| Chủ nghĩa hiện thực đạo đức của GEORGE EDWARD MOORE
George Edward Moore (1873-1958) phát triển chủ nghĩa vị lợi lư tưởng (Ideal Utilitarianism) thành một triết lư độc lập với thuyết trực giác (Intuitionism). Thuyết trực giác khẳng định rằng mọi quy tắc đạo đức đều tồn tại bên trong mỗi cá nhân, thuộc về lănh vực ư chí, chủ đích hay thiên bẩm. Ngược lại, chủ nghĩa vị lợi lư tưởng tŕnh bày quan điểm đạo đức dưới h́nh thức các kết quả và sự kiện rơ ràng của hành động. Về phần ḿnh, Moore xác định bản chất đúng sai của hành vi dựa trên cơ sở hiệu quả do nó gây ra, bất kể ư định của người thực hiện. "Lẽ đúng sai của một hành vi luôn tuỳ thuộc vào kết quả toàn cục của nó."(10) Nếu hành vi ấy mang đến điều tốt đẹp cho cuộc sống trên thế giới này, nó là một hành động đúng đắn; nếu không, nó là một hành động sai trái.
Hành vi đúng đắn không chỉ là hành vi xuất phát từ ư định tốt lành, hay thậm chí được dự kiến là đúng đắn nhất trong điều kiện cho phép, nó phải là hành động mang đến ích lợi thực tế. Lợi ích thực tế không phải là dạng kết quả tiên đoán dựa trên cơ sở đánh giá theo lẽ đúng-sai; nó phải là kết quả có giá trị cụ thể. Khó khăn chủ yếu là cá nhân khó ḷng xác định được liệu rằng hành động của ḿnh thực sự sẽ mang đến kết quả khả dĩ tốt đẹp nhất hay không. Thực chất, chỉ có trí tuệ toàn năng mới xác định được điều ấy-nói cách khác, chỉ có hoạt động sáng tạo của Thượng đế mới có thể thoả măn được yêu cầu của đạo lư này.
Thuyết hiện thực đạo đức (the Ethical Realism) của Moore nhấn mạnh rằng các thuộc tính luân lư tồn tại trong chính kết quả thực tế của hành vi đạo đức, không phục thuộc vào nhận định của con người dành cho giá trị của nó. Đạo lư nằm bên ngoài khả năng ư thức của con người; một hành vi có thể là tốt hay xấu cho dù người thực hiện có nhận thức được điều đó hay không. Quan điểm này tương phản trực tiếp với chủ nghĩa trực giác vốn giới hạn đạo đức trong khuôn khổ kinh nghiệm và nhận thức của cá nhân, không cần xét đến kết quả của hành động.
Moore nhận định về một hành vi đạo đức như một Gestalt, một tổng thể hữu cơ bất khả phân cắt và luôn có giá trị lớn hơn tổng cộng các bộ phận cấu thành. Nước có tính ẩm ướt, những hydrogen (H) và oxygen (O), hai nguyên tố cấu thành nên phân tử nước (H2O), lại không có thuộc tính ấy - nước có những thuộc tính không thể t́m thấy được ở các nguyên tố thành phần của nó. Tương tự như vậy, các hành vi đúng đắn có những thuộc tính đạo đức mà chúng ta không thể phát hiện ra được quá tŕnh phân tích. Thực vậy, cứu 1 đứa trẻ khỏi chết đuối là một nghĩa cử tốt đẹp, nhưng nếu phân tích mọi khía cạnh cấu thành nên hành động ấy, ta chẳng thể xác định được bản chất đạo đức của chúng. Có phải điều tốt lành nằm ở chỗ nhảy xuống nước? Hay ở nỗ lực nắm được đứa trẻ? Hoặc giả, ở nỗ lực kéo đứa bé lên bờ? Không có yếu tố nào cấu thành nên nghĩa cử ấy có thể được xem là hành động đạo đức; nhưng xét về mặt tổng thể, hành vi ấy được nh́n nhận là đúng đắn và tôt đẹp. Điều thiện vốn là thực hữu, nhưng chỉ tồn tại như một khối hữu cơ thống nhất; giá trị đạo đức của nó là giá trị tổng thể, không thể t́m thấy qua quá tŕnh phân tích các yếu tố riếng lẻ cấu thành nên nó. Tính thiện bất khả định Moore khẳng định rằng không thể định nghĩa được tính Thiện, bởi lẽ đó là khái niệm cơ bản nhất, tối hậu và bất khả phân. Để định nghĩa một từ hay một khái niệm, chúng ta cần phải phân tích các thành tố cơ bản của nó; nhưng làm sao có thể định nghĩa được các từ ngữ khác? Tính thiện chính là khái niệm cơ bản tối hậu, v́ thế chúng ta không thể định nghĩa được nó. Hoang tưởng theo chủ nghĩa tự nhiên
Theo Moore, ư niệm về Cái Thiện là một kinh nghiệm nhận thức-vấn đề là bạn cảm nhận được nó hay là không. Với một kẻ mù loà bẩm sinh, mọi định nghĩa và khái niệm về màu sắc điều vô nghĩa. Tương tự như vây, mặc dù có thể xác định được những điều tốt đẹp, chúng ta chẳng thể nào diễn đạt trọn vẹn ư niệm về Cái Thiện. Những ai cho rằng ḿnh đă thành công trong nỗ lực định nghĩa Cái Thiện, thông qua cách lư giải khoa học về những điều tốt lành, đă vô t́nh rời vào t́nh huống được Moore gọi là "hoang tưởng theo chủ nghĩa tự nhiên"(Naturalistic fallacy). Chúng ta cũng sẽ rơi vào t́nh huống tương tự khi cho rằng ḿnh đă giúp cho một người mù loà cảm nhận được màu sắc thông qua các lư giải khoa học về màu sắc. Ghi chú:
(1) Epicurus (341-270 trước CN ): triết gia Hy Lạp, người đề xuất một học thuyết vật về vũ trụ, một học thuyết luân lư đề cao sự né tránh đau khổ và duy tŕ sự b́nh an tâm hồn. Về sau, học thuyết này bị hiểu lầm là cổ xuư cho việc mưu cầu lạc thú cá nhân. (ND) (2)Epictetus (50-120 sau CN ): triết gia danh tiếng của trường phái khắc kỷ. Ông sinh ra tại Syrie, mất tại Nicopolis. Ông chủ trương coi thường của cải. Chấp nhận cuộc sống kham khổ, luôn giữ vững đạo đức, khỉnh rẻ đau đớn. Ông không viết ǵ để lại cho đời nhưng những điều ông dạy đều được môn đệ ghi chép lại thành sách. (Theo từ điển danh nhân thế giới - Trịnh Chuyết biên soạn) (ND) (3) Jeremy Bentham (1748-1832): Triết gia người Anh. Ông viết rất nhiều tiểu luận về thuyết vị lợi, lư giải các phương cách tổ chức xă hội và hoàn thiện luật pháp với mục đích "mang đến những điều tốt đẹp nhất cho tuyệt đại đa số". Các ư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn đối với nhiều nhà tư tưởng của thế kỷ 19. (ND) (4) John Stuart Mill )1806-1873): Triết gia và kinh tế gia Anh. Ông nổi tiếng với các tác phẩm về chính trị và đạo đức, như "Bàn về Tự do" (On Liberty). Bằng phương pháp lập luận, ông cổ xuư cho nền dân chủ, cho công cuộc cải cách cấu trúc kinh tế-xă hội và phê phán hiện trạng ngược đăi phụ nữ trong gia đ́nh và xă hội. (ND) (5) Immanuel Kant (1724-4804): Triết gia siêu h́nh và nhà bác học Đức gốc Scotland, người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm phê phán, có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng khoa học và triết học tư sản thế kỷ 19. Sinh ra tai Konigsberg, nước Phổ, ông đỗ bằng Tiến sĩ Triết học tại trường Đại học Konigsberg vào năm 1755, tham gia giảng dạy tại trường này đến năm 1770 th́ chính thức trở thành giáo sư môn siêu h́nh học và luận lư học, suốt đời độc thân và không hề ra khỏi thành phố quê hương quá 60 dặm. Ông đưa ra luận thuyết cho rằng trí tuệ con người có sẵn khả năng hiểu biết tiên nghiệm (a priori), rằng tri thức "tích luỹ" chẳng bao giờ có thể nắm bắt được bản chất tối hậu của sự thực hữu, v́ nó diễn dịch thế giới theo một hệ thống nhận thức không thời gian hạn hẹp và lệ thuộc quá nhiều vào các ấn tượng giác quan. Ngoài ra ông cũng cho rằng tự do cá nhân xuất phát từ sự tuân thủ nguyên tắc đạo đức của lương tâm. (theo "Sổ tay danh nhân thế giới " của Nhà xuất bản Thanh niên, năm 1999). (ND)
(6)Arthur Schopenhauer (1788-1860): Triết gia yếm thế người Đức. Chủ nghĩa bi quan của ông xem ư nguyện sống là sự thực hữu duy nhất và cũng là nguồn gốc của mọi điều xấu xa. V́ thế, ông đưa ra lối sống khắc kỷ và độc thân, xem nghệ thuật là một phương tiện giản toả nỗi thống khổ của sự hiện hữu. Quan niệm của ông có ảnh hưởng đối với Niezsche. (ND)
(7) Friendrich Wihelm Nietzche (1844-1900): Triết gia vô thần người Đức, cha đẻ của thuyết "Siêu nhân" (Superman). Sau Immanuel Kant, ông là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tư tưởng triết học tư sản phương Tây. Học thuyết của ông lf một trong những nguồn gốc của hệ tư tưởng phát xít này. Các tác phẩm của ông, đa số mang tính cách điệu và cơ sở hàm ư rất khó hiểu, gồm có "Con người, rất là người" (2 tập, 1878 -80 ), "Zarathustra đă nói thế" (1883-85), "Bên kia cái thiện và cái ác" (1886), "Phả hệ của đạo đức" (1887), "ư muốn quyền lực" (1888). (Theo sổ tay danh nhân thế giới - Nhà xuất bản Thanh niên, năm 1999). (ND)
(8)Aryan : Những dân tộc sử dụng nhóm ngôn ngữ Ấn Âu. (ND) (9)Julius Caesar (100-44 trước CN ): chính trị gia và nhà quân sự La Mă cổ đại, nổi tiếng với các cuộc chinh phạt cũng như uy thế và quyền lực của một nhà độc tài chuyên chế. Tên ông trở thành danh hiệu dành cho các Hoàng đế La Mă, từ Augustus (63 trước CN - 14 sau CN ) đến hết thời Hadrian. (ND)
(1) Các đoạn trích dẫn được rút ra từ tác phẩm "Những bài thuyết giảng của Epictetus " (The Discourses of Epictetus) của dịch giả George Long. (TG) (2) Những đoạn trích dẫn được rút ra từ tác phẩm "Giới thiệu các nguyên tắc luân lư và pháp chế" của Jeremy Bentham (xuất bản tại Luân Đôn năm 1780, được biên tập và chỉnh sửa lại vào năm 1823). (TG)
(3)Trích từ "Chủ nghĩa vị lợi" (Utilitarianism) của J. S. Mill , xuất bản tại Luân Đôn năm 1863, tái bản lần thứ 12 năm 1895
(4)Các đoạn trích dẫn được rút ra từ tác phẩm "Siêu h́nh tính của luân lư" (The Metaphysics of Morality) của Immanuel Kant, dịch giả John Watson (năm 1901) (TG) (5) Trích từ "Thế giới ư chí và ư tưởng" (The World as Will and Idea) của Arthur Schopenhaue, bản dích của R. B. Haldane và J. Kemp (1883). (TG)
(6) Trích "Cơ sở đạo đức" (the Basis of Morality) của Arthur Schopenhauer, bản dịch của Arthurs Brodick Bullock (1903).
(7) Trích từ tác phẩm "Kẻ chống Chúa" (The Antichrist) của Friendrich Nietzche, bản dịch của Walter Kaufman (Nhà xuất bản Viking Press Incorporation, New York, 1945). (TG)
(8)Trích từ tác phẩm "Zarathustra đă nói như thế" (Thus Spake Zarathustra) của Fiedrich Nietzche, bản dịch của Thomas Common (Nhà xuất bản The Macmillan Company, New York, 1930). (TG)
(9)Trích từ tác phẩm "Triết lư trung thành" (Theo Philosophy of Loyalty) của Josiah Royce (Nhà xuất bản The Macmillan Company, New York, 1908). (TG)
(10) Trích từ tác phẩm "Đạo đức học" (Ethics), trang 106, của Geogre Edward Moore (Oxford University Press, London, xuất bản năm 1912). (ND)
|