Qua lời khấn nguyện, những sức mạnh thing ling sẽ xuất hiện trong tm thức của người hnh tr nghi lễ dưới dạng những hnh tượng. Sức mạnh thing ling nầy l những năng lực đ bắt rể su thẳm trong tm thức chung của loi người sau hng mấy nghn năm sinh hoạt thờ phụng v tn knh của nhn loại. Chng chỉ chờ những lời khấn nguyện v ku gọi của người hnh tr nghi lễ để được đnh thức dậy, để c thể pht huy tc dụng chuyển ha đ c sẳn của chng. V thế, lời khấn nguyện trong đạo Phật c chức năng tương tự như lời cầu kinh trong cc tn gio hữu thần. V nếu trong cc tn gio hữu thần lời nguyện cầu l để giao lưu v "chuyện tr" với Thượng đế th lời khấn nguyện trong đạo Phật l để ku gọi v đnh thức những năng lực bn trong tm thức của người hnh tr nhằm đp ứng ước mong đạt đến một trạng thi tm vin mn hay sự ton gic của con người. Sức mạnh của lời khấn nguyện xuất pht từ mong ước mnh liệt của người hnh tr nhầm xa đi khoảng cch giữa một bn l thức về sự thiếu st v khng hon thiện của mnh v một bn l mục tiu l tưởng về sự ton thiện v vin mn tm linh của vị ấy. V thế, khấn nguyện l phương php đầu tin nhằm triển khai kho tng kinh nghiệm v tận ẩn chứa trong tầng thức chung, phổ biến, v su thẩm nhất của nhn loại.
Nhưng nghi lễ khng chỉ chuyển ho người hnh tr qua sức mạnh của lời ni. N tc động trn ton bộ tm thức của của người hnh tr , v n phải lm như thế nếu n muốn pht huy ton bộ sức mạnh của n. Qua sự phối hợp của điệu bộ, lời ni, v tư tưởng, v qua sự phối hợp của thn, khẩu, cũng như qua sự kết hợp nhuần nhuyễn của cảm xc, những lời pht biểu, v sự tưởng tượng sng tạo trong qu trnh qun tưởng hnh tượng của chư Phật, Bồ Tt, v chư thin, chng ta c thể phối hợp v thống nhất được tất cả chức năng c thể c trong đời sống tm thức của mnh. Trong qu trnh nầy, khng chỉ nhn cch bề ngoi của chng ta m cả những tầng lớp thức su xa hơn của chng ta cũng bị tc động, để rồi qua việc hnh tr đều đặn cc nghi lễ m ton bộ con người của chng ta sẽ dần dần chuyển ho đưa chng ta từng bước đến những mức thiền định su hơn, để rồi cuối cng đến mức thiền định m ngay cả ci hnh ảnh qun tưỡng cũng khng cn nữa. Đ chnh l quả vị gic ngộ tối thượng.
Từ những thời xa xưa nhất, khai tm (cn c tn l truyền tm, khai đạo, điểm đạo) l buổi lễ chiếm vị tr then chốt nhất trong cc nghi lễ. Từ những ngy đầu của nhn loại, lễ khai tm c sức mạnh thi thc v chuyển ha gip con người học hỏi v thể nghiệm thực tại ở những cấp độ cao hơn. N nng thnh vin thanh thiếu nin trong một bộ lạc hay một bộ tộc ln địa vị bnh đẳng với cc thnh vin trưởng thnh khc v được mọi người thừa nhận. N hướng dẩn cc vị gio chủ, t trưởng, hay cc nh vua tương lai về uy tn v năng lực thu ht (mana) của người lnh đạo, bảo vệ v tăng cường sức mạnh cho những vị nầy trong thế giới tm linh huyền b mới của họ để họ c thể đương đầu tất cả những nguy hiểm trn con đường pht triển nội tm của mnh.
Trong đạo Phật cũng thế. Lễ khai tm r rng c vai tr ngay từ lc đầu. V thế, trong Trường Bộ Kinh (Dgha Nikya 16.5.30) c viết về một du sĩ ni với Ananda như sau Thật l một lợi lạc lớn cho tất cả cc vị, rất c lợi cho tất cả cc vị v cc vị được tn phong đệ tử trước mặt của bậc Đạo sư. Chẳng hạn như trong thời Vệ đa, Lễ khai đạo hay "Lễ ban nước thnh" (Skt. abhiseka) được tiến hnh trong lễ đăng quang của một vị vua. Trong buổi lễ nầy, nước thnh được rảy ướt trn đầu tc của nh vua để gip mang lại cho ng quyền lực v sức mạnh thu ht của hong tộc.
V từ rất sớm, Đức Phật ni về cc đệ tử của mnh như l những người con trai v con gi trong cng một gia đnh cao qu (arya-kula) của những người hướng về quả vị tm linh cao thượng. Những ai được sinh từ miệng của Ngi sẽ thừa hưởng gia ti người cha tinh thần của họ để lại. V v vậy, trong tiến trnh pht triển của đạo Phật ở Ấn độ, qua lễ khai tm (abhiseka), những đệ tử trở thnh Phật tử hay tn đồ của Đức Phật, v qua đ, tiếp thu được sức mạnh để thực hiện sứ mệnh tương lai của họ: đ la tu tập để trở thnh một Đức Phật v lợi ch của thế gian, một vị vương trn thế gian (cakra-vartin) trong thế giới tm linh của con người.
Đặc biệt l qua sự pht triển của Kim cang thừa, lễ khai đạo hay khai tm (abhiseka) trở thnh nguồn sức mạnh đột ph v khai mở qu trnh rn luyện tm linh lu di của người đệ tử. Qua đ những kinh nghiệm thiết yếu v kiến thức được đc kết v tập trung lại qua biết bao thế hệ đạo sư trở thnh nguồn động lực thi thc, đặc biệt l hnh thức truyền tm của vị đạo sư m bản thn ng đ pht triển v tiếp nhận từ chnh vị đạo sư của mnh, v by giờ ng trao truyền laị cho đệ tử của mnh qua nghi lễ truyền tm (tiếng Ty Tạng l dBang-nskur); vị đệ tử tiếp nhận đạo lực ny, v triển khai n cho đến lc tm thức của vị ấy c thể cởi mở, tiếp thu, v kế thừa n. Đạo lực được tiếp nhận sẽ chỉ ra phương hướng tu tập v tạo nguồn cảm hứng cần thiết để vị đệ tử tiếp tục tinh tấn chuyn ch trn con đường tiến đến mục đch tối thượng.
Trong lễ truyền tm, người đệ tử tiếp nhận hương vị đầu tin của cứu cnh giải thot khi được chia sẻ tm thức v trnh độ gic ngộ của vị đạo sư. Chnh kinh nghiệm ny gip cho người đệ tử mới bước vo đạo tin tưởng rằng mnh sẽ đạt được mục tiu tối thượng v nn tập trung mọi nỗ lực cho mục tiu nầy. Từ đy trở đi, vị ấy khng cn l một người tầm đạo m mờ nữa m l một người biết rỏ mnh đang đi về đu. Vị ấy trn ngập với niềm tin (Phạn ngữ l zrddha) bất thối chuyển, để rồi việc tu tập (sdhana) chỉ đem lại niềm hạnh phc v hỷ lạc su sắc trong nội tm vị ấy. V by giờ, qu trnh tu tập khng cn l việc phải cực lng chấp hnh những bổn phận cuả một người đệ tử v cũng khng cn l việc thực hnh những thời kha tn gio hay những buổi lễ tụng kinh mang tnh thường xuyn v ước lệ.
V lẽ đ việc truyền tm của một vị đạo sư chn thật vượt ln trn tất cả những khc biệt về trường phi, hệ phi, v những l luận kinh viện. Đ l việc đnh thức ci thế giới nội tm của mỗi người chng ta, cho d chng ta chỉ thong cảm nhận điều ny thi, n cũng sẽ định hướng con đường pht triển tm linh v ton bộ cch sống của chng ta, m khng cần sự cưỡng bch của bất cứ quy luật no từ bn ngoi. V thế lễ truyền tm l qu tặng lớn nhất của một vị đạo sư dnh cho người đệ tử của mnh. Qu tặng nầy qu hơn cả lễ thụ phong chnh thức để gia nhập tăng đon hay bất kỳ một tổ chức tn gio no. Lễ thụ phong c thể lun được tiến hnh m khng cần đi hỏi những phẩm chất tm linh hay đạo lực của người thụ phong hay người dự tuyển thụ phong, miễn l người dự tuyển thụ phong sẵn lng tun thủ những luật lệ được quy định v khng bị những khuyết tật về thể chất, đạo đức hay tinh thần.
Mặt khc, lễ truyền tm (abhiseka) l một nghi thức m nhờ đ tm thức của người được khai tm mở ra một phương hướng mới. V cng với những lời hướng dẫn cũng như những ch nguyện, phương hướng mới ny sẽ khởi động v lm thc đẩy qu trnh chuyển ha nội tm của hnh giả. Trong mối lin hệ ny, lời ch nguyện (mantras), (ngoi tnh chất đặc biệt của chng l những biểu tượng nguyn gốc của một thi độ tm l c biệt) l những tinh chất được đc kết từ kinh nghiệm hng trăm năm tu tập v thiền định. Thm vo đ, lời ch nguyện cn mang dấu ấn tnh cảm v c nhn đặc biệt gắn liền vị đạo sư v người đệ tử với nhau. Những lời ch nguyện ny cng với kinh nghiệm thiền định nhắc nhở người đệ tử nhớ lại giờ pht khai tm của mnh, v lm tro dng ln trong tm vị ấy sức mạnh để tiếp tục trn con đường đạo m vị ấy đ bắt đầu.
Ci sức mạnh được truyền trao trong lễ khai tm chỉ c hiệu lực trong lĩnh vực tm linh, v chng ta khng được lợi dụng n cho những mục đch tư ring. N l năng lực khởi động qu trnh chuyển ho nội tm của một con người khi người ấy mở rộng tm mnh để tiếp thu tc động chuyển ha đ; để rồi người ấy trở thnh người thị hiện sự chứng ngộ vượt ln trn phạm vi c nhn v c thể tc động lại trn người khc. V l do nầy, vị đạo sư chỉ c thể tiến hnh lễ khai tm v truyền trao đạo lực của mnh khi no chnh bản thn ng đ pht huy những đạo lực nầy sau nhiều năm tu tập nghim chỉnh. V người đệ tử chỉ c thể trưởng thnh v trở thnh một vị đạo sư khi vị ấy khng ngần ngại mở rộng tm của mnh tiếp nhận sự hướng dẫn tm linh đặc biệt của thầy mnh. V từ sự gắn b về tm linh giữa vị đạo sư v người thiện nam tử hay thiện nữ tử được chọn lựa ấy, người đệ tử sẽ gia nhập vo đội ngũ những người thư kế sự nghiệp tm linh của thầy mnh.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Bốn sự chấp thủ đ l: chấp i dục, chấp kiến, chấp giới, chấp ng
[2] Mười tri buộc l 1. Ng kiến, thấy c ci ta. Về ng kiến c hai loại: a. Tin vo ci ng thường hằng v bất biến (sassata-ditthi) b. Tin vo ci ng sẽ bị hủy diệt (ucche-dapditthi) nghĩa l tin vo ci ng ty thuộc vo 5 uẩn (khandhas), khi năm uẩn tan r, ci ng cũng mất theo. 2. Nghi ngờ. 3. Giới cấm thủ hay chấp chặt vonhững giới điều đạo đức. 4. Tnh dục. 5. No hại (những mong ước xấu v c hại) cho chng sinh v bản thn mnh. 6. Tham đối với cuộc sống ở ci sắc giới (ruparaga). 7. Tham đối với cuộc sống ở ci v sắc giới (aruparaga). 8. Kiu mạn. 9. Trạo cử (lăng xăng, khng yn). 10. V minh.
[3] Quả dự lưu (sotapanna) l "người đang trn đường vượt qua ba tri buộc đầu tin, v do đ đ đi vo dng đạo, hay người đ vượt qua ba tri buộc đầu tin--Người đ được gọi l Tu đ hon" (Kinh Puggala Pannatti 1.47)
Source:
ý Nghĩa Của Nghi Lễ, Sự Cúng Dường, - [THẾ GIỚI VÔ HÌNH]