|
Năm 1920 nhiều khoa học gia góp sức để t́m ra các định luật đó như Niels Bohr người Đan Mạch, Louis de Broglie người Pháp, Erwin Schrodinger và Wolfgang người Áo, Paul Dirac người Anh, Werner Heisenberg người Đức đă chung sức nhau để t́m ra những định luật trên. Các nhà khoa học trên thấy càng đi vào ḷng vật chất càng thấy vạn vật khó hiểu, và mâu thuẫn. Tại sao ánh sáng lại vừa là phân tử vừa là ba động. Max Planck (1858-1947) nhận ra rằng sức nóng chẳng hạn không phả ra đồng đều nhưng từng đợt, mà ông gọi là những túi Năng lực (Energy packets). Einstein gọi túi năng lực đó là quantum. Einstein c̣n cho rằng không cứ ǵ là ánh sáng mà tất cả điện từ cững đều phả năng lực ra như vậy. Thế là chúng ta bắt đầu đi vào Vật Lư Lượng tử (Quantum Physics). Chúng ta không biết chắc bao giờ Ánh Sáng là phân tử và khi nào nó là ba động, chỉ đoán chừng được mà thôi. Đó là Nguyên lư bất định của Heisenberg 13.
Vật lư lượng tử như vậy đă phá tan nhăn quan của Newton, và không c̣n có những vật cứng cố định, những định luật tất định nữa. Đi vào ḷng vũ trụ, ḷng vật chất, nay chỉ c̣n thấy những ba động, sự vật tương liên tương ứng lẫn nhau mà thôi. Thuyết lượng tử cho ta thấy bản chất vũ trụ là một, và không c̣n có những nguyên tử cố định, những viên gạch căn bản xây nên vũ trụ. Xưa người ta tưởng Nguyên tử là nhỏ nhất. T3/4 ra không phải vậy. Nguyên tử c̣n có Proton, Positron, Electron. Meson, Baryon v. v... Năm 1935, người ta tưởng Nguyên tử chỉ có sáu tiểu nguyên tử, đến năm 1955 người ta t́m ra được 15 tiểu nguyên tử, nay ta đă t́m ra được hơn 200 rồi.
Như vậy trong Vật lư hiện đại, vũ trụ này được coi là cái ǵ linh động, là cái ǵ toàn khối, toàn bích, và người quan sát không tách ḿnh ra ngoài nó được. Từ nay không c̣n không gian, thời gian riêng rẽ, không c̣n sự vật riêng rẽ. Cái nh́n trên rất giống cái nh́n của các Đạo gia Á Châu. Sau khi chứng minh đại loại như vậy rồi, ta đă thấy Capra đi vào chi tiết để chứng minh.
Tóm lại, vật lư học lượng tử chủ trương hoàn toàn ngược lại với Vật lư cổ điển Newton.
Nó chủ trương:
1. Không làm ǵ có những nguyên tử vững chắc cố định, mà nay chỉ c̣n có những ba động có thể xảy ra.
2. Không có những định luật tất định như trong Vật lư Newton, nhưng trong thế giới Vật lư lương tử, vẫn có tự do.
3. Không làm ǵ có thế giới khách quan không cần đến người quan sát. Nhưng trong vật lư lượng tử, vật bị quan sát bao giờ cũng liên quan đến người quan sát.
4. Cái thế giới vạn thù của Newton đă bị vượt qua, và trong vật lư lượng tử, tất cả đều là một.
5. Vật lư học Newton, chỉ có giá trị cho cái thế giới h́nh tướng bên ngoài. C̣n vật lư lượng tử th́ đi sâu vào ḷng nguyên tử, ḷng vật chất. 14
Như vậy, Vật lư học Newton nh́n thấy Vạn, và đă đi từ Nhất đến Vạn, C̣n Vật lư Lượng tử nh́n thấy Nhất, và đă đi từ Vạn về Nhất. Nh́n thấy Vạn thời ai cũng làm được, nhưng nh́n thấy Nhất xưa nay thực không mấy ai. Về phía Đạo Giáo chỉ có một số Đạo Gia thượng thặng mới nh́n thấy Nhất. Về phía Khoa Học gia, ta thấy phải có nhiều người hợp lại mới t́m ra được Nhất. Ta thấy chỉ có một số khoa học gia thượng thặng như Einstein, Max Plank, Werner Heisenberg, Schrodinger, Rutherford, Niels Bohr, Louis De Broglie, Eugene Wigner, Fritjof Capra v.v... mới làm nổi chuyện này. Werner Heisenberg khi quyết tâm từ giă Vật Lư Newton để đi t́m con đường vào khoa Vật lư lượng tử đă ví ḿnh như Kha Luân Bố đi t́m Tân Thế Giới. ông viết đại khái rằng Cái hay của Kha Luân Bố chính là v́ đă dám rời bỏ vùng ḿnh đă biết, và dương buồm tiến về phía Tây, vượt xa điểm mà lương thực đă dự trữ để đủ trở về. Đối với với Khoa học cũng vậy, nếu muốn t́m ra đất mới, th́ không thể nào cứ măi ở yên trong bến bờ của những học thuyết sẵn có mà phải chịu liều vọt bước ra đi. 15
Tôi thấy Capra hợp nhất được khoa học và đạo học không phải là công lao nhỏ. Nó có thể giúp cho nhiều học giả tới nay chưa có lập trường sẽ hồi tâm chuyển hướng.
Vạn vật là một đă được Eckhart xác định. Eckhart viết: Mọi cái mà con người thấy như là Vạn thù bên ngoài, thật ra chỉ là một. ở đây, cọng cỏ, gỗ, đá mọi sự đều là một. Đó là cái ǵ thâm sâu nhất. 16
Thảo nào mà Dịch kinh từ mấy ngh́n năm nay đă nói âm Dương tương thôi nhi sinh biến hóa. Và âm Dương luôn biến từ cái này sang cái kia, không có ǵ là cố định: rốt ráo chỉ c̣n có Hư Vô, Không Tịch.
Niels Bohr đă nhận H́nh Thái cực làm phù hiệu của ông, và công nhận rằng Contraria sunt complementaria (Opposites are complementary), tức là không có ǵ là mâu thuẫn nhau cả.
Tuy khoa học đă t́m ra được rằng vạn vật là nhất thể, như không biết được rằng nhất thể đó là ǵ. Ngược lại các đạo gia đă thấy rằng nhất thể đó là Thực tại tối hậu (Ultimate Reality). Người th́ gọi đó là Brahman, là Chân Như, là Pháp Thân, và Đạo, là Trời. Eckhart gọi đó là Thần của Hồn (The Spirit of the Soul); Hugh of St. Victor gọi là Mũi nhọn tâm hồn (Acumen mentis), Thánh Teresa of Avila gọi đó là Tâm Điểm linh hồn (Center of the Soul); thánh Jerome gọi đó là Tàn lửa linh hồn (Spark of the Soul); Upanishads gọi đó là Atman (Thou art that; it is Atman (Self) which is Brahman. ấn độ cũng c̣n gọi đó là Khí Prana, hay Purusha, hay Atman hay Brahman v.v... Như vậy Prana cũng tương đương với chữ Thần (Spirit, hay Pneuma). Tuy nhiên các đạo gia đều đồng thanh cho rằng cái thực tại tối hậu ấy hay con người tối hậu ấy, ta phải t́m cho ra ngay trong tâm thần của ta, bằng Thiền định, bằng Yoga hay bằng Kundalini. Phương tiện không quan trọng. Điều quan trọng là cái hiểu biết rốt ráo của ḿnh.17
Ta phải biết chúng ta ai cũng có 2 phần:
Một phần hằng cửu, bất biến. Đó là Bản thể chúng ta (Noumenon, Essence).
Một phần là biến thiên, vô thường, vô định. Đó là tất cả những hiện tượng biến thiên trong ta (Phenomenon, Accidents). Bản thể vĩnh cửu là Niết bàn.
Ảo hóa biến thiên là Luân hồi, sinh tử.
Chúng ta phải biết dùng đời chúng ta, dùng mọi khả năng biến hóa cúa chúng ta, để mà thoát khỏi ṿng luân hồi ảo ảnh, để mà t́m lại được Chân Nguyên, Chân thể của Chúng ta, đó là Đạo, là Trời. Ta có thể gọi đó là Phối thiên (Mystical Union with God), là đạt đạo Yoga (Finding Yoga), là đắc Đạo (Finding the Tao), hay Giác Ngộ (Enlightenment, hay Self- Realisation). Trong dĩ văng đă có vô số người lên tới tŕnh độ này. 18
Mới hay ta sinh ra đời không phải là vô mục đích. Rơ ràng là ta phải biết dùng đời ta để biến thiên, tiến hóa. Chúng ta là những con người Biến Thiên (Becoming) và Tiến Hóa. Gopi Krishna nói: Chúng ta, bạn cũng như tôi, chúng ta phải tiến để thực hiện chân ngă chúng ta, để cho tâm hồn ta nhận ra được và thực hiện được bản thể thần minh của chúng ta...19
ước ǵ chúng ta kẻ trước người sau đều bước được vào con đường này. Đó là bổn phận của mỗi người chúng ta. Không làm được nó kiếp này, sẽ làm trong các kiếp sau. Tôi nhớ lời Kinh Upanishads:
Từ ảo ảnh xin đưa tôi về thực tại,
Từ tối tăm xin đưa tôi về ánh sáng,
Từ tử vong, xin đưa tôi về bất tử 20.
Đó cũng chính là nguyện vọng của tôi và của cuốn sách nhỏ b3/4 này.
1.- Fritjof Capra, The Tao of Physics, Bantam Books, 1984, Preface to the first edition, p. XIX.
2.- The basic oneness of the universe is not only the central characteristic of the mystical experience, but also one of the most important revelations of modern physics. It becomes apparent at the atomic level and manifests itself more and more as one penetrates deeper into matter, down to the realm of subatomic particles... The Tao of the Physics, p. 117
3.- The unity of all things and events will be a recurring theme throughout our comparison of modern physics and Eastern philosophy. The Tao of Physics, p. 117-118).
4.- Every word or concept, clear as it may seem to be, has only a limited range of applicability . The Tao of Physics, p. 15.
5.- What is soundless, touchless, formless, imperishable, Likewise tasteless, constant, odorless, Without beginning, without end, higher than the great, stable - By discerning That, one is liberated from the mouth of death (Katha Upa. 3, 15.) The Tao of Physics, p. 76.
6.- (The little holy war is a war against the infidels, buy the great holy war is the war against one's own soul.) Ravi Ravindra, Science and Spirit, Paragon House, New York, 1991, p. 338.
|