|
Nếu tư tưởng mạnh, sinh vật nầy có thể sống trong vài ngày hay lâu hơn nữa. Một pháp sư giỏi có thể tạo những sinh vật sống cả ngàn năm. V́ vậy, có những tinh vật loại nầy được tạo cách đây lối 11.500 năm (trước khi châu Atlantide bị sụp ch́m) mà nay vẫn c̣n tồn tại.
Ảnh hưởng đối với cá nhân ḿnh: Khi tư tưởng hướng về cá nhân ḿnh, nó tăng cường các tinh vật đă tạo và giúp chúng nó sống lâu. Thế là ta tạo cho ta một người bạn thanh khí dũng mănh mà ảnh hưởng đối với chúng ta một ngày một gia tăng. V́ vậy, khi ta lập lại thường một dục vọng, nó sẽ gây cho chúng ta nhiều tai hại.
Ảnh hưởng đối với kẻ khác: Khi chúng ta nghĩ đến người khác, sinh vật được tạo thành sẽ bay vẩn vơ quanh người đó để ảnh hưởng tốt hay xấu tùy ư chúng ta, vào lúc thuận tiện nhứt nghĩa là khi người nầy dễ cảm nhứt.
Nhưng tinh vật chỉ có thể tác động khi nào thể vía đối tượng có những yếu tố đồng loại với thể của nó để nhận sinh lực tốt hay xấu của nó. Nếu yếu tố nầy không có, tinh vật sẽ quay lại chúng ta theo con đường đă đi với sức mạnh c̣n nguyên của nó.
Người ta biết được nhiều trường hợp mà tư tưởng oán ghét không hại người bị trù mà quay lại giết người tạo ra nó. Trái lại, một tư tưởng hiền lành khi nó không được nhận do một người hèn hạ, nó sẽ quay về giúp đỡ người phát ra.
Đôi khi, một tinh vật xấu không sử dụng sinh lực của nó được nên trở thành một ác quỉ nuôi dưỡng các tinh vật đồng loại với nó.
Như vậy, với tư tưởng và dục vọng của chúng ta, chúng ta có thể tạo thiên thần hay ác quỉ mà chúng ta phải chịu trách nhiệm. Do đó, chúng ta phải tập chủ trị tư tưởng và dục vọng của chúng ta.
Ước mong và cầu nguyện: Ai ai, dù nghèo thế nào đi nữa, cũng có thể tạo một thiên thần hộ mạng cho những người ḿnh mến yêu, dù các người đó ở xa hay gần. Sau khi chết, ta cũng có thể tác động như vậy.
Quyền năng của một lời cầu nguyện nhiệt thành, nhứt là khi được lập lại thường, trong việc đào tạo tinh vật linh động để hộ tŕ người khác giải thích một tin tưởng của các người mộ đạo : Cầu xin là được.
H́nh dáng và màu sắc: Quyển sách H́nh Tư Tưởng của bà A. Besant và ông C. W. Leadbeater giải thích việc nầy một cách tỉ mỉ.
Sau đây là một vài chi tiết : tím = tính tâm linh, xanh lam = sùng tín, vàng = thông minh, vàng cam = kiêu căng, xanh lá = thiện cảm, hồng = t́nh thương vị tha, đỏ = giận dỗi, dâm dục, xám = ích kỷ, đen = hung dữ.
Những h́nh tư tưởng đẹp đẽ, rơ ràng, tươi sáng và thanh khiết là h́nh dáng của những tư tưởng thanh cao. Trái lại, những tư tưởng lu mờ, xấu xí, âm u là triệu chứng của những tánh t́nh đê tiện.
Thành kiến: Nói chung, các tinh vật giả tạo phát sanh từ một nhóm, một xứ tạo một ảnh hưởng vô h́nh to lớn đối với t́nh cảm của một quốc gia, một sắc tộc, một màu da, một tôn giáo, một chánh đảng và cũng như đối với các thành kiến. Từ khi sanh, chúng ta phải chịu những ảnh hưởng nầy và v́ chúng ta không biết nên ảnh hưởng ấy rất sâu đậm.
2. Con người giả tạo:
Để đánh đổ chủ nghĩa duy vật, một nhóm người Mỹ trong thế kỷ qua (XIX), có lập một phong trào sau trở thành khoa Thần linh học.
Người ta dạy bảo một người quá văng về những khả năng của cơi Trung giới rồi giao cho người đó hướng dẫn một nhóm Thần linh học. Nhưng do luật tiến hóa, người hướng dẫn cần được thay thế. Vong linh thay thế bèn sử dụng các bóng hay cái vỏ của người hướng dẫn trước nên người ta tưởng chỉ có một vị hướng dẫn mà thôi. Nhưng về sau, người ta cũng thấy những điều sai biệt.
Đó là nguyên do của các thực thể nhân tạo.
CÁC VỊ PH̉ TRỢ VÔ H̀NH
Sau cùng, chúng ta nên nói đến một nhóm người gồm người sống lẫn người chết do đệ tử của các vị Chơn Sư lập ra để làm việc ở cơi Trung giới. Đó là nhóm người cứu trợ vô h́nh. (xin xem quyển Những Vị Pḥ Trợ Vô H́nh của C. W. Leadbeater)
Nhóm nầy được thành lập vào buổi sơ khai của Hội Thông Thiên Học. Trong lúc đầu, nhóm nầy gồm những người đàn ông và đàn bà c̣n sống, họ quyết định sử dụng thời gian thể xác ngủ để hoạt động ở bên kia cửa tử. Sau đó, họ qui tụ thêm một số người đă từ trần trong các hoạt động nầy.
Cứu trợ người chết: Khi sang qua cửa tử, nhiều người rất sợ sa vào địa ngục. Họ cần được trấn an, chỉ dẫn : đó là một công việc rất khó v́ họ muốn bám víu vào cơi trần thay v́ siêu thăng lên các cơi trên. Lắm khi, họ không tin rằng họ chết. Phận sự của các vị pḥ trợ vô h́nh là soi sáng họ. Một vị pḥ trợ cũng có thể tác động ngay ở cơi trần để giảm bớt sự lo âu của người chết; thí dụ, ông có thể bảo anh em (c̣n sống) của người chết, chăm nom con cái côi cút của y.
Cứu trợ người sống: Các vị pḥ trợ vô h́nh có thể chuyển những tư tưởng tốt cho những ai có thể đảm nhận : chánh khách, tu sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ hoặc trong một vài trường hợp đặc biệt báo trước các nguy hại của cách ăn ở của họ. Các vị pḥ trợ nầy cũng có thể được sử dụng để thỏa măn những lời cầu nguyện.
Các đức tánh cần thiết:
- Sự cứu trợ nầy cần 5 đức tánh :
1/ sự quyết tâm cứu trợ;
2/ sự tự chủ hoàn toàn để không khi nào bị dao động;
3/ sự an tĩnh (không lo âu);
4/ sự hiểu biết về cơi Trung giới;
5/ t́nh thương vị tha khiến chúng ta có thể hoạt động một cách kín đáo và vô tư.
Tuy không thuộc vào nhóm pḥ trợ nầy, bất luận người nào trong lúc ngủ cũng có thể giúp đỡ những kẻ đau khổ. Trước khi ngủ, y chỉ cần nghĩ đến họ với ư tưởng an ủi họ khi y rời khỏi thể xác.
THỂ VÍA:
Thể vía là một khối thanh khí h́nh trứng, choán một chỗ cùng thể xác và c̣n vượt ra ngoài. Tuy nhiên, phần trong có vẻ đông đặc, lớn bằng thể xác và cũng giống thể xác.
Thể nầy dùng để biểu hiện cảm xúc, dục vọng, ham muốn, t́nh cảm. Nhờ nó mà các ấn tượng bên ngoài chuyển thành cảm giác để trí ta thu nhận. Những vật biết đau đớn đều có thể vía. Cục đá không đau đớn v́ nó không có một thể vía được tổ chức. Không có thể vía, các cảm xúc không sao có được. Khi người bệnh dùng thuốc mê, thể vía thoát ra thể xác, cảm xúc không c̣n nữa nên không c̣n biết đau.
Thể vía c̣n dùng làm cầu liên lạc giữa khối óc và tâm thức tác động trong châu thân. Trong lúc ngủ, nó thoát về cơi của nó và tiếp xúc với người chết ở cơi đó.
Nó được tạo thành do các chất thuộc bảy cảnh của cơi Trung giới.
H́nh dáng:
Thể vía sáng nhiều hay ít tùy mức tiến hóa của con người.
1/ Người tiến hóa ít: H́nh dáng nó mù mờ, không được tổ chức, không rơ ràng. Nó có vẻ nặng nề, màu sắc âm u, dơ dáy. Nó vượt ra khỏi thể đông đặc lối 25 – 30 phân. Thường thường nó như vô tri, vô giác, nên phải có những va chạm mạnh nó mới thức tỉnh và tác động; do đó nó chỉ có thể phát triển khi nào cảm xúc nhiều và mạnh. V́ vậy, người kém tiến hóa chỉ có ư niệm về điều thiện trong sự quên ḿnh cho vợ, con hay bạn thân.
Trí thức c̣n rất kém. Ở tŕnh độ nầy con người hành động do ngoại cảnh thúc giục chớ không phải bởi ư chí.
Trong lúc ngủ, thể vía bay phất phơ bên thể xác, c̣n giấc mộng th́ có tánh cách tầm thường.
2/ Người trung b́nh: Thể vía sáng sủa hơn và được tạo thành bởi những vật liệu tế nhị hơn. Nó vượt ngoài thể xác lối 50 phân. Nó hoạt động điều ḥa và lần lần có thể hoạt động riêng biệt đối với thể xác. Nó chịu ảnh hưởng ư chí một ngày một nhiều.
Trong giấc ngủ, nó đi xa khỏi thể xác trong cơi Trung giới và ghi nhận những ấn tượng của cơi nầy. Như thế, khi tách ra khỏi xác thân, nó có thể thu thập được sự hiểu biết và chuyển lần lần qua tâm thức con người trong lúc thức.
3/ Người tiến hóa cao: Thể vía được tạo do những vật liệu tinh vi và chói sáng trong những màu sắc rực rỡ. Nó trở thành một cơ quan hiểu biết độc lập đối với thể xác.
Hào quang của một vị La Hán (điểm đạo lần thứ tư) có thể chiếu ra độ 10 thước chung quanh xác thân.
Màu sắc:
Ư nghĩa các màu sắc của thể vía cũng giống như ư nghĩa màu sắc h́nh tư tưởng. Quyển sách của C. W. Leadbeater : “Con người hữu h́nh và vô h́nh” có nhiều chỉ dẫn hữu ích nhờ h́nh ảnh rất nhiều
Tinh luyện:
Màu sắc thể vía sáng ít hay nhiều, h́nh dáng nó rơ hay không, đó là tùy mức tiến hóa của con người. Sự hoàn hảo của nó căn cứ trên sự tinh luyện thể xác và thể vía.
Các tư tưởng thanh cao thu hút những thanh khí tế nhị vào thể vía và sa thải các phần tử nặng trược. Những thức ăn ô uế mà ta dùng để nuôi dưỡng xác thân (như thịt, máu, rượu) cũng đem vào thể vía đối phần thanh khí nặng trược. Thế nên chúng ta cần kiêng cử những món ăn nầy.
Sự thanh lọc nầy rất cần cho các phương pháp Yoga để kiểm chứng sự thực tại của các cơi vô h́nh.
Trạng thái thức:
Trong lúc chúng ta thức, thể vía là cây cầu cho tâm thức. Ở nó, các va chạm bên ngoài biến thành cảm xúc và được thể trí chuyển vào tâm thức; sau đó, các rung động gây ra được truyền sang khối óc. Đó là có cảm giác. Hai đường rung động nầy giúp thể vía tiến hóa.
Giấc ngủ:
Nguyên nhân của giấc ngủ là sự mệt mỏi của thể xác, nó cần được phục hồi sức lực. Trong lúc ngủ, thể vía thoát ra thể xác mà vẫn giữ h́nh dáng của thể nầy. Nó di chuyển rất mau : trong vài ba phút, nó có thể bay quanh quả địa cầu.
Ở cơi Trung giới, các bậc tiến hóa cao đều thức tỉnh. Nhờ vậy họ có thể học hỏi thêm và liên lạc với các kẻ ở xa. Tâm thức của họ không bao giờ gián đoạn, kư ức của họ cũng thế.
Trạng thái xuất thần chỉ là một giấc ngủ tạo ra bởi một cách khác thường hay giả tạo.
Giấc mộng:
Vấn đề được giải thích rơ ràng trong quyển Chiêm Bao của C. W. Leadbeater.
Các giấc mộng được tạo ra do bốn yếu tố :
1/ Khối óc vật chất: Khối óc vật chất diễn tả các kích động bằng h́nh ảnh. Đối với ảnh hưởng bên ngoài, nó rất nhạy cảm, hay phóng đại và làm sai lệch. Ví dụ : một người mặc áo sơ mi chật cổ có thể nằm mộng thấy ḿnh bị treo cổ. Lại thêm các tư tưởng liên kết nhau nhanh chóng và rất lộn xộn.
2/ Khối óc dĩ thái: Khi đi xuyên qua khối óc dĩ thái, các ḍng tư tưởng khêu gợi ở nó những rung động quen thuộc và phát sanh những h́nh ảnh rời rạc xen lẫn với các h́nh ảnh của óc vật chất.
3/ Thể vía: Ngoài các h́nh ảnh nầy, thể vía c̣n ghi nhận những ấn tượng khác đến với nó. Một thói quen cũ có thể hiện lại bởi v́ trong lúc ngủ, lư trí không c̣n kiểm soát nó nữa. Ví dụ một người ghiền rượu có thể nằm mộng thấy ḿnh uống rượu dù rằng y đă bỏ rượu từ lâu. Việc nầy chứng tỏ sự muốn uống rượu vẫn c̣n.
4/ Chơn nhơn: Chơn nhơn hay bi tráng hóa sự việc, ví dụ một phát súng khêu gợi không biết bao nhiêu biến cố xảy ra trong nhiều năm. Ư niệm của nó về thời gian có tánh cách siêu việt : một vài giây có thể trở thành nhiều năm. Ngoài ra nó biết trước vị lai và t́m cách chuyển qua khối óc.
Giấc mộng có thể báo đúng sự việc sắp xảy ra, nhưng thường nó gồm những chuyện rời rạc tạo ra do khối óc vật chất và khối óc dĩ thái.
Luân xa:
Đó là trung tâm sinh lực, là những giao điểm chuyển sinh lực từ thể nầy sang thể khác. Luân xa thể phách nằm ngoài mặt thể nầy, c̣n luân xa thể vía thường nằm bên trong. Luân xa của hai thể tương ứng nhau.
Có bảy trung tâm lực :
1/ Cái thứ nhứt ở cuối xương sống, có 4 cánh. Đó là hỏa hậu biểu dương quyền năng của Thượng Đế;
2/ Cái thứ nh́ nằm ở rún, có 10 cánh;
3/ Cái thứ ba nằm ở lá lách, có 6 cánh. Phần vụ của nó là thu hút sinh khí thái dương;
4/ Cái thứ tư ở quả tim và có 12 cánh;
5/ Cái thứ năm ở cổ, có 16 cánh;
6/ Cái thứ sáu ở giữa hai lông mày, có 96 cánh. Nó dường như chia ra hai phần bằng nhau.
7/ Cái thứ bảy ngay đỉnh đầu, có 1000 cánh (đúng là 960 cánh); khi nó được thức động, nó khai mở các quan năng thể vía.
Giác quan thể vía:
Thể vía không có những giác quan riêng như nhăn quan của thể xác chẳng hạn. Khi các luân xa được đánh thức, toàn bộ thể vía đều cảm xúc được.
Màn chia các cơi:
Giữa các luân xa thể phách và thể vía, có một tấm màn bằng nguyên tử căn bản hồng trần ngăn chận ảnh hưởng cơi Trung giới (nhứt là kư ức về sự sinh hoạt trong lúc ngủ). Rượu làm hại tấm màn ấy, thuốc lá th́ ít phá hơn. Phải giữ ǵn tấm màn ấy nguyên vẹn để tránh những ảnh hưởng bất hảo của Trung giới.
(Trích tài liệu Thông Thiên Học)
|