Không” là chỉ vạn vật tuy có h́nh tướng, song xét về thực tướng của chúng th́ không có vật nào không phải là giả tướng do nhân duyên hoà hợp mà thành. Khi chân thể (bản thể chân thực) được hiển hiện ra th́ vạn tướng đều “không tịch”, cho nên nói “Sác chẳng khác không” nhưng “không” ở đây không phải là không đoạn diệt, không cứng nhắc, không tuyệt đối mà là “chân không” là bản thể của “sắc uẩn”. “Bất dị” (chẳng khác) ở đây có ư nghĩa không khác biệt, không xa ĺa. Nếu “sắc” mà ĺa “không” th́ không bao giờ có “sắc”. Nếu “không” mà ĺa “sắc” vĩnh viễn không bao giờ có “không”, tức là “không” chỉ tồn tại trong “sắc” và “sắc” chỉ hiển hiện trong “không”. “Không sắc”, “sắc không” hai cái này không ĺa nhau, nó là hai mặt của một vấn đề nằm trong một chỉnh thể thống nhất, không thể độc tồn, bỏ cái này th́ cái kia tự mất. Có cái này tồn lại tức khắc cái kia sẽ tồn tại. Cho nên nói “không chẳng khác sắc”. Nói một cách đơn giản rằng: “sắc” tuy hiển hiện một cách rơ ràng nhưng lại không có thực thể, không có tự tính, cho nên “sắc chẳng khác không”, tuy nhicn không có thực thể mà hiển hiện, rơ ràng, cho nên nói “không chẳng khác sắc”.
Trong kinh nói “bất dị” (chẳng khác) vẫn có hàm nghĩa “tương đẳng” (ngang nhau) trên quan niệm vẫn có sự tồn tại một cách tương đối giữa “sắc” với “không”. V́ thế trong kinh văn lại dựa trên cơ sở “không sắc bất dị” (không sắc chẳng khác) thuyết minh sâu thêm sự tuyệt đối giống nhau, ngang hàng nhau của “sắc không”, chỉ ra hết thảy “sắc” đều là biểu hiện của giả tướng, lại không phải là sau khi “sắc” diệt mới là “không”, mà là bản thân của “sắc” chính là “không”, v́ chúng không có tự tính tồn tại một cách vĩnh hằng, một cách chân thực. Nó là “giả hữu”, “huyền hữu” mà không phải “thực hữu”'. Cho nên ngay thể của nó chính là “không” (đương thể tức không).(2)
Cũng như thế, thụ, tưởng, hành, thức đều là pháp hữu vi, do nhân duyên hoà hợp mà sinh ra. Đă là pháp do nhân duyên tạo ra th́ thể tính của chúng là vô tính, là không thể nắm bắt được tức là “không”. Mặt khác, thụ, tưởng, hành, thức do nhân duyên hoà hợp mà tồn lại, chúng cùng với “không” là hai mặt của một thể cho nên “tương tức” với “không” nghĩa là thụ, tưởng, hành, thức tức là “không”, “không” tức là thụ, tưởng, hành, thức. Thụ, lưởng, hành, thức chẳng khác “không”, “không” chẳng khác thụ, tưởng, hành, thức v.v... cho nên kinh nói “thụ, tưởng, hành, thức cũng giống như vậy”(3). Cho nên nói, không có một cái “không” nào ĺa khỏi “sắc” mà được tồn tại, cũng không có một cái “sắc”, nào ĺa khỏi “không” mà được tồn tại. Từ đó mà chúng ta phải nhận thức và tu tập được trong thế giới sinh diệt có bất sinh bất diệt, trong cảnh sinh tử có Niết bàn Bồ Đề. Căn cứ vào luận điểm này, Thiền Tông đă đưa ra rất nhiều mệnh đề nổi tiếng để áp dụng khi lập Thiền như: “Tức tục nhi chân” (Tục mà là chân), “Tức thế nhi xuất thế” (thế gian mà lại xuất thế gian), “Sinh tử tức Niết bàn” (cơi sinh tử tức là cơi Niết bàn), “Phiền năo tức Bồ Đề” (trong cảnh phiền năo mà nhận thức ra th́ 1à Bồ Đề) v.v...
|