| Trước Triết Lư Tây phương, kinh nghiệm về Hư Vô đă vồ chụp lấy thi hào bi kịch Hy Lạp Sophocle, trong nhưng bi kịch hùng tránh như Oedipe roi, Antigone và Oedipe à Colone, chúng ta giựt ḿnh run rẩy lạc vào một thế giới hăi hùng nhứt và bi tráng nhứt của kiếp người, sự va chạm nẩy lửa giữa thần thánh và giới hạn tất mệnh của con người. Lời choeur trong vở Antigone bắt đầu với chữ "deinon" (cái ǵ kinh khiếp, kinh dị hăi hùng lạ lùng) đă đưa ta đi thẳng vào thể tính bí mật của con người, mà từ Thượng Cổ Hy Lạp cho đến thế kỷ XX, chưa có triết gia Tây phương nào có thể tư tưởng cho tới nơi được (có thể chỉ trừ ra nỗ lực phi thường của Heidegger trong Einfuehrung in die Metaphysik). Trong nền văn học hiện đại, gần đây có Samuel Beckett và trước đây có Ernest Hemingway, một nhà văn đă bị hiểu lầm rất nhiều v́ chẳng may quá nổi tiếng Hemingway đă viết một truyện ngắn khủng khiếp chỉ gồm có 8 trang mà cô đọng lại tất cả kinh nghiệm sáng tạo cực điểm về sự sợ hăi, xao xuyến, và hư vô. Truyện nhắn nhan đề là "A Clean, Well-lighted Place" (Một nơi nào đó sáng đèn và sạch sẽ) truyện đă in trong quyển Winner Take Nothing (x b. 1933). Chúng ta hăy lắng nghe độc thoại nội tâm của nhân vật chính trong truyện, một người bồi bàn cô độc đầy xao xuyến bàng hoàng nơi quán rượu về khuya ở một nơi nào đó tại đất Tây Ban Nha: "Tắt đèn điện xong rồi, hắn cứ tiếp tục nói chuyện một ḿnh cho một ḿnh hắn nghe, phải chăng hắn đă sợ hăi ? Thực ra chẳng phải sự sợ hăi nào cả hay cũng chẳng phải sự áy náy bồn chồn xao xuyến nào cả. Đó chỉ là một cái hư vô mà hắn đă quá quen biết. Tất cả đều là một cái hư vô và con người cũng là hư vô. Chỉ có thế và ánh sáng quả thực cần thiết vậy và một sự sạch sẽ nào đó và một trật tự nào đó. Có người đă sống trong hư vô và chẳng bao giờ cảm thấy hư vô, nhưng hắn biết rơ nó, ồ tất cả là hư vô, ồ thế chỉ là hư vô nada y pues nada y nada pues nada. Cái nada của chúng con, lạy nada của chúng con, ở trên nada, nguyện danh nada cả nada nước nada trị đến xin dâng nada trên nada bằng nada vậy. Xin nada cho chúng con ngày hằng ngày nada và nada chúng con như chúng con nada nhưng nada của chúng con, lạy cho nada trong nada và chữa chúng con cho khỏi nada; pues nada. Kính mừng hư vô, đầy hư vô, hư vô ở cùng người…” Đoạn văn trên chiếu rực lên một làn ánh sáng huyền hoặc, một thứ ánh sáng trong suốt trong sự trống rỗng mênh mông của cả vũ trụ. Hai bài kinh quen thuộc của Công giáo (Kinh lạy Cha và kinh Kính mừng Maria) trở thành kinh cầu nguyện hư vô: Thượng đế và Đức Mẹ và tất cả mọi sự trở thành hư vô (sắc tức thị không). Tất cả quán cà phê, ánh đèn điện rực rỡ, những h́nh dáng con người, những bàn những ghế, tất cả trở thành hư vô. Triết gia Wỉlliam Banett đă trích dẫn đoạn văn trên trong một buổi nói chuyện ở Hội Triết Học Mỹ (American Philosophical Association) vào ngày 29-12-1957 và có nhắc đến Không Tính của Phật giáo “gợi lên ḷng từ bi bao quát tất cả mọi chúng sinh” (cf. Irrational Man, 284-285). Chữ Tây Ban Nha “nada” có nghĩa là hư vô và giọng văn của Hemingway ở trên tuôn chảy một mạch như diệu Tâm Kinh Bát Nhă. “Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư; vô sắc, thanh, hơng vị, xúc, pháp...” Khi tất cả những ǵ ta tưởng như có thực bỗng trở thành hư vô và ngay cả Thượng Đế cũng là hư vô th́ chính hư vô cũng không c̣n là hư vô nữa, và như thế chúng ta sẽ không bị rơi vào chủ nghĩa hư vô (nihilisme). Sắc tức thị không nhưng đồng thời không tức thị sắc. Chính lúc ấy, danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát trỗi dậy như Diệu Sắc, Diệu Hữu, Diệu Thể, Diệu Tính, và chuyển hóa cứu độ giải thoát chúng sinh khỏi mọi khổ ách, mọi đau khổ, mọi tai nạn; mọi sợ hăi, v́ tất cả đă được xoay tṛn nhập thẳng vào sự sự vô ngại pháp giới. Diệu sắc, Diệu Hữu, Diệu Thể, Diệu Tính ở đây chính là Diệu Âm trong phẩm Phổ Môn của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: DIỆU ÂM QUÁN THẾ ÂM PHẠM ÂM HẢI TRIỀU ÂM THẮNG BỈ THẾ GIAN ÂM THỊ CỐ TU THƯỜNG NIỆM Xin dịch lại: Tiếng huyền diệu của sự nh́n thấy tiêng kêu của thế giới. Tiếng từ tận đỉnh trời cao nổ ầm lên với tiếng thủy triều của đại dương. Tiếng bay vút lên cao làm nó vỡ tung những tiếng kêu, những âm thanh của vũ trụ. Cho nên cần phải luôn luôn tưởng nhớ. Theo nguyên văn chữ Phạn th́ có thể dịch lại như vầy: Tiếng của Quán Thê Âm là tiếng động của tất cả mây bay trên trời. Tiếng trống, tiếng mưa rào, tiếng thanh cao của phạm Thiên, Tiếng vượt xuyên qua tận cùng toàn bộ âm thanh của vũ trụ Cần nên tưởng nhớ tới Quán Thê Âm. Tất cả những ǵ thuộc về ư Thức và cả Tiềm Thức, Hạ Thức, Thượng Thức, Vô Thức của con ngời đă bị phá vỡ bởi luồng ánh sáng trong sạch từ Mặt Trời Trí Tuệ của Quán Thế Âm. Một đoạn kệ thơ mộng nhứt trong phần kệ của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: Chơn quán thanh tịnh quán Quảng đại trí tuệ quán Bi quán cập từ quán Thường nguyệt thường chiêm ngưỡng Khi dịch ra Việt văn, Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh đă để yên chữ Hán, v́ quá súc tích thơ mộng. Tôi xin dịch lại dài ḍng theo văn chương Việt hiện nay như vầy: Ồ, cái nh́n chân thực, cái nh́n trong sạch, thanh thản, trầm lặng Cái nh́n sáng suốt tỉnh thức sâu rộng bao la Cái nh́n đầy t́nh thương, cái nh́n hiền lành yêu dấu Mà ḿnh thường hoài vọng ao ước, thường ngó nh́n mơ tưởng. Theo bản chữ Phạn th́ có thể dịch như vầy: Ồ, hỡi Người có đôi mắt trong trẻo, đôi mắt hiền lành nổi bật lóe sáng lên Trí Tuệ và sự Hiểu Biết, đôi mắt tràn trề t́nh thương và rộng lượng nhân từ; Người sao tuyệt đẹp, dung nhan tuyệt sắt và đôi mắt quá diễm kỉều! |