|
Gia đ́nh, sở làm, toàn cơi thế gian đối với tôi lúc ấy có vẻ xa với biết bao nhiêu trong khi tôi lắng nghe những lời dạy đó của Sư phụ tôi trong vùng Tuyết Sơn hẻo lánh hoang vu. Tuy nhiên, chân lư đă do cửa miệng của ngài thoát ra, hang động yên tịnh này. Đức Babâji bèn dạy cho tôi biết những luật lệ cổ xưa và bất biến về việc truyền pháp Yoga giữa Tôn sư và đệ tử. Sư phụ nói:
- Con chỉ nên truyền bí thuật Kriyâ Yoga cho những môn đệ xứng đáng. Người nào sẵn sàng từ bỏ và hy sinh tất cả để t́m đạo, mới thật xứng đáng được truyền thụ những bí pháp giúp cho y thâu triệt được vấn đề sinh tử bằng cách tham thiền.
- Bạch sư phụ, sư phụ đă ban cho thế gian bằng cách phụ hồi đạo pháp Kriyâ Yoga đă bị mất đi trong quên lăng, th́ nay cũng xin Sư phụ hăy mở lượng từ bi mà làm dịu bớt những luật lệt khắt khe về việc chọn lọc đệ tử.
Tôi nh́n Babâji với đôi mắt khẩn cầu:
- Con xin sư phụ cho phép cho truyền pháp Kriyâ Yoga cho tất cả những kẻ tầm Đạo, dẫu rằng họ vẫn chưa sẵn sàng đạt tới sự dứt bỏ hoàn toàn từ bên trong. Người thế gian, cả nam lẫn nữ, đều đang bị dày ṿ trong đau khổ cả thể chất lẫn tinh thần, phải cần được nâng đỡ và khuyến khích. Họ sẽ không bao giờ t́m thấy chính đạo nếu họ bị từ chối không được truyền thụ Đạo Pháp Kriyâ Yoga.
- Ta chuẩn y lời cần xin đó. Thiên Ư được biểu lộ qua cửa miệng của con.
Bằng những lời đó, sư phụ đă đánh đổ những bức rào ngăn cách từ muôn đời vẫn che dấu đạo pháp Kriyâ Yoga trước mắt người thế gian.
- Con hăy truyền pháp Kriyâ cho tất cả những người tầm Đạo với tấm ḷng khiêm tốn.
Sau một lúc im lặng, Babâji nói tiếp:
- Con hăy lập lại cho mỗi đệ tử lời hứa hẹn này trong kinh Bhagavad Gita: "Dẫu chỉ có một ít biết về pháp môn này cũng đủ giúp cho ta tránh được nhiều nỗi đau khổ rất lớn".
Sáng ngày hôm sau, khi tôi làm lễ kiếu từ Sư phụ để xin ngài ban ân huệ trước khi lên đường, ngài cảm thấy nỗi thất vọng buồn rầu của tôi phải từ giă ngài ra đi. Ngài nói,
- Sự biệt ly vốn không có giữa chúng ta, con ạ! Dầu cho con ở nơi nào, con chỉ cần gọi đến ta là ta sẽ xuất hiện ngay tức khắc.
Được an ủi bởi lời hứa hẹn huyền diệu đó, tôi lên đường trở về nhà. Về đến sợ làm sau mười mấy ngày vắng mặt, tôi được các bạn đồng nghiệp đón tiếp nồng nàn v́ họ tưởng rằng tôi đă đi lạc vào núi trên dăy Tuyết Sơn. Kế đó, tôi nhận được một bức thơ của viên trưởng pḥng. Trong thơ nói rằng: "Lahiri phải trở về văn pḥng Hành Chánh ở Danapur. Việc thuyên chuyển y đến Ranikhet là một sự sai lầm. Một nhân viên khác sẽ được gửi đến Ranikhet để thay thế cho y".
Sự "sai lầm" nó đă đưa tôi lên tận dăy Tuyết Sơn, làm cho tôi mỉm cười. Trước khi trở về Danapur, tôi đến tạm trú vài ngày tại nhà của một gia đ́nh quen thuộc ở Moradabad. Tại đây, có sáu người bạn hữu đến thăm tôi. Trong khi tôi hướng câu chuyện đến những vấn đề tâm linh người chủ nhà tỏ ư buồn rầu và nói:
- Than ôi! Các vị Chân sư của Ấn Độ ngày nay đă biến mất không c̣n nữa!
Tôi phản đối mănh liệt để cải chính:
- Thưa ông, các vị chân sư vẫn c̣n thánh hóa xứ sở chúng ta bởi gót chân của các ngài!
Trong cơn hứng khởi tôi cảm thấy cần thuật lại kinh nghiệm độc đáo của tôi vừa rồi trên dăy Tuyết Sơn. Các bạn tôi tỏ vẻ hoài nghi, nhưng chỉ lễ phép mỉm cười. Một bạn bèn kết luận:
- Lahiri, có lẽ không khí miền sơ cước đă làm cho bạn say sưa ngây ngất, và chắc là bạn đă có một cơn mơ!
V́ muốn làm sáng tỏ sự thật, tôi đáp không do dự:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiên tại ngay chỗ này, bằng xương bằng thịt, để đáp lại lời kêu gọi của tôi!
Lần này, tôi đă làm cho họ chú ư, thật không phải là một chuyện lạ nếu mỗi người đều mong muốn chiêm ngưỡng một vị thánh nhân hiện h́nh ra một cách bất ngờ như thế. Tôi yêu cầu chủ nhà sắp đặt cho tôi một gian pḥng và hai tấm nệm mới. Tôi nói:
- Sư phụ tôi sẽ xuất hiện từ không gian. Các bạn hăy đứng im lặng phía sau cánh cửa, trong chốc lát tôi sẽ mời các bạn vào.
Tôi bèn ngồi tĩnh tọa nhập thiền, và kêu gọi sư phụ tôi bằng tư tưởng. Trong giây lát, một ánh sáng huyền ảo và êm dịu như ánh trăng le lói trong gian pḥng, và h́nh dáng đức Babâji từ từ xuất hiện.
- Lahiri, tại sao con lại kêu gọi đến ta v́ một mục đích nhỏ mọn, vô nghĩa?
Cặp mắt sư phụ được một vẻ nghiêm khắc.
- Chân lư chỉ đến với những kẻ thật ḷng t́m đạo, chứ không phải để cho những kẻ ṭ ṃ. Thật rất dễ mà tin tưởng nơi những điều tai nghe mắt thấy, v́ chừng đó sự thật đă hiển nhiên, không c̣n phải chối căi ǵ nữa. Chỉ có người nào thắng được sự hoài nghi mới khám phá được chân lư thâm diệu và vô h́nh vô ảnh.
Kế đó, người nói với một giọng nghiêm nghị:
- Hăy để ta đi!
Tôi bèn quỳ xuống chân sư phụ và nài nỉ:
- Bạch sư phụ, con xin sư phụ tha lỗi cho con. Chính v́ con muốn gây đức tin cho những kẻ hăy c̣n mù quáng về phương diện tâm linh, mà con đă kêu gọi đến sư phụ. Sư phụ đă chiếu cố mà xuất hiện trước lời cầu xin của con th́ con cũng xin sư phụ hăy vui ḷng ban ân huệ cho các bạn con trước khi ra về. Tuy họ thiếu đức tin, nhưng ít nhất họ cũng khát khao được biết sự thật về kinh nghiệm lạ lùng của con.
- Được ta sẽ ở lại, v́ ta không muốn cho các bạn con nghi ngờ lời nói của con.
Babâji dịu giọng, nhưng c̣n nói thến:
- Từ rày về sau, ta sẽ không xuất hiện trước lời kêu gọi của con nữa, trừ ra khi nào sự có mặt của ta là tối cần thiết.
Khi tôi bước ra mở cửa, th́ các bạn tôi đang chờ đợi trong một sự im lặng hoàn toàn. Hăy c̣n ngờ vực nới giác quan của họ, họ đứng sững, miệng há hốc, giương hai mắt to lên để chiêm ngưỡng dung nhan đức Babâji đang ngồi ung dung tự tại trên tấm nệm.
- "Đó là phép thôi miên tập thể", một nhân chứng vừa nói vừa cười. "Không ai có thể bước vào gian pḥng này mà chúng tôi không biết!"
Babâji vừa mỉm cười vừa ra lịnh cho mỗi người hăy đến gần và sờ mó vào ḿnh ngài để kiểm chứng sự thật. Khi họ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, họ bèn quỳ lạy dưới chân sư phụ tôi một cách cung kính và tỏ ra ăn năn sám hối v́ đă có bụng hoài nghi.
- Hăy nấu cháo cho các vị dùng đỡ lót dạ. Babâji ra lịnh để đưa thêm một bằng chứng về sự thật của ngài. Trong khi nồi cháo đang sôi, sư phụ đàm thoại với tấm ḷng ưu ái cởi mở với tất cả mọi người. Những kẻ hoài nghi lúc năy nay đă trở thành những người sùng tín rất mực, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Khi chúng tôi đă dùng cháo xong, Babâji đưa tay ban ân huệ cho từng người. Một tia chớp xuất hiện th́nh ĺnh xẹt ngang qua gian pḥng: chúng tôi chứng kiến tận mắt sự giải thể mau như chớp nhoáng của sư phụ: những nguyên tử, tế bào hợp thành thể xác của ngài bỗng nhiên tan ră mau lẹ trong chớp mắt, và phát ra một vầng hào quang mỗi lúc càng mờ dần. Quyền năng của Babâji vốn ḥa hợp với Thựơng đế, đă giải tỏa bằng hà sa số những phân tử dĩ thái đă được kết cấu lại thành h́nh thể xác của ngài, những nguồn tinh lực được giải tỏa bèn trở về ḥa lẫn với cái kho tinh lực vô biên của vũ trụ.
- Tôi đă thấy tận mắt người chiến thắng Tử thần!
Một nhân chứng trong nhóm bạn tôi, tên là Maitra đă nói như trên. Gương mặt y đổi sắc y chứng kiến điều nhiệm màu của sư phụ. Y nói tiếp:
- Tôn sư bất chấp mọi giới hạn của thời gian và khong gian và hành động mọi sự một cách dễ dành như tṛ trẻ. Tôi vừa chứng kiến một bậc siêu nhân nắm giữ ch́a khóa mở các cơi huyền vi của trời đất.
Sau đó tôi trở về Danapur và tiếp tục công việc ở sở làm cùng làm tṛn bổn phận người gia trưởng.
Lahiri Mahâsaya cũng thuật cho tu sĩ Kebalâ và Sru Yukteswar nghe chuyện một cuộc gặp gỡ khác với Babâji trong trường hợp hứa hẹp của sư phụ: "Ta sẽ xuất hiện khi nào cần thiết". Lahiri Mahâsaya kể chuyện như sau:
- Việc ấy xảy ra trong một cuộc thánh lễ Kumbha Mela ở Allahabad, thành phố tại đó tôi trải qua những tháng nghĩ hè. Trong khi tôi trà trộn trong đám đông những tu sĩ và khất sĩ từ khắp nởi ở Ấn Đô đến đây để dự lễ, tôi nh́n thấy một tu sĩ khổ hạnh ḿnh đầy bụi bặm cầm một cái b́nh bát khất thực. Tôi có ư nghĩ rằng người này chỉ là một kẻ bịp bợm, giả vờ khoác lấy cái bề ngoài của kẻ tu hành chứ không phải là một người chân tu.
Khi tôi vừa đi qua khỏi người ấy th́ tôi ngạc nhiên mà thấy Babâji đang quỳ gối trước mặt một tu sĩ khác râu tóc xồm xoàm. Tôi bèn chạy tới trước và kêu lên: - Bạch sư phụ, sư phụ làm ǵ vậy?
- Ta rửa chân cho người tu sĩ này, và sau đó ta sẽ lau chùi cái b́nh bát khất thực của y.
Babâji cười với tôi một cách hồn nhiên như một đứa trẻ nhỏ. Tôi hiểu rằng ngài muốn dạy tôi không nên chỉ trích kẻ khác, mà phải nh́n thấy h́nh ảnh của Thượng Đế ở bên trong mỗi người, bất luận lớn nhỏ, sang hèn. Sư phụ nói thêm:
- Khi ta phục vụ những tu sĩ khất thực, bất luận đó là những tu sĩ thánh thiện hay ngu dốt, ta học thực hành cái đức tính cao cả mà Thượng đế quư hơn tất cả mọi đức tính khác, đó là: đức khiêm tốn.
|