| Quá tŕnh nhập thai, Trụ thai và xuất thai
Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát
Viết bởi Nguyên Liên
A. DẪN NHẬP.
Sau khi mạng chung, chúng sanh tùy theo nghiệp lực thiện hay ác lúc sanh tiền đă tác tạo, mà tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi. Sáu cảnh giới luân hồi là thiên, nhân, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, và địa ngục. Theo đạo Phật, có bốn cách để thọ sanh một kiếp sống mới. Đó là noăn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh.
Noăn sanh là các loài hữu t́nh sanh ra từ trứng, như loài ngỗng, chim sẻ... Thai sanh là các loài hữu t́nh sanh ra từ thai mẹ, như con người, voi, ngựa... Thấp sanh là các loài hữu t́nh sanh ra từ nơi ẩm thấp, như trùng, mọt... Hóa sanh là các loài hữu t́nh sanh ra bằng cách tự nhiên hóa hiện, như chư thiên, chúng sanh cơi địa ngục...
Theo Du già sư địa luận (q1), tùy theo việc đoạn trừ phiền năo có sâu hay cạn, phước báo nhiều hay ít, giữa kẻ phàm người thánh mà dẫn đến việc nhập thai, trụ thai và xuất thai của mỗi loài có hạnh phúc hay khổ đau sai khác. Trong phạm vi bài này, chúng ta thử t́m hiểu về quá tŕnh nhập thai, trụ thai và xuất thai đầy đau khổ của phàm phu như thế nào.
B. NỘI DUNG
I. Tiến tŕnh nhập thai của phàm phu.
1. Điều kiện nhập thai.
Sự kết thai của chúng sanh là do ba yếu tố hỗn hợp là tinh cha, huyết mẹ và thần thức. Tuy nhiên dù có đủ ba yếu tố đó nhưng phải hội đủ các duyên, và không có một số chướng ngại sau mới h́nh thành được thai bào.
a. Sinh lư.
* Muốn h́nh thành thai bào phải hội đủ ba điều kiện.
- Người mẹ tâm ư điều ḥa thuận thích, lại đúng thời kỳ rụng trứng.
- Cha mẹ quan hệ và cùng khởi ư niệm ái nhiễm.
- Thân trung ấm đang có mặt.
* Lại không có một số chướng duyên như sau.
- Khi ḥa hợp tinh cha ra nhưng tinh mẹ không ra, hay ngược lại.
- Người mẹ có một số bịnh như tử cung lạnh, khí huyết thành cục, vàng vơ nhiều đàm… hoặc một số bịnh của người cha, hoặc uống thuốc tránh thai.
- Cha mẹ tôn quư có phước đức, nhưng trung ấm ti tiện kém phước, hay ngược lại cha mẹ ti tiện kém phước, mà trung ấm tôn quư có phước đức th́ cũng không thành thai.
b. Nghiệp báo.
Nghiệp báo giữa cha mẹ và con cái phải có nhân duyên với nhau mới thành thai. Hoặc có khi cha mẹ cùng con đều tôn quư hoặc ti tiện, nhưng nghiệp duyên giữa cha mẹ và con cái không hợp cũng không thể thành thai.
Mối quan hệ nghiệp báo giữa cha mẹ và con cái, không ra ngoài một trong bốn trường hợp sau.
- V́ trả ân sanh làm con: con cái đối với cha mẹ trong nhiều đời quá khứ đă mang ân nghĩa, đời này sanh làm con để trả lại những ân nghĩa xưa. V́ thế, có những người con khi nhỏ đă sống hiếu thảo với cha mẹ, chăm lo học tập, làm cho cha mẹ vui ḷng, lớn lên thi cử đỗ đạt, thăng quan tiến chức, nhờ đó mà cha mẹ cũng được tiếng thơm với xă hội.
- V́ trả oán sanh làm con: cha mẹ đối với con cái trong quá khứ đă từng gây nhiều oan ức, oán thù, người con kiếp này sanh làm con để trả lại những oán thù xưa. V́ thế, có những người con khi c̣n nhỏ tuổi đă sanh ḷng ngỗ nghịch, bất hiếu, đến khi lớn lại gây tai họa, ăn chơi đàng điếm, khiến cho cha mẹ khổ lụy phải mất danh tiếng với xă hội.
- V́ đ̣i nợ sanh làm con: cha mẹ đối với con cái trong nhiều đời quá khứ đă nợ nần tiền bạc, người con kiếp này sanh làm con để đ̣i lại những nợ nần xưa. V́ thế, có những người con, khi mới sanh ra đă mang nhiều tật bịnh, hoặc c̣n nhỏ tuổi cha mẹ dày công nuôi dưỡng, tốn nhiều tiền bạc cho ăn học, nhưng khi đỗ đạt thành danh th́ lại chết, hoặc không giúp đỡ ǵ cho cha mẹ.
- V́ trả nợ sanh làm con: người con trong nhiều đời quá khứ đă từng nợ nần hay thiếu tiền bạc nơi cha mẹ, đời này sanh làm con để trả nợ xưa. V́ thế, có những người con khi c̣n nhỏ tuổi đă chăm lo làm lụng, dăi nắng dầm mưa đem tiền về nuôi dưỡng cha mẹ. Tùy theo số nợ nhiều hay ít, mà ở với cha mẹ thời gian dài hay ngắn, đến khi trả hết nợ rồi chết hoặc bỏ nhà đi.
2. Tiến tŕnh nhập thai.
a. Tâm niệm vào thai.
Tâm lư của trung ấm khi vào thai mẹ vô cùng phức tạp, bởi do ái dục làm chủ thân trung ấm trong suốt quá tŕnh tồn tại, v́ thế tâm lư trung ấm trước khi vào thai luôn khao khát ái dục, và bị ái dục thiêu đốt làm cho tâm bức xúc, nóng nảy khổ đau bất tận.
Với tâm lư thèm khát những rung động dục t́nh, nhưng không đủ điều kiện để thỏa măn (do thân trung ấm phần sắc chất rất vi tế), nên giữa không gian mênh mông, khi thấy đốm lửa dục lóe lên từ nơi cha mẹ giao hợp, trung ấm bèn duyên theo tâm dục của cha mẹ khởi lên vô số vọng tưởng và sanh ái tâm lẫn sân tâm.
Trung ấm nếu là con gái, liền đối với người cha khởi tâm tham muốn, sanh ḷng ghét bỏ người mẹ. Nếu là con trai, liền đối với người mẹ khởi tâm tham muốn và sanh ḷng ghét bỏ người cha. Ngay lúc trung ấm sanh ái tâm lẫn sân tâm cũng chính là lúc trung ấm chuẩn bị nhập thai.
b. Quá tŕnh vào thai.
Khi cha mẹ quan hệ ở giai đoạn tham ái cùng cực, mỗi người xuất ra một giọt tinh huyết và ḥa hợp lẫn nhau, ngay lúc đó trung ấm liền sanh ư niệm chấp thủ, muốn gá hợp vào giọt tinh huyết, mà nhập vào thai bào.
- Nếu trung ấm phước kém, sẽ sanh vào nhà hạ tiện. Bấy giờ trung ấm bỗng thấy toàn thân nóng lạnh, bức bách khó chịu, tai nghe vô số âm thanh hoảng loạn, chát chúa, lại thấy cảnh mưa gió mù mịt, người đông đảo, nhiều thú dữ đến rượt đuổi... Ngay đó trung ấm khởi lên ư niệm, ta phải chạy vào hang động, rừng rậm, núi đồi... để tránh các sự khủng bố này. Sau khi khởi ư niệm, trung ấm liền cố chạy ra xa, ngay đó liền nhập thai.
- Nếu trung ấm có phước, sẽ sanh vào nhà tôn quư. Bấy giờ, trung ấm cũng cảm thấy toàn thân nóng lạnh, bức bách khó chịu, tai nghe vô số âm thanh hoảng loạn, chát chúa, lại thấy cảnh mưa gió mù mịt, người đông đảo, nhiều thú dữ đến rượt đuổi... Ngay đó trung ấm khởi lên ư niệm, ta phải chạy lên lầu cao, lên cung điện, vào tháp miếu... để tránh các sự khủng bố này. Sau khi khởi ư niệm trung ấm cố chạy ra xa, ngay đó liền nhập thai.
II. Quá tŕnh trụ thai.
1. Tiến tŕnh sinh trưởng.
Chúng phàm phu khi ở trong thai mẹ, thai nhi ở dưới can cách và trên đại trường. Trong thời gian ở trong thai, thai nhi phải chịu muôn vàn khổ sở…
Sau khi đầu thai vào loài nào, thai nhi phải trải qua thời gian tương đương với loài ấy rồi mới được sanh ra. Thai tạng khi sanh trưởng đều phải trải qua tám vị sai biệt.
- Yết la lam vị: lúc tinh huyết mới đọng lại c̣n hơi lỏng như mũi tên.
- Yết bộ đàm vị: lúc thai tạng chưa sanh thịt, trong ngoài như sữa đặc.
- Bế thi vị: lúc thai nhi mới tượng h́nh có dáng hai tay khép lại, thịt đă sanh nhưng c̣n rất mềm.
- Kiền nam vị: lúc khối thịt đă hơi cứng có thể xoa rờ được.
- Bát la xa khê vị: lúc thai nhục lớn lên, hiện ra tướng tay chân và đầu.
- Phát mao trảo vị: lúc tóc, lông, móng tay và chân hiện ra.
- Căn vị: lúc phát sanh tay, mắt, mũi, miệng và đường đại tiểu tiện.
- H́nh vị: lúc các tướng nơi thân hiện ra đầy đủ.
2. Tâm lư thọ báo.
Trong thời gian trụ thai, tâm lư thai nhi trải qua những tướng dị biệt, hoặc có khi vọng tưởng điên đảo, như thấy ḿnh đang ngồi trên xe ngựa, hay đi thuyền ở lầu cao, nằm trên giường, nghe tiếng suối chảy… có khi thai nhi sanh niệm buồn chán đến tột độ, đau đớn bức bách.
Giai đoạn này, tâm lư thai nhi do bị sự dày ṿ của ái tâm, sân tâm, nhưng không có đối tượng để thỏa măn, khiến thai nhi sanh ra vô số niệm bất như ư. Lại thai nhi phải chịu sự tù túng của thai bào, như ở trong ngục tối; xung quanh bao bọc đầy những máu mủ bất tịnh, khiến thai nhi cảm thấy bức bách khó chịu vô cùng. Lại do ảnh hưởng của người mẹ, trong khi mang thai không biết giữ ǵn, khiến thai nhi đă thống khổ lại càng thêm thống khổ.
Chung quy, tâm lư thai nhi không ngoài các tâm lư, như tâm lư điên đảo v́ khởi ḷng mong cầu nhưng không được đáp ứng, tâm lư sân nộ chán ghét v́ sự bất tịnh, tâm lư buồn bực v́ sự hôi hám nhơ bẩn, tâm lư bức bách v́ trong ngục tối, tâm lư chán nản đeo đẳng v́ không lối thoát... Tất cả những tâm lư sầu khổ đó đều không ngoài nghiệp nhân bất thiện trong quá khứ mà thai nhi đă tác tạo để biến hiện thành cảnh thọ dụng bất như ư khi ở trong thai mẹ.
3. Ảnh hưởng của người mẹ đối với thai nhi.
Trong thời kỳ mang thai, hoặc do năng lực của nghiệp, hoặc do năng lực những điều không quân b́nh bởi người mẹ không biết kiêng cử, khiến cho thai nhi hoặc là tóc, hoặc là màu sắc, hoặc là da, hoặc những chi phần khác bị biến dạng sau khi sanh ra.
Trong thời gian mang thai, chế độ dinh dưỡng, cũng như môi trường sống của người mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến thể chất, h́nh sắc vóc dáng của người con.
Trong lúc mang thai, nếu người mẹ ưa hành dâm, thai nhi sẽ có làn da ghẻ chốc, sần sùi, hoặc người mẹ không khéo giữ ǵn, thường chạy nhảy hoặc làm những việc nặng, do ảnh hưởng đó, có thể các chi phần của thai nhi cũng bị xiên vẹo, không được hoàn chỉnh.
4. Sự khó khổ của người mẹ khi mang thai.
Người mẹ trong chín tháng mang thai, thân thể nặng nề mỏi nhọc, tợ như người mang đá nặng ngàn cân bên ḿnh. Trong mỗi hành động đi, đứng, nằm, ngồi đều không được tự nhiên. Lại do sức nghiệp cảm của thai nhi tác động, người mẹ có những xáo trộn về ăn uống khác với lúc b́nh thường. Khi thai nhi vùng vẫy, người mẹ cảm giác tợ như có ai lấy cây đánh mạnh vào thành bụng. Khi thai nhi đói khát cấu xé, người mẹ dường như rách nát tâm can.
Kể từ khi mang thai, tâm người mẹ có những biến chuyển rơ rệt. Do tâm sân của thai nhi ảnh hưởng khiến người mẹ có những cơn nóng giận vô cớ. Lại do tâm tham dục của thai nhi, trong thời gian mang thai, người mẹ thích hành dâm nhiều hơn. Lại, có nhiều người mẹ trong khi mang thai ưa thích những cảnh ma quái, cảnh đâm chém lẫn nhau, và trong thời gian này thường có vô số ác quỷ đoanh vây phá hại người mẹ.
|