|
Nó căn cứ trên nguyên tắc này: Cái thể chất phàm tục của con người có thể tạm thời bị tê liệt trong một cơn đồng thiếp mê man, và cái thể chất tâm linh của y, thường vẫn tiềm tàng ẩn dấu, có thể được đánh thức bằng những phương pháp huyền diệu mà chỉ có thể những vị Đạo Trưởng đắc pháp thần thông mới biết được mà thôi. Người thí sinh được đặt vào cơn đồng thiếp như thế bề ngoài xem dường như đă chết thật. Theo ngôn ngữ tượng trưng của Huyền Môn, người ta nói y xuống mồ, hay được chôn dưới mồ. Sau khi nguồn sinh lực thể chất của y bị tạm thời gián đoạn, sức mạnh của dục t́nh và những dục vọng cá nhân của y tạm thời lắng dịu, người thí sinh đă thực sự chết hẳn đối với những sự vật trần gian, trong khi đó tâm thức y, linh hồn y tạm thời tách ra khỏi thể xác. Chỉ có trạng thái đó mới giúp con người tiếp xúc được với cơi giới tâm linh ảnh của các đấng Thần Minh và thiên thần, say xưa niền phúc lạc trong không gian vô tận, thực hiện được chân ngă thầm kín của ḿnh và sau cùng, cảm thông với Thượng Đế.
Một người như thế mới có thể nói một cách thật t́nh là y đă chết rồi sống lại, y đă được chôn dưới mồ một cách tượng trưng và phục sinh trở lại một cách nhiệm mầu, y đă khám phá ra một ư niệm mới về sự chết và tiếp nhận nơi ḿnh một sức sống thiêng liêng hơn. Y c̣n mang trong ḿnh dấu vết của vị Đạo Trưởng đă ban phép mầu cho y, và từ đó về sau, một sợi dây vô cùng bền chặt và thâm sâu đă nói liền với hai người. Từ đó, giáo lư về sự bất tử của linh hồn không phải chỉ là một sự tin tưởng suông mà thôi,nó c̣n là một việc đă được thử thách và hoàn toàn chứng minh cho người đạo đồ. Khi y thức tỉnh trong ánh sáng b́nh minh, y có thể thật sự nói rằng y đă trở lại thế gian, hoàn toàn biến đổi và được hồi sinh về mặt tâm linh. Y đă vượt qua cơi âm ty và cơi Trời, và biết được những điều bí mật ấy không để lộ ra ngoài, từ nay y sẽ đặt nền tảng cho cuộc đời và phép xử thế của y trên căn bản sự hiện hữu thật sự của hai cơi ấy. Từ nay y sẽ sống giữa cả đồng loại của y với một niền tin chắc chắn tuyệy đối về sự bất tử của linh hồn.
Tuy y vẫn giữ cái bí mật của nguồn gốc của sự tin tưởng chắc chắn đó, y cũng không làm sao chuyển giao, dẫu rằng một cách vô ư thức, cho người chung quanh ít nhiều đức tin của y. Y làm phấn khởi những niềm hy vọng và xác nhận sự tin tưởng của họ qua cái hiện tượng thần giao cách cảm bí mật nó luôn luôn tác động giữa mọi người. Y không c̣n tin ở sự chết, mà chỉ tin ở sự sống, sự sống trường tồn và luôn luôn ư thức của chân ngă. Y tin tưởng những ǵ mà vị Đạo Trưởng đă tiết lộ cho y những điều huyền bí: Linh hồn có thật, và đối với y, nó là một tia sáng thiêng liêng, một điểm linh quang của Thượng Đế. Câu chuyện Osiris có ngụ một ư nghĩa cá nhân. Khi con người thấy ḿnh được phục sinh trở lại, y cũng thấy Osiris hiện diện như cái chân ngă bất diệt của ḿnh.
Đó là chân giáo lư của quyển thánh kinh cổ xưa nhất của Ai Cập, quyển Tử Thư(sách của người chết), tuy rằng dưới h́nh thức mà người ta chỉ biết được hiện nay, quyển sách bằng lá chỉ thảo đó đề cập đến người chết thật lẫn người chết giả, tức là người được điểm đạo, do đó mà người đọc thường hay bị lầm lộn ít nhiều. Từ lúc sơ khởi, trước khi bị sữa chữa, soạn đi soạn lại nhiều lần, quyển sách ấy chỉ nói về giáo lư Huyền Môn; điều này được làm sáng tỏa một phần do đoạn trích lục sau đây: "Đây là quyển sách Huyền Môn vô cùng quư báu. Mắt kẻ phàm tục không được xem sách này; đó là một điều xúc phạm khôn lường. Sách này phăi được cất kỹ. Nó gọi là: Quyển kinh của vị Đạo Trưởng trong ngôi đền bí mật."
Bởi đó, trong quyển Tử Thư, người chết (đúng ra là người đạo đồ) nhiều lần để tên Osiris đứng trước tên của ḿnh. Trong những bản chính đầu tiên của quyển kinh ấy, người đạo đồ nói: "Tôi là Osiris, tôi đă xuất như Ngài, tôi sống như các đấng Thần Minh. " Câu ấy nói lên một cách hùng hồn sự diễn đạt cái chết của Osiris như là sự chết giả của người đạo đồ trong cơn xuất thần.
Bây giờ chúng ta có thể hiểu cái tầm quan trọng thật sự của những tôn giáo cổ, bằng cách nhận thức rằng những nhân vật chính của những tôn giáo ấy là biểu tượng linh hồn của con người và những cuộc phiêu lưu của những nhân vật ấy diễn tả những kinh nghiệm của linh hồn trên đường phản bổn hườn nguyên để trở về chốn cũ của nó là cơi Thiên Đường cực lạc.
Osiris trở nên h́nh ảnh của yếu tố thiêng liêng trong con người, câu chuyện Osiris là câu chuyện tượng trưng của yếu tố đó, sự giáng hạ của nó xuống những cơi vật chất và sự trở về của nó để thăng lên cơi ư thức tâm linh.
Huyền thoại của Osiris bi phân thay thành mười bốn hay bốn mươi hai mảnh là tượng trưng sự phân rẽ tâm linh của con người, làm cho sự điều ḥa cổ xưa của y nay đă bị găy đổ. Lư trí của y đă bị tách rời khỏi t́nh cảm của y, cũng như sự tách rời giữa thể xác với tinh thần, sự lầm lẫn và những dục vọng trái ngược nhau tŕ kéo y về những đường hướng ngược chiều. Cũng y như thế, câu chuyện Isis thu nhặt, ráp những mảnh thi hài của Osiris và làm cho y sống dậy, tượng trưng cho sự phục hồi, sự tái lập trạng thái điều ḥa trong con người đang có sự xung đột bên trong nội tâm, bằng cuộc điểm đạo lúc đương thời và bằng sự tiến hóa trong tương lai. Sự điều gḥa đó được tái lập bởi sự thỏa hiệp giữa tinh thần và thể xác cùng làm việc chung với nhau, và bởi chiều hướng song đôi của lư trí và t́nh cảm kể từ lúc ấy. Đó là sự phục hư6ng của trạng thái hợp nhất nguyên thủy.
Giáo điều cao siêu nhất của người cổ Ai Cập, căn bản lư thuyết của những cấp bậc điểm đạo tối cao, dạy rằng linh hồn con người phải trở về với đấng Thiêng Liêng là nguồn gốc sơ khởi của nó, sự trở về đó được gọi là: Trở thành Osiris. Con người dẫu khi c̣n ở thế gian, được coi như có cái tiềm năng để trở thành một Osiris. Trong quyển Tử Thư, quyển sách bí truyền về lễ điểm đạo, có nói rằng linh hồn người thí sinh, một khi đă giải thoát, có bổn phận che chở cho y trong những chuyến hành tŕnh lâu dài và nguy hiểm ở dưới cơi âm ty, không những bằng cách sử dụng bùa phép, mà c̣n bằng cách mạnh dạng tuyên bố: "Ta là Osiris."
Quyển sách ấy cũng nói: "Hỡi linh hồn mù quáng! Hăy nắm lấy ngọn đuốc sáng của Huyền Môn và trong đêm tối của thế gian, người sẽ khám phá ra cái chân ngă bất diệt. Hăy noi theo sự hướng dẫn Thiêng Liêng của nó, nó sẽ là vị Thần hộ mạng của ngươi, v́ nó nắm giữ cái ch́a khóa sự sinh tồn trong dĩ văng và tương lai của ngươi."
Như thế, cuộc điểm đạo là sự đạt tới một viễn ảnh mới của cuộc đời, cái viễn ảnh tâm linh mà nhân loại đă đánh mất trong thời dĩ văng xa xăm, khi nó rơi từ "Thiên Đàng" xuống cơi vật chất. Khoa Huyền Môn giúp ta thực hiện sự phản bổn hoàn nguyên từ bên trong, và đưa ta đi tuần tự từ bước một đến sự giác ngộ hoàn toàn. Khoa Huyền Môn hé mở cho ta thấy trước hết những cơi giới huyền bí ngoài giới hạn cơi vật chất hồng trần, và sau đó, tiết lộ cho ta điều huyền diệu rốt ráo, và tính chất thiêng liêng của con người. Khoa ấy làm cho người thí sinh phải nh́n thấy những cảnh giới địa ngục âm ty để thử thách tâm trí và ḷng kiên quyết của y cũng như y có dịp học hỏi. Kế đó khoa Huyền Môn cho y thấy những cảnh giới Thiên Đàng để khuyến khích và ban ân huệ cho y. Nếu khoa ấy phải dùng đến phương tiện đồng thiếp, điều đó không có nghĩa là không c̣n có phương pháp nào khác. Đó chỉ là một đườnglối áp dụng, nhưng cơi tâm linh có thể đạt tới bằng cách noi theo những đườnglối khác, và không cần phải áp dụng phương pháp xuất thần.
Một vị đạo đồ La Mă có nói: "Nơi nào có chúng ta, th́ sự chết không có, chỗ nào có sự chết th́ chúng ta không có. Đó là cái ân huệ tối thượng, và quư báu nhất của thiên nhiên, v́ sự chết giải thoát con người khỏi mọi sự ưu phiền."
|