| Vai Tṛ của Trường Phái Sarvāstivāda ở Afghanistan Vai Tṛ của Trường Phái Sarvāstivāda ở Afghanistan
(ROLE OF SARVĀSTIVĀDA IN AFGHANISTAN) Tác giả: C. S. Upasak
Thích Giác Hoàng dịch
Phật giáo du nhập đến Afghanistan rất sớm, sớm hơn những nước hiện nay Phật giáo đang thịnh và được nói là đă tiếp nhận Phật giáo sớm nhất. Thông điệp của đức Phật đă được mang đến Afghanistan ngay từ thời Phật c̣n tại thế thông qua Tapassu và Bhallika, hai vị Đại đệ tử cư sĩ đầu tiên, có quê hương ở tại Ballika (nay là Balkh). Sự kiện này đă được xác thực nhờ sử kư của Ngài Huyền Trang. Chính Ngài Huyền Trang đă chứng kiến hai ngôi tháp cho rằng là đă được 2 vị nầy xây để tôn thờ tóc và móng của Đức Phật gần thị trấn này. Ngài Huyền Trang đă đảnh lễ hai ngôi tháp đó khi du hành qua Ấn Độ. Bhallika viếng thăm Vương Xá (Rājagṛha) lần thứ hai, gia nhập Tăng đoàn và trở thành vị Tỳ-kheo do chính đức Phật chứng minh, sau đó tôn giả đă trở về quê hương và xây dựng ngôi tịnh xá tại Balhk (hay c̣n gọi là Bhallika) này. Bhallika đă chứng quả A-la-hán, và một số bài kệ (gāthā) trong Trưởng Lăo Tăng Kệ (Theragāthā) được nói là do tôn giả trước tác. Balk hay là Ballika là trung tâm trọng yếu của Phật giáo vào lúc đó. Thời gian trôi qua, khi Ngài Huyền Trang viếng thăm nơi này vào thế kỷ thứ VII TL th́ trung tâm trọng yếu này đă phát triển lớn mạnh đến nỗi được mọi người gọi là "Tiểu Vương Xá " (Little Rājagṛaha). Ngài Huyền Trang có đề cập đến tên của Tịnh Xá này là "Nava-Vihāra", nằm ở ngoại ô thị trấn Bhallika. Ngay tên gọi Nava-Vihāra" đă gợi cho ta một ngôi tịnh xá đă hiện hữu lâu đời ở Ballika (Nava có nghĩa là mới, tân), không có cái nào khác hơn khi Ngài Huyền Trang đến đó. Chúng ta có thể đoán rằng, tịnh xá cũ chính là Tịnh Xá Bhallika (Bhallika-vihāra) đă đổ nát theo thời gian v́ lúc bấy giờ các vật liệu xây dựng không được tốt. Sau đó một Tịnh Xá mới được xây dựng phía ngoài thị trấn và được gọi "Nava-Vihāra."
Trong thực tế, Phật giáo như một tôn giáo được truyền đến Afghanistan chỉ sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại Vesali, một thế kỷ sau khi đức Phật nhập vô dư niết-bàn, thông qua các vị Tăng thuộc Đại Chúng Bộ (Mahāsaṁghika) - các vị tách khỏi Phật giáo Nguyên Thuỷ Thượng Toạ Bộ (Early Theravāda) hay c̣n gọi là "Phật giáo Thượng Toạ Bộ Pāḷi" (Pāḷi Theravāda) đă đến Udyāna (hay c̣n gọi là Uḍḍiyāna) [phiên âm Hán Việt: Vu Điền], thuộc phần cực Đông của đất nước này. Họ đă đến đây thành lập cơ sở chính yếu cho trường phái của họ. Người ta nói rằng, một nhóm khác của trường phái này ở lại Ấn Độ và cư trú tại Mathurā. Nhưng các cuộc giao lưu thường xuyên vẫn duy tŕ liên tục giữa hai nhóm này qua nhiều thế kỷ. Bằng chứng rơ ràng là các chữ điêu khắc trên đá tại Mathurā được phát hiện vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước TL. Udyāna hay Uḍḍiyāna vẫn được duy tŕ như một trung tâm lớn của Hậu Kỳ Thượng Toạ Bộ (Later Theravāda) hay các trường phái Thượng Toạ Bộ Sanskrit (Sanskrit Theravāda) hầu như xuyên xuốt toàn bộ lịch sử Phật giáo ở Afghanistan cho đến khi các bộ phái này mất tích khoảng thế kỷ thứ X TL. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, Udyāna là trung tâm đầu tiên của trường phái Đại Chúng Bộ, sau này nó phát triển thành trung tâm chính thức của trường phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) ngay từ thời kỳ đầu.
Nước Udyāna (hay Uḍḍiyāna) có hai phần. Phần phía Tây được biết như xứ Nagara hay Nagarahāra (nay là Nagaravihāra), trong khi đó phía Đông vẫn giữ tên cũ là Udyāna. Sự kiện này được ghi rất rơ trong sử kư của Ngài Pháp Hiển và Ngài Huyền Trang, và các sử kư của người Tây Tạng. Phía Đông của nước này trải dài cho tới bờ sông phía Tây của ḍng Ấn Hà (Indus), vượt khỏi biên giới của đất nước Gandhāra. Trường phái Đại Chúng Bộ (Mahāsaṁghika) và trường phái Sarvāstivāda (Sarvāstivāda) đă thành lập các trung tâm song song với nhau trong các vùng của đất nước này ở Nagarahāra hay trong thung lũng Wat. Thủ phủ của đất này có cùng tên là Nagara (hay c̣n gọi là Nagaravihāra) hay Udyānapur. Naga hay Nagarahāra là một từ xuất phát từ thuật ngữ Nagaravihāra mà tôi đă tŕnh bày trong một bài khác. Nhưng chắc chắn rằng Nagaravihāra là một trong những trung tâm nổi tiếng nhất ở Afghanistan từ buổi đầu. Điều đáng quan tâm, lưu ư là cho tới ngày nay một tỉnh của đất nước này cũng được gọi là Ningarahāra, dựa theo tên cổ mặc dù thủ đô hiện nay của khu vực này là được gọi là Jalalabad, v́ nó bị Jaluddin Akbar, một vị vua Hồi giáo của Ấn Độ đă đổi tên xứ sở này theo tên của ông. Nếu ai viếng thăm Allalabad, vô số di tích của Phật giáo dưới các h́nh thức khác nhau như chùa tháp, hang động, tu viện đổ nát, các thánh tượng, v.v… rải rác khắp thị trấn này. Có một địa điểm gọi là Hadda, cách 7 km phía Nam của Jalalabab có rất nhiều chùa chiền tự viện bằng đá gạch. Những nhà khảo cổ học người Pháp đă đếm được khoảng 40 ngôi tháp lớn toạ lạc cách địa điểm trên khoảng một dặm rưỡi. Địa điểm này hầu như được các nhà hành hương viếng thăm, v́ nơi đây cũng là nơi tôn trí xá lợi xương sọ của Đức Phật. Cả Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang đều viếng thăm nơi này để đảnh lễ xá-lợi của Đức Phật. Một hộp đựng xá-lợi của Đức Phật với một câu được khắc ghi trên ấy đă được phát hiện ở đây.[2]
Nagarahāra được duy tŕ như một trung tâm của Sarvāstivāda và của Đại Chúng Bộ. Suốt thời gian của Đại Đế Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) thuộc triều đại Kusana thuộc thế kỷ thứ nhất TL, Nagarahāra phát triển rất mạnh về văn hoá và tôn giáo, v́ nhiều xá-lợi đă được tôn trí trong các tháp và các tự viện. Tại Bimrana, cách Jalalabad không xa, một hộp đựng xá-lợi của Đức Phật có khắc chữ trên đó đă được t́m thấy. Hộp đựng này đề cập đến tên của Đại Đế Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka), như là "vua công đức" của Phật giáo. Một sự kiện nổi bật, đó là, vua Kaniṣka là vị vua ủng hộ nhiệt t́nh Phật giáo,[3] đặc biệt ủng hộ cho trường phái Sarvāstivāda. Có lẽ suốt thời gian cai trị của ông, Nagarahāra và Hadda và các nơi khác xung quanh thị trấn Jalalabad được phát triển như là các trung tâm của trường phái này.
Trong bối cảnh này, chúng ta có thể đề cập đến thủ đô Sư Tử, nổi tiếng hệ thống chữ viết Kharoṣṭhī và ngôn ngữ Prakrit. Bản văn này không đề cập đến năm tháng nào, nhưng các học giả đă cho là khoảng năm 10 - 25 TL.[4] Văn bản này đề cập đến một vị Tỳ-kheo tên là Bhuddhila, được nói là nguyên quán ở Nagara. Buddhila được ghi nhận là người theo trường phái Sarvāstivāda. Cũng ngay trong bản văn này, tên của nước Sakastan (tức là: Seistan) cũng được đề cập, tặng phẩm xá-lợi của đức Phật được nói là đă ban cho toàn quốc Sakastan để tỏ ḷng tôn trọng. Đất nước Sakastan không có nước nào khác hơn là Seistan hiện nay, một phần của nước này nay trực thuộc lănh thổ của Afghanistan và của Iran, mặc dù lúc đầu nó là vùng Baluchistan độc lập. Ở đây cũng rất hấp dẫn khi đề cập đến các bia kư đuợc ông Aurel Stein phát hiện trong một ngôi làng gọi là Tor Dherai ở Baluchistan, cực Đông của tỉnh Kandharkhi. Trên các bia kư này, khi tất cả các mảnh được sắp xếp lại với nhau nó có thể được xem như kỷ vật tượng trưng trong Tịnh Xá Yola- Mīla-Sthāhī-Vihāra cho tứ phuơng Tăng để cung đón các bậc Thầy của Sarvāstivāda.[5] Trong vùng này giữa Jalalabad ở phía Đông và Seistan hoặc Sakastan ở Tây Nam, trường phái Sarvāstivāda có nhiều trung tâm phát triển rực rỡ vào đầu thế kỷ thứ nhất TL.
Có lẽ không đúng chỗ khi đề cập ở đây đến một số văn bản thuộc giai đoạn này được t́m thấy trong vùng Gandhāra, hiện nay là Peshawar và các huyện lân cận ở Pakistan. Các bản văn này được t́m thấy ở vùng Zeda,[6] Kurram[7] và Kaman.[8] Chúng ta biết rằng Gandhāra là nước láng giềng ở phía Đông của nước Udyāna xưa cắt ngang bởi ḍng Ấn Hà (Indus). Dường như toàn bộ phía Bắc của tiểu lục địa Ấn là cứ điểm của chư Tăng thuộc trường phái Sarvāstivāda. Tuy nhiên, các vị này thành lập các trung tâm chẳng bao lâu sau trường phái Đại Chúng Bộ. N. Dutt cho rằng "suốt triều đại Aśoka, người ta không t́m thấy dấu vết trường phái Sarvāstivāda ở Pāṭaliputra, thuộc Magadha mà nó lại được di chuyển lên phía Bắc. Họ thành lập hai trung tâm, một là ở Kasmira dưới sự lănh đạo của tôn giả Madhyāntika (Mạc Điền Địa) và một trung tâm khác tại Mathurā dưới sự lănh đạo của tôn giả Upagupta (Ưu-ba-cúc-đa). Tôn giả Madhyāntika là đệ tử của tôn giả Ānanda, trong khi đó Upagupta là đệ tử của tôn giả 'Sāṇavāsa (Thương-na-hoà-tu), mà 'Sāṇavāsa cũng là đệ tử của tôn giả Ānanda. Do đó, các vị theo Sarvāstivāda có thể tôn thờ Ngài Ānanda như là vị Tổ Sư.[9] Từ các cứ điểm này, họ truyền đến các vùng phía Bắc của Gandhāra, Afghanistan và Baluchistan.
Khi Ngài Huyền Trang viếng thăm Afghanistan, Ngài chú ư đến nhiều trung tâm của trường phái này như Balkh, gần Bamiyan, Kapisa, Gaz và Udyāna. Ngài đề cập rằng cách Bamiyan khoảng mười hoặc mười hai dặm, có một tu viện an trí thượng y (Saṅghātī) cửu điều của đệ tam tổ 'Sāṇakavāsa (Thương-na-hoà-tu) màu đỏ sậm được làm bằng tơ lụa dệt từ loại cây Sānaka.[10] Tổ 'Saṇakavāsa được đề cập trong các văn bản Pāḷi như là tôn giả Sambhūta Sāṅavāsī, vị đóng vai tṛ vô cùng quan trọng trong kỳ kiết tập Kinh điển lần hai.[11] Tôn giả được nói là đă đi tới Kipin,[12] một nơi được đồng hoá với Kapisa, hiện nay Begram gần Charikar ở Afghanistan. Tại nơi này có rất nhiều di chỉ do các nhà khảo cổ học người Pháp khai quật ở các vùng và các Tịnh Xá mà tôn giả Saṇavāsī ở một thời gian, nhưng sau này Ngài trở về Mathurā, và thị tịch tại đây.[13]
|