|
III. Quá tŕnh xuất thai.
1. Tiến tŕnh xuất thai.
Thai tạng nếu là con gái sẽ ở bên hông trái người mẹ, tựa lưng vào xương sống, hướng mặt ra phía bụng. Nếu là con trai sẽ ở bên hông hữu người mẹ, tựa lưng vào bụng và hướng mặt ra xương sống.
Khi thai tạng đủ tháng đủ ngày, người mẹ không c̣n kham giữ được nữa, lúc gió bên trong nổi lên, người mẹ đau đớn vô cùng. Lại bởi nghiệp báo của thai tạng phát khởi, gió sanh phần dấy lên, khiến cho đầu thai nhi hướng xuống, chân quay lên, xuôi hai tay như sắp muốn ra, vỏ thai bao bọc xung quanh hướng ra sản môn. Đúng lúc thoát ra, vỏ bọc thai bị xé rách phân ra hai nách. Lúc thai nhi ra khỏi sản môn mới thực sự gọi là sanh.
Nếu đứa bé đời trước có tạo nghiệp đọa lạc, th́ tay chân ngang dọc không xoay trở được, chết trong bụng mẹ, làm cho người mẹ rất đau đớn khổ sở hoặc có thể mạng chung. Như đứa bé đời trước tạo những nghiệp lành hay gây nhân sống lâu, th́ sanh nở dễ dàng, khi sanh ra mẹ con đều an ổn.
2. Nỗi khổ đau của thai nhi khi xuất thai.
Tâm lư thai nhi khi xuất thai thật hoảng loạn vô cùng, thai nhi phải lộn ngược đầu xuống để chun qua sản môn người mẹ mà ra. Trạng thái khổ sở lúc xuất thai của phàm phu cũng ví như người, đầu phải lộn xuống đất, hai chân đưa lên trời.
Lại khi chun qua sản môn, thai nhi cảm thấy như bị hai tảng đá nặng ngàn cân ép chặt vào thân… Cộng với máu mủ tuôn trào, sự thay đổi môi trường, thời tiết khi xuất thai, khiến thai nhi đau đớn hốt hoảng và đầy lo sợ.
Phải chăng tiếng khóc đầu đời của hài nhi, nhằm báo hiệu cho mọi người biết đă có một sinh linh xuất hiện trên trần thế, đó là tiếng khóc thét, ngơ hầu làm vơi đi bao nỗi buồn chán, nỗi bực tức, nỗi hằn học... của thai nhi khi ở trong thai mẹ, và nỗi đau đớn tột độ khi sanh ra, cũng như nỗi hốt hoảng tột cùng, khi gặp phải một cuộc đời đen tối đang đón chào.
Thảo nào khi mới chôn nhau
Đă nghe tiếng khóc ban đầu mà ra
Khóc v́ nỗi thiết tha sự thế
Ai bày tṛ băi bể nương dâu
Trăm năm c̣n có ǵ đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh ŕ.
(Cung oán ngâm khúc)
3. Nỗi nguy hiểm của người mẹ lúc sanh nở.
Mang thai đến tháng thứ mười, là lúc thai nhi lộn ngược, đầu hướng xuống sản môn, h́nh chất lần lần to lớn, thời gian này người mẹ luôn ở trong trạng thái hồi hộp khó thở, ăn không ngon miệng, ngủ không an giấc. Trước giờ chuyển bụng, người mẹ đau đớn vô vàn, khuôn mặt nhợt nhạt, mồ hôi tuôn trào, ruột gan cảm nhận dường như bị ai cấu xé, thân thể như bị ai phanh ra. Những cơn đau co thắt trong ruột, làm cho người mẹ đi, đứng, nằm, ngồi không yên.
Khi đứa con từ từ sinh ra, người mẹ cảm thấy như bị ai banh da xẻ thịt, đau đớn vạn trạng máu huyết dầm dề. Toàn thân người mẹ co giật, nghe trong người các cơ thịt co rút, lại mỗi lần sanh nở người mẹ phải mất biết bao nhiêu máu và tủy, khiến cơ thể yếu đi và các đốt xương đen và dễ găy...
Trong khi sanh nở vô cùng nguy hiểm, thậm chí có trường hợp hy sinh người con để cứu sống mẹ, hay ngược lại hy sanh mẹ để cứu sống con, có trường hợp cả mẹ lẫn con đều chết trên giường sanh. Cảnh đau đớn vạn trạng và nhuốm đầy màu tang tóc lúc người mẹ sanh nở quả thật đáng kinh đáng sợ biết dường nào.
4. Giáo dục thai nhi.
Đạo Phật chủ trương giáo dục con người ngay khi c̣n ở trong thai bào. Việc giáo dục thai nhi trong đạo Phật được nhân gian đúc kết thành câu tục ngữ: “Đặt con vào dạ, mạ lo đi tu”.
Kinh Phổ Môn dạy chúng ta, muốn sanh được con cái hiếu thảo, trước và trong thời kỳ mang thai, người mẹ thường nên tŕ niệm thánh hiệu Quán-thế-âm Bồ-tát sẽ đạt được như sở cầu. Niệm Quán-thế-âm Bồ-tát, có nghĩa là chúng ta thường nhớ nghĩ đến tư tưởng thánh thiện trong nội tâm, tư tưởng thánh thiện là tư tưởng lắng nghe tiếng khổ đau của mọi người để t́m cách cứu giúp, đồng thời đừng để cho những ư niệm tạp loạn, ư niệm ác độc xâm nhập vào tâm trong thời kỳ này.
Do tư tưởng thánh thiện của người mẹ trước khi chuẩn bị mang thai, sẽ chiêu cảm các loại thân trung ấm là những bậc hiền thánh nhập thai vào làm con của ḿnh. Cũng như trong thời kỳ thai nhi trụ thai, do tư tưởng thánh thiện của người mẹ, sẽ có tác động giáo dục rất lớn đối với thai nhi để sau này h́nh thành nhân cách thanh cao của người con.
C. KẾT LUẬN
Do nghiệp nhân đă tạo trong quá khứ, mà phần nhiều chúng sanh sau khi chết đều phải trải qua giai đoạn thọ thân trung ấm. V́ vậy, chúng sanh phải chịu vô vàn sự khổ khi ở trong giai đoạn trung ấm, rồi bao cảnh nhọc nhằn khi vào thai, ở trong thai và khi xuất thai. Để rồi ḍng chảy cuộc đời cứ cuồn cuộn cuốn tất cả chúng sanh trôi nỗi dập d́u trong sông mê, biển ái đáng ngán đáng sợ dường nào.
Tất yếu đă có thân là có khổ, bởi khổ là do chúng ta có ư niệm chấp ngă về thân, như Lăo tử nói : “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân” (ta có hoạn lớn v́ ta có thân). Chúng ta chỉ có con đường “Thoát ly huyễn thân, chứng nhập pháp thân” mới chấm dứt sự khổ. Con đường đó chư Phật đă diễn bày rơ ràng trong kinh điển.
Nói tóm lại, chúng ta chỉ cần “Nói theo những ǵ Phật đă nói, làm theo những ǵ Phật đă làm, nghĩ theo những ǵ Phật đă nghĩ” tức chúng ta sẽ hoàn toàn thoát khổ. Khổ đau hay hạnh phúc, trói buộc hay giải thoát, việc đó hoàn toàn do mỗi cá nhân tự quyết định.
IV. Bồ-tát đản sanh.
1. Trạng thái thanh thoát của hoàng hậu khi đản sanh Bồ-tát.
Trạng thái sanh nở của hoàng hậu, khi hạ sanh Bồ-tát đầy an nhàn và tự tại, so với các sản phụ khác lúc sanh con quả thật là một trời một vực. Hoàng hậu không có những tâm lư biến loạn sợ hăi, không có những tâm lư tham đắm, không có những tâm lư đau đớn tột cùng khởi lên. Hoàng hậu trong tâm trạng an nhàn, tự tại, đi ngắm vườn hoa rực rỡ, vườn Lâm-tỳ-ni, để rồi đản sanh Bồ-tát.
Về thân thể, hoàng hậu không phải chịu sự đau đớn bức bách khi thai nhi đạp vào bụng để chuẩn bị xuất thai. Hoàng hậu không ở trong trạng thái lơa lồ bất tiện, rên la kêu khóc, máu huyết dầm dề, không rơi vào cảnh khó sanh nguy hiểm đến tánh mạng...
Sử ghi lại, trong khi hoàng hậu đứng ngắm hoa nở dưới cội cây Vô ưu, ngước mắt nh́n lên, đưa cánh tay mặt từ từ vịn cành hoa xuống, Bồ-tát từ bên hông hữu của hoàng hậu sanh ra. Quả thật, đây là một cảnh tượng sanh nở đầy an nhàn tự tại, mà từ ngàn xưa đến ngàn sau, không có bất kỳ một người mẹ nào có được trạng thái sanh con hy hữu như vậy.
2. V́ sao Bồ-tát hạ sanh tại vườn Lâm-tỳ-ni.
Vấn đề đặt ra, tại sao Bồ-tát không đản sanh tại cung thành, mà lại sanh tại vườn Lâm-tỳ-ni? Sự việc này không phải tự nhiên (tức đi qua vườn Lâm-tỳ-ni hoàng hậu chuyển bụng) mà đều có duyên cớ của nó. Sở dĩ Bồ-tát không sanh trong cung thành, mà sanh tại vườn Lâm-tỳ-ni không ngoài hai lư do sau:
Thứ nhất, trong quá tŕnh hành Bồ-tát đạo, Bồ-tát thường ưa thích chỗ núi rừng thanh vắng yên tĩnh, chán ghét nơi phố thị đông đúc ồn ào, v́ thế Ngài không sanh tại cung thành, mà lại đản sanh nơi khu rừng vắng. Quán sát cuộc đời của đức Phật, chúng ta sẽ thấy, không những khi đản sanh, mà ngay cả khi thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn, đức Phật đều ở tại những khu rừng vắng vẻ.
Thứ hai, sở dĩ Ngài đản sanh nơi khu rừng vắng, bởi khi có một vị Phật xuất thế sẽ có vô lượng chúng sanh đem các hương hoa, phan lọng, trỗi các kỹ nhạc... đến cúng dường. Do vậy, Bồ-tát đản sanh nơi khu rừng vắng để tiện lợi cho trời, rồng, quỷ thần... đem các phẩm vật đến cúng dường.
Nếu Bồ-tát sanh trong cung thành, th́ trời, rồng, quỷ thần... không thể đem vật phẩm cúng dường, v́ ác nghiệp chúng sanh ngăn cản, c̣n chúng sanh trong thành lúc đó chưa có tín tâm, tâm họ đầy ngă mạn… nên không thể đem phẩm vật đến cúng dường ngày Bồ-tát đản sanh.
3. Bồ-tát đản sanh.
a. Ư nghĩa quả đất rung động sáu cách.
Tất cả những cảnh vật xung quanh thay đổi tốt hay xấu khi có một chúng sanh xuất hiện, là nhằm nói lên phước nghiệp hay phi phước nghiệp của chúng sanh đó. V́ thế dưới tuệ nhăn của các bậc thánh, các Ngài có thể quán sát những biến đổi của trời đất khi chúng sanh đó sanh, mà biết được chính xác tương lai xán lạn hay đen tối của chúng sanh này. Do vậy, khi có một vị Phật đản sanh, sẽ có những hiện tượng tốt lành như các loài hoa chen chúc nở, ánh sáng rực rỡ bốn bề, quả đất rung động sáu cách... là lẽ tất nhiên vậy.
Quả đất rung động sáu cách, kinh Đại phẩm Bát-nhă chép như sau: phía đông quả đất vọt lên, phía tây quả đất ch́m xuống; phía tây quả đất vọt lên, phía đông quả đất ch́m xuống; phía nam quả đất vọt lên, phía bắc quả đất ch́m xuống; phía bắc quả đất vọt lên, phía nam quả đất ch́m xuống; phía bên ngoài quả đất vọt lên, phía bên trong quả đất ch́m xuống; phía bên trong quả đất vọt lên, phía ngoài quả đất ch́m xuống.
Quả đất rung động sáu cách khi Phật đản sanh nhằm nói lên hai ư nghĩa. Ư nghĩa thứ nhất là sự hộ tŕ của mười phương chư Phật khi có một vị Phật xuất hiện ở thế gian. Ư nghĩa thứ hai là sự hoan hỷ, sung sướng tột cùng của sáu đạo chúng sanh khi có một vị Phật xuất thế.
b. Ư nghĩa sanh dưới cội cây Vô ưu.
Vô ưu, phạn ngữ Asóka, dịch âm là A-thâu-ca, nguồn gốc cây này ở Hy mă lạp sơn, thân cây thẳng, lá tṛn dài, hoa màu hồng, đặc biệt rất ít khi nở hoa (theo truyền thuyết Ấn Độ, khi nào hoa Vô ưu nở, tức có bậc thánh nhân xuất hiện). Vô ưu, theo ư nghĩa tôn giáo, có nghĩa là “Không có sự lo âu, buồn phiền”.
Tất cả chúng phàm phu, do nghiệp nhân bất thiện trong quá khứ, nên hiện đời phải sanh ra để lănh chịu những khổ cảnh, v́ thế chúng phàm phu khi mới sanh ra đă lo âu, buồn phiền, run sợ, biểu hiện nỗi run sợ đó qua tiếng khóc của thai nhi khi vừa mới chào đời. C̣n Bồ-tát th́ khác, các Ngài là những bậc đă dứt sạch mọi ác nghiệp, thành tựu đầy đủ các công đức, kiếp này v́ t́nh thương và đại nguyện độ sanh mà thị hiện vào đời, v́ thế các Ngài sanh ra trong sự hỷ lạc, hoàn toàn khác với sự lo âu của chúng phàm phu.
Tóm lại, Bồ-tát sanh dưới cội cây Vô ưu nhằm nói lên ư nghĩa: Bồ-tát sanh ra trong niềm hỷ lạc, trong sự hoan hỷ, chứ không phải sanh ra trong sự lo âu, buồn phiền như bao chúng sanh khác trong cuộc đời.
c. Ư nghĩa sanh ở hông bên hữu.
Tất cả chúng sanh đều do ái dục mà sanh, do ái dục mà tồn tại và cũng do ái dục mà phải luân hồi trong các thú. Chính ái dục mới là động lực duy nhất có đủ sức mạnh để lôi kéo chúng sanh qua lại trong tam giới, chứ không một ai khác có đủ sức mạnh dù trời, rồng, quỷ thần... có thể lôi kéo chúng sanh được. V́ chúng sanh do ái dục mà sanh, nên cũng phải sanh ra từ nơi ái dục, sanh ra từ nơi nữ căn người mẹ (chỗ biểu thị tột cùng của ái dục), điều này cũng dễ hiểu mà thôi.
C̣n chư Phật, Bồ-tát th́ khác, các Ngài đă đoạn sạch vô minh và ái dục, do đó các Ngài không c̣n bị sự sanh tử luân hồi chi phối. Do v́ t́nh thương và đại nguyện cứu độ chúng sanh mà các Ngài thị hiện vào cơi ngũ trược ác thế này. V́ thế các Ngài không sanh ra từ nơi nữ căn của người mẹ, mà sanh ra từ hông bên hữu, là nơi sạch sẽ thanh tịnh, không vướng chút bợn nhơ ái dục. Sanh ra từ hông bên hữu, sanh không có vết sanh nói lên ư nghĩa Bồ-tát sanh ra từ chỗ vô sanh, Bồ-tát không c̣n bị sanh tử luân hồi chi phối nữa, Ngài là bậc đă thực chứng vô sanh.
Bồ-tát sanh ra từ hông bên hữu c̣n nói lên một ư nghĩa nữa, là Bồ-tát tùy thuận tâm mong cầu của thế gian mà sanh. Bên hữu là chiều thuận, phù hợp với ṿng quay của trái đất. Bồ-tát sanh từ hông bên hữu người mẹ, ư nói chúng sanh hiện đang khao khát có một vị đạo sư toàn năng toàn trí xuất hiện để làm hướng đạo cho mọi người. Ứng theo tâm nguyện mong cầu của chúng sanh, đức Phật đă xuất hiện để tuyên thuyết giáo lư vô ngă, đáp ứng nhu cầu thăng hoa chính đáng cho con người.
|