|
Nhất-thiết-chủng-trí: Trí này rơ biết được hết thảy pháp đều là trung đạo, biết được đạo pháp của các Đức-Phật và hết thảy nhơn-chủng (chủng-tử khi tạo nhơn) của các loại chúng sanh, phá tan được vô-minh hoặc, thông-suốt thật-tướng của các pháp. Trí này tức là trí của Phật, do thành tựu Trung-quán mà có.
Chứng được ba trí trên này là nhờ tu ba pháp quán: không, giả, trung. V́ ba pháp quán này có cách-lịch, viên-dung khác nhau, nên khi chứng được ba trí cũng có thứ lớp và không thứ lớp khác nhau. Ba trí có thứ lớp, nghĩa là thành-tựu tuần-tự từ Nhất-thiết-trí, đến Đạo-chủng trí, cuối cùng đến Nhất-thiết-chủng trí.
Ba trí không thứ lớp tức là ba trí đồng thời thành-tựu, do tu pháp ''Nhất tâm viên quán''.
Đoạn văn sau đây, trong bộ Ma-Ha-Chỉ quán có thể tóm tắt một cách đầy đủ ư nghĩa của ba trí nói trên:
'' Trí-huệ Phật soi rơ lư Không, như chổ nhận thấy của bực Tiểu-thừa, gọi là Nhất-thiết trí. Trí huệ Phật soirơ lư Giả, nhưng sự nhận thấy của các bực Bồ Tát, gọi là Đạo-chủng trí. Trí-huệ soi rơ cả lư Không, Giả, Trung, thông suốt thật tướng các pháp, gọi là Nhất-thiết-chủng trí ....Ba trí do một tâm đồng thời tu ba pháp quán mà thành, biết rơ ba cảnh bất-tư-nghị, trí ấy do tu quản mà đặng, nên gọi là trí. Trí ấy cũng tức là Phật-trí.
3.- Ba đức: Kết quả tu chứng của Thiên-thai tôn, không phải chỉ có được ba Trí mà c̣n được ba Đức nữa. Chữ ''Đức'' ở đây không phải hiểu theo nghĩa thông-thường ở trên thế-gian, mà là Đức của cảnh-giới Niết-bàn, nghăi là có đầy đủ thường, lạc, ngă, tịnh. Ba đức ấy là:
a). Đức Pháp-thân: Pháp tức là khuôn phép đúng với chơn-tướng của vũ-trụ. Các Đức-Phật nhờ nương theo khuông phép ấy mà tu hành thành Phật, thể chứng được chơn-tướng vũ-trụ, cho nên gọi là pháp-thân.
b). Đức Bát-nhă: Tức là cái sáng-suốt về thỉ-giác của Phật, rơ biết các Pháp không sanh không diệt, vắng-lặng siêu-h́nh, một mực b́nh-đẳng, không thêm không bớt.
c).Đức Giải-thoát: Giải là không bị ràng buộc; Thoát và không vượt ra ngoài, là tự tại vô ngại. Ơí đây muốn nói các Đức-Phật đă ĺa bỏ các phiền-năo nghiệp-chướng ràng buộc, chứng được cảnh-giới đại tự-tại, Giải-thoát vậy. V.- Kết Luận
Bốn phần tŕnh bày trên này về Thiên-thai tôn (duyên khởi lập tôn, tôn-chỉ và giáo-lư căn-bản, phương pháp tu hành, và quả vị tu chứng) tuy không nói lên được một cách tỉ-mỉ về mọi khía cạnh của tôn, nhưng thiết tưởng cũng đem lại cho quư vị độc giả một ư-niệm tổng-quát về Thiên-thai tôn, một tôn đăĩc-biệt thành-lập ở Trung Hoa và đă lan tràn ảnh-hưởng sang các nước Mông-Cổ, Nhật-Bản, Cao-Ly, Việt-Nam.
Điểm đặc-sắc của tôn này chính là ở pháp "nhất tâm tam quán". Nhờ ba pháp quán này mà hành-giả nhận chân được một cách rơ ràng ba khía cạnh của vũ-trụ vạn-hữu: Vât, Tâm, và Chân-như. Ba thứ ấy dụ cho sóng, nước và tánh ướt, mà nước cũng là tánh ướt. Nếu góp cả ba phương-diện mà xét, th́ ba phương-diện có thể quy về một; nếu đứng về một phương-diện mà xét, th́ vẫn có thể thấy cả ba. Đó là ư-nghĩa sâu sắc của Thiên-thai tôn mà cũng tức là lư-nghĩa chung của Viên-giáo.
Mong rằng quư độc-giả sẽ nghiền-ngẫm cho thấu đáo, để nhận rơ được cái lẽ ''tam tức nhứt, nhức tức tam'' ấy. Và như thế tức cũng đi dần vào pháp ''nhứt tâm tam quán'' rồi đó.
|