| Chữ không trong kinh Bát Nhă CHỮ “KHÔNG” TRONG BÀI KINH BÁT NHĂ H.T THÍCH THANH TỪ Người tu chấp có, không thể tột được lư đạo. Nhưng dù chấp có nhiều như núi Tu Di vẫn không tai hại như chấp không bằng hạt cải. Đó là tai họa lớn. V́ vậy người xưa hay nhắc nhở chúng ta đừng nên chấp không, thế mà trong Bát Nhă nói cái ǵ cũng không hết. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, không sắc, thinh, hương, vị, xúc v.v... Trong kinh nói không mà các vị tiền bối bảo đừng chấp không. Vậy hai chữ không đó khác nhau chỗ nào? Đây là điều tôi muốn giảng trạch cho tất cả Tăng Ni, Phật tử nắm cho vững, để đường tu chúng ta không bị trở ngại lại c̣n có thể tiến nhanh hơn. Muốn biết chữ Không trong kinh Bát Nhă hay cả hệ thống Bát Nhă, trước hết chúng ta phải nắm thật vững giáo lư nhân duyên. Người không nắm vững giáo lư nhân duyên th́ không bao giờ hiểu được chữ Không trong kinh Bát Nhă. Chữ Không của Bát Nhă đứng vững là dựa trên lư nhân duyên, nếu lư nhân duyên là chân lư th́ chữ Không cũng sẽ là chân lư. Trước hết chúng ta thử xem xét các pháp trên thế gian này có pháp nào không phải nhân duyên sanh hay không? Như chúng ta nh́n thấy ngôi chùa, vậy ngôi chùa từ đâu mà thành? Ai cũng biết đều do nhân công, thợ, thầy, gạch, cát, đá, xi măng v.v... hợp lại thành ngôi chùa. Chớ không bao giờ bỗng dưng nó tự thành, phải đủ nhân, đủ duyên hội hợp mới có. Nhân duyên th́ không phải một thứ mà rất nhiều thứ tụ hợp lại thành sự vật. Cũng vậy, tất cả muôn sự muôn vật trên thế gian này có cái nào vượt ngoài ṿng nhân duyên đâu. Gần đây các nhà khoa học khi t́m hiểu đạo Phật, thấy rơ chủ trương các pháp do nhân duyên sinh của đạo Phật rất phù hợp với khoa học. Bởi v́ khoa học là môn học phân tích sự vật, mà phân tích sự vật th́ không vật nào tự nó có, tất cả đều do sự kết hợp nhiều thành phần mà có. Như vậy vật nào cũng không đơn độc một nhân một duyên có thể thành. Mà chúng rất phức tạp, do nhiều nhân nhiều duyên tụ lại. Chúng ta mới thấy cái nh́n của đức Phật hơn hai ngàn năm về trước rơ ràng, tường tận như thế nào. Sự vật không tự có, không phải ngẫu nhiên có, cũng không do ai làm ra, chỉ khi nhân duyên tụ hội th́ sự vật hiện có, thiếu duyên th́ sự vật ly tán. Giáo lư Phật chỉ rơ cho chúng ta không c̣n mê lầm, nghĩ rằng sự vật do người nào hoặc ngẫu nhiên nó có. Từ cái nhà chúng ta nh́n tới cái bàn, cái ghế, vật nào không phải từ nhân duyên sinh? Cây cối trước mắt chúng ta cũng là nhân duyên sinh, rồi đến con người có phải từ nhân duyên sinh không? Nếu nói đơn giản là do tinh cha huyết mẹ kết tụ lại thành thân con người. Ngày nay với con mắt y học, người ta phân tích có bao nhiêu tỷ tế bào, phân ra từng loại rồi phối hợp lẫn nhau. Nhờ chúng phối hợp sinh hoạt, phát triển th́ thân chúng ta c̣n sống, nếu chúng hư hoại th́ thân này tan nát. Như vậy tất cả sự vật trên thế gian không có cái nào thoát ngoài lư nhân duyên. Như xét cái đồng hồ, vật ǵ là chủ thể của nó? Chúng ta không thể nói cây kim là chủ thể, số là chủ thể. Bộ phận nào là chủ thể cũng không được, mà do đủ các bộ phận ráp lại thành cái đồng hồ. Như vậy duyên hợp th́ nó có, nếu các bộ phận phân tán ra th́ đồng hồ cũng không. Trước mắt chúng ta thấy có đồng hồ, nhưng thực thể cái đồng hồ có hay không? Chỉ là duyên hợp tạm có chớ không thật, v́ nó không có chủ thể. Bởi không có chủ thể nên đủ duyên nó c̣n, thiếu duyên nó mất, không có ǵ cố định hết. Như vậy làm sao nói đồng hồ là thật được. Đă không thật th́ cái ǵ là chủ thể của nó, chẳng qua duyên hợp tạm có, duyên hết hoàn không. Trong kinh A Hàm đức Phật có dạy, người nào thấy được lư nhân duyên th́ người đó thấy được pháp. Thấy được pháp tức là thấy đạo hay thấy Phật. Qua đó chúng ta thấy tầm quan trọng của lư nhân duyên như thế nào rồi. Cũng như vậy, con người do nhân duyên sinh nên không chủ thể, không cố định. Muôn vật trên thế gian này do nhân duyên sinh cũng không chủ thể, không cố định. Tuy không cố định, không chủ thể nhưng đồng hồ vẫn có, đủ duyên th́ nó hiện tiền. Hiểu lư này rồi chúng ta mới bước qua bước thứ hai là chữ Không trong kinh Bát Nhă. Chúng ta đừng lầm chữ Không trong kinh Bát Nhă là trống rỗng, không có ǵ hết. Không là đối với có. Nhưng chữ Không đây là ngay nơi sự vật hiện tiền mắt thấy, tay sờ mó được song chủ thể nó là không, không cố định. Như vậy dù mắt thấy, tay sờ mó được mà nói là Không, đó là không chủ thể, không cố định. Bát Nhă nói Không v́ nó do nhân duyên sinh nên không chủ thể. Cho nên chữ Không trong kinh Bát Nhă c̣n gọi là tánh Không. Hệ thống Bát Nhă gọi đó là tự tánh Không. Tức là không có chủ thể, không tự tánh nhưng sự vật vẫn có giả tướng của nó khi đủ duyên tụ hội. Con người chúng ta cũng do nhân duyên sinh, không có chủ thể, cố định. Vậy gọi ta được không? Chỉ là cái ta tạm bợ, c̣n mất theo duyên, không có giá trị thật. Thế mà lâu nay chúng ta cứ lầm nhận ta là thật, sự vật là thật. Nhà Phật gọi lầm nhận đó là vô minh, là si mê. Người học Phật phải có trí tuệ sáng suốt, thấy đúng như thật. Những ǵ Phật dạy chúng ta quán sát, thấu suốt mới đem ra hướng dẫn chỉ dạy cho người khác, chớ không phải học hiểu suông mà thấy được lẽ thật. Chúng ta thử nghiệm lại thân ḿnh có phải là tạm bợ hay không ? Nếu thân chắc chắn chân thật th́ không bao giờ hoại. V́ do duyên hợp nên thiếu duyên th́ nó sanh ra bệnh tật rồi đi đến bại hoại. Đó là lẽ thật, không c̣n ǵ nghi ngờ nữa. V́ vậy chữ Không của Bát Nhă là không có thực thể, chớ không phải không ngơ giữa có và không. Người ta cứ ngỡ cái bàn trước mắt là có, hư không trống rỗng là không. Đó là cái có không của người đời, c̣n Không của Bát Nhă là không tự tánh, không tự tánh tức là không thực thể. V́ vậy đức Phật nói thân này vô ngă. V́ vô ngă nên không chủ thể, bởi không chủ thể nên tùy duyên mà thành, tùy duyên mà hoại, không phải lúc nào cũng nguyên vẹn. Đó là ư nghĩa cụ thể của đạo Phật. Chúng ta thấy rơ ư nghĩa của chữ Không rồi th́ đối với sự vật hiện tiền mắt thấy, tay sờ mó được là thật có hay thật không? Nói thật có hay thật không đều sai cả v́ nó tạm bợ, chỉ có giả tướng hiện tiền. Như vậy phải nói sao ? Nói các pháp không thật có, do duyên sinh, chỉ tạm có nên nhà Phật gọi như huyễn, như hóa. Đến đây tôi nhớ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở đời Lư có bài kệ: Tác hữu trần sa hữu Vi không nhất thiết không Hữu không như thủy nguyệt Vật trước hữu không không. Tạm dịch: Có th́ muôn sự có Không th́ tất cả không Có không trăng đáy nước Đừng mắc có không không. Ngài Từ Đạo Hạnh diễn đạt h́nh ảnh cho chúng ta thấy rất linh động. Tất cả sự vật nếu nói có th́ vật nào cũng có hết. Tại sao? V́ trên giả tướng mắt thấy, tay sờ mó được. C̣n nếu nói không th́ tất cả đều không hết, v́ chúng là duyên hợp không thật. Không thật nên nói là không. Như vậy nói có và không giống như mặt trăng dưới đáy nước. Đêm rằm ta nh́n xuống hồ nước, thấy mặt trăng hiện dưới đáy nước. Mặt trăng ở đáy nước là thực có hay thực không? Nếu thực có sao đưa tay vớt lên không được. Nếu thực không sao mắt chúng ta thấy rơ ràng. Nên gọi là có mà chỉ là cái bóng, chớ không phải không ngơ. Nhưng là bóng th́ nó không thật. Muôn sự vật ở thế gian này cũng như bóng trăng đáy nước, nh́n thấy như có nhưng rốt cuộc không thực thể. Cho nên có cũng như không, chỉ v́ duyên hợp tạm có. Người ta cứ ngỡ rằng những ǵ mắt thấy tai nghe là thực có, nhưng không ngờ chúng là duyên hợp. Đă là duyên hợp, chúng ta đừng lầm chấp nó thật th́ sẽ không đau khổ. Đây là chỗ khó của người học Phật. Nếu thấy được lư này th́ chúng ta sẽ thấy đạo Phật hay đáo để. |