View Single Post
  #4 (permalink)  
Old 12-16-2008, 10:35 PM
CuongV's Avatar
CuongV CuongV is offline
Member
 
Join Date: Aug 2008
Posts: 63
3. Ư nghĩa “chư pháp không tướng” của Bát nhă không quán.

Như trên đă tŕnh bày, Tâm kinh trước tiên phá trừ hai chấp trước “nhân ngă chấp” và “pháp ngă chấp” cho nên hiểu rơ “Ngũ uẩn giai không”, nhưng lại sợ ngườí tu hành bỏ chấp “hữu” lại quay ra chấp “không”, hoặc coi “không” và “sắc” là hai mặt tách biệt nhau, đối lập nhau. Cho nên lại giảng “không sắc tương tức”. Tức hết thảy pháp đều là từ nhân duyên hoà họp mà sinh, tự tính của nó là vô tự tính gọi là “không”. “Không” và “sắc” là “tương y tương thành” tức là dựa vào nhau mà cùng tác thành cho nhau. Điều này không thể dùng ngôn ngữ và nhận thức thô thiển mà có thể nói ra được, nhận thức được. Cho nên Tâm kinh dùng một loạt từ phủ định để nói rơ “tính không” của nó. Đồng thời cũng là thông qua sự vạch ra, hiển lộ trên mà tiến hành phá trừ một cách sâu sắc, tuyệt đối “pháp vô ngă”. Kinh nói: “Xá Lợi Tử, các pháp đó không tướng, không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm v́ thế trong “không” không có sắc, không có thụ, tưởng, hành, thức (Ngũ uẩn). Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư (lục căn). Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (lục trần). Không có nhăn giới cho đến không có ư thức giới (lục thức). Không có vô minh cũng không có chuyện hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có chuyện hết già chết (12 nhân duyên). Không có khổ, tập, diệt, đạo (tứ đế). Không có trí cũng không có chuyện đắc”.

Ở đây ta thấy Tâm kinh giảng rơ các pháp không tướng, tức các pháp tính không. Tiếp theo lại giảng rơ Thập nhị xứ tính không, Thập bát giới tính không, Thập nhị nhân duyên tính không, Tứ đế tính không, năng chứng và sở chứng, năng đắc và sở đắc đều tính không... v́ trong Tâm kinh nói “vô sở đắc”. Trung luận quyển 3 nói “pháp do nhân duyên sinh, ta nói tức là không, cũng chỉ là giả danh, đó là nghĩa Trung đạo. Chưa từng có một pháp, không từ nhân duyên sinh, v́ thế hết thảy pháp, pháp nào cũng là không”.

Tâm kinh trước hết dùng “Lục bất” để phủ định bất cứ đặc tính nào của các pháp, v́ thể tính của các pháp là không tính. Cho nên không thể dùng bất cứ một tính chất nào để miêu tả nó. Hơn nữa “tính không” là “vô sở đắc”, cho nên bất cứ một sự miêu tả nào, dùng bất cứ một thứ ngôn ngữ nào, tiến hành bất cứ một phương thức tư duy nào để tư duy, nhận thức đều không bao giờ đạt tới, không bao giờ nhận thức tới. Mà chỉ có thể dùng h́nh thức phủ định để phủ định mọi sự chấp trước của nhận thức thế gian, từ dó mới có thể tự ḿnh thể nghiệm một cách sâu sắc đến “tính không” của vạn pháp. “Các pháp đó không tướng, không sinh, không diệt...” ở đây “không tướng” cũng chính là “không tính” tức “tính không” v́ như trên đă tŕnh bày các pháp do nhân duyên sinh ra, không có tự tính riêng biệt, không có tướng trạng vĩnh tồn. Trí độ luận quyển 6 nói rằng: “Các pháp do nhân duyên sinh, đó gọi là không tướng, cũng gọi là giả danh, cũng gọi là Trung đạo”. Ta thấy một khi nhận thức được vạn pháp tính không, tướng không th́ nhận thức đó gần cận đến Trung dạo. V́ các pháp chỉ là nương vào nhân duyên mà tồn tại, chưa từng có sinh, cho nên chưa từng có diệt. Kinh Duy Ma Cật, phẩm Bất nhị pháp môn nói: “Pháp vốn không sinh nay sẽ không diệt”. Ta thấy “bất sinh bất diệt” chính là tên khác của “Thường trụ”. Cặp phạm trù “sinh diệt” này trong Phật giáo vô cùng quan trọng. Trung luận quyển 1 nói: “Không phải sinh cũng không phải diệt, không phải hằng thường cũng không phải gián đoạn, không phải đồng nhất cũng không phải sai khác, không đến cũng không đi... là đệ nhất trong các pháp”. “Sinh diệt” là pháp hữu vi, v́ chúng do nhân duyên giả hoà hợp mà có, tự tính của nó là vô tự tính “không”, “bất sinh bất diệt”. “Bất sinh bất diệt” chính là một cặp phạm trù nói rơ nhất về “chân không vô tướng”. Người tu hành chứng nhập được lư không tính, không tướng này sẽ xa rời và siêu việt tất cả các cặp phạm trù có ư nghĩa đối đăi như: sinh diệt, cấu tịnh, tăng giảm v.v... Nói cách khác, tất cả các pháp “sinh diệt”, “cấu tịnh”, “tăng giảm” v.v... đều nhờ nhân duyên mà có, “vô sở đắc” tức vô sở chấp trước, vô sở phân biệt cho nên tự tính của chúng là không tính.

Thứ hai Tâm kinh tiến hành phủ định mười hai xứ và mười tám giới. Coi tất cả mọi hiện tượng, mọi nhận thức của vũ trụ vạn vật tổng phân làm “năng thủ”' và “sở thủ” tức nhận thức năng lực và nhận thức đối tượng. “Năng thủ” bao gồm lục căn (nhăn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ư). “Sở thủ” bao gồm Lục cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Bởi chúng sinh lấy “lục thức” phan duyên “lục cảnh” mà nhiễm ô “lục căn” cho nên gọi là “lục trần”. “Căn” ở đây có nghĩa là khả năng sinh sản, làm tăng thêm lên, như rễ cây có sức tăng trưởng, mọc ra các cành, như nhăn căn có sức mạnh có thể sinh ra khả năng nhận thức của mắt. Sách Đại thừa nghĩa chương quyển 4 nói: “Có khả năng sinh ra th́ gọi là căn”. “Cảnh” chính là nói tâm vin vào đó mà chạy theo, ví dụ “sắc” là nhăn thức vin vào đó gọi là “sắc cảnh”, “pháp” là nơi ư thức vin vào đó gọi là “pháp cảnh”. Phật giáo cho rằng: Sở dĩ người ta có thể sinh ra các loại nhăn thức là v́ bên trong có “lục căn”, bên ngoài có “lục trần”. Trong đó “pháp” là điều nhận thức của “ư căn”, là đối tượng của nội tâm. Ví dụ lúc là tai không nghe, mắt không nh́n thấy, song các loại cảnh giới mà nội tâm phan duyên tới gọi là “pháp trần”. Mọi hoạt động của nhận thức không rời “năng thủ” và “sở thủ”, mọi hoạt động của tinh thần đều nhờ vào nó mà sản sinh ra. “Căn”, “trần” hoà hợp th́ sinh ra “thức”. Tức sáu căn “năng thủ” và sáu trần “sở thủ” hoà hợp với nhau th́ sinh ra sáu thức, cộng thành mười tám thức. Sở dĩ sáu căn, sáu trần, sáu thức gọi là giới v́ chúng liên quan với nhau, nhưng mỗi cái tự có tác dụng, tự có sai khác, không lẫn lộn nhau. Nhưng sáu căn và sáu cảnh đều là duyên sinh, không phải là tự sinh, cho nên mười tám giới là do “căn”, “cảnh” và “thức” hoà hợp mà sinh ra cũng là chúng duyên hoà hợp mà có, bản thân không có tự tính, rốt cuộc không.

Ba là, Tâm kinh tiến hành phá trừ chấp trước của 12 duyên khởi. Kinh văn nói “không có vô minh, cũng không có chuyện hết vô minh; cho đến không có già chết, cũng không có chuyện hết già chết”.

Sở dĩ người tu hành chứng đạo có thể giải thoát sinh tử phiền năo chính là v́ họ nhận thức được phép tắc của 12 duyên khởi, họ nắm bắt được nguyên nhân của sự lưu chuyển đó. Phép duyên khởi ở trong ṿng lưu chuyển đó bản tính của nó là “không”, không có tính thực thể. Cho nên kinh nói: “Không có vô minh”, “không có lăo tử”. “Vô vô minh”, “vô lăo tử” đều nằm trong 12 duyên khởi của cửa hoàn diệt. Ta thấy sự sinh khởi của các hiện tượng, sự vật đều do nhân duyên. Sự diệt vong, li tán của các sự vật cũng đều bởi nhân duyên. Sinh và diệt đều là hiện tượng nhân quả. Cho nên pháp thanh tịnh trong cửa hoàn diệt cũng bởi duyên khởi, cũng là “không”, không có tự tính. Cho nên kinh nói: “Không có chuyện hết vô minh”, không có chuyện hết lăo tử. “Vô minh” và “lăo tử” là bao gồm toàn hộ cửa lưu chuyển của 12 đốt nhân duyên. Tức nó đại biểu cho tất cả sự vật sản sinh và phát triển. Xét về mặt hiện tượng chúng là có, có sự tồn tại, nhưng chỉ là giả có (giả hữu) chứ không phải thực có (chân hữu): tức tồn tại một cách tạm thời, không vĩnh hằng. “Vô minh tận”, “Lăo tử tận” là cửa hoàn diệt đại biểu cho 12 mắt xích nhân duyên. Song Tâm kinh nói “Vô vô minh tận”, “Vô Lăo tử tận” chính là muốn nói rơ cửa hoàn diệt và cửa lưu chuyển đều không có tự tính, rốt cuộc không, không có tướng sinh diệt cũng không có tưởng diệt tận của 12 nhân duyên.

Bốn là, Tâm kinh tiến hành phủ định “Tứ đế”. Nghĩa là lúc Bồ Tát thực hành sâu sắc trí tuệ Bát nhă th́ Quán chiếu thấy “Tứ đế” đều không. “Tứ đế” c̣n gọi là “Tứ Thánh đế”. “Tứ Thánh đế” đầy đủ hai tầng nhân quả, tức nhân quả thế gian (khổ, tập) và nhân quả xuất thế gian (diệt, đạo). Nhân quả của thế gian lấy khổ đế làm quả, tập đế làm nhân. C̣n nhân quả xuất thế gian th́ lấy diệt đế làm quả, đạo đế làm nhân. Xét thấy hai tầng nhân quả nhiễm tịnh này đều bởi các nhân duyên hoà hơp mà sinh ra cho nên không có tự tính, thảy đều là không.

Cuối cùng Tâm kinh tiến hành phủ định “năng chứng trí” và “sở chứng lư”. Kinh nói “vô trí diệc vô đắc”. “Trí” là năng quán, năng chứng; “đắc” là sở quán, sở đắc. Nếu xét từ góc độ của tư tưởng Bát nhă không quán vừa nói trên ta thấy “năng sở bất lập” cho nên năng chứng, sở chứng và năng quán, sở đắc đều là không v́ đều không có tự tính. Cho nên trong kinh dùng chữ “vô”.

4. Ư nghĩa liễu ngộ vô sở đắc của tư tưởng Bát nhă không quán

Như trên đă nói qua “vô sở đắc” tức đạt tới chân lư tối cao của bản thể vô tướng, trong tâm không hề có chỗ chấp trước, không hề có sự phân biệt. Không chấp trước, không phân biệt ở đây không có nghĩa là mù mờ vô phân biệt hoặc ngu vô phân biệt mà là “vô phân biệt trí”, tức đạt được trí tuệ xa ĺa tất cả mọi h́nh tướng, khái niệm, danh ngôn v.v... đạt đến cảnh giới nhận thức b́nh đẳng nhất như, như như. Trí tuệ này c̣n gọi là “Không tuệ”.

Xét từ góc độ Bát nhă không quán, tất cả mọi hiện tượng sự vật đều không có một tự tính riêng biệt cố định bất biến, tồn tại một cách vĩnh hằng. Tức tính của vạn pháp đều là không v́ chúng không có tự tính và “vô sở đắc”. Từ đó lại từ góc độ Bát nhă không quán mà nhận thức đến “Ngũ uẩn”, “Thập nhị nhân duyên”, “Thập nhị xứ”, “Thập bát giới”, “Tứ đế” v.v... đều chỉ là “giả hữu tính không” v́ thế nên xa ĺa “ngă chấp” và “pháp chấp” để đạt tới thực sự giải thoát.

Tóm lại, Bát nhă Tâm kinh tuy chỉ vẻn vẹn 260 chữ đă thâu tóm toàn bộ từ tư tưởng Phật giáo Nguyên thuỷ đến tư tưởng Phật giáo Đại thừa, đă giải quyết triệt để những tư tưởng then chốt nhất của đạo Phật. Trải qua ngót hai ngh́n năm nay, kinh này đă được các học giả, các Phật tử xuất gia cũng như tại gia trên thế giới chú giải, phân tích, tán thán v.v... đặc biệt là truyền tụng và áp dụng vào việc tập Thiền, cho nên mỗi câu kinh đều trở thành những Thiền ngữ hoặc Thiền công án. Phật tử Việt Nam đặc biệt là người xuất gia xưa nay không ai là không thuộc, coi đó là những bài kinh đầu tiên khi bước vào cửa Thiền. Từ đó truyền lụng suốt đời. Song hiểu kinh này một cách rốt ráo theo đúng tư tưởng của Phật giáo Đại thừa th́ c̣n phải chọn lọc. Kinh này không chỉ lưu truyền rộng răi ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v... mà hiện nay c̣n lưu truyền khá phổ biến ở các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Đức, Pháp v.v... Kinh này không chỉ được các học giả và các Phật tử phương Đông tiến hành nghiên cứu tu tập mà c̣n được các học giả, các nhà triết học, các nhà tư tưởng, các nhà tâm linh trên toàn thế giới nghiên cứu áp dụng. Từ đó, kinh này đă được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Triều Tiên, tiếng Tây Tạng, tiếng Mông Cổ, tiếng Pháp... chắc chắn kinh này sẽ vĩnh hăng tồn tại cùng với sự trường tồn của Phật pháp, sẽ vĩnh hằng phát huy tác dụng “độ nhất thiết khổ ách” cùng với những tác dụng, những giá trị triết học cao cả của Phật giáo xưa nay./.

Ghi chú:
(1) Tham khảo Bát nhă Tâm kinh dịch chú tập thành, Tiền ngôn, Phương Quảng Xương, nhà xă hội cổ tịch Thượng Hải xuất bản năm 1994
Xem Bát nhă ba la mật đa tâm kinh sớ của Tịnh Tuệ thời Đường và Bát nhă tâm kinh dịch chú lập thành tr.146
(2) Tham khảo Pháp tính không tuệ của Thái Hư Đại sư
(3) Trung luận quyển 4 (Bài này được đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4 năm 2002)

Source:Thu Vien Hoa Sen
Reply With Quote