|
14. NGŨ UẨN CỦA THỜI CUỘC
Cơi đời ngày nay có bởi do ngũ uẩn. Như một người kia, từ nơi xứ sở yên vui tĩnh mịch của ḿnh, đi qua một xứ văn minh khác, thấy mọi vật máy móc tối tân tinh xảo, sáng chế lạ lùng như: nhà cất cao ngất ngưởng chọc trời, xe không đẩy mà chạy, thuyền không chèo mà vượt biển khơi. Người có thể bay trên hư không hay lăn xuống dưới đáy nước, bằng máy bay, tàu lặn… mỗi mỗi vật SẮC, đều lạ lùng kỷ diệu, khiến người sanh THỌ cảm thích ưa. Khi về xứ hằng lo nhớ TƯỞNG tượng, mới khởi sự thi HÀNH tạo sắm. Càng kinh nghiệm, khéo léo, mở mang THỨC trí càng phân biệt. Bởi có thức trí phân biệt mới cố chấp say mê, sanh t́nh vọng ư chí, cho đến đỗi lăng quên đường đạo đức; lạm dụng cơ khí, để làm cho thỏa ḷng tham vọng bất công, gây ra sự oán cừu sân giận, hai khối chạm nhau, chiến tranh khổ, con người mới giác ngộ, bỏ cái trí, là chơn như không mê vọng nữa, cũng gọi là nín nghỉ hết mê lầm. Tức là chừng nào con người được học, được kinh nghiệm, mới nhận ra cái vô ích, vố lư của ḿnh. Mới thấy điều thiện là cần, và trau dồi cái giác chơn là quí báu nhứt. Chừng đó sự tu tự nhiên mới hay vậy.
15. CHƠN LƯ CỦA NGŨ UẨN
Về thuyết ngũ uẩn, rất cần cho sự hiểu biết của chùng ta, v́ sau ki hiểu biết, ta mới có sự tu tập đúng theo chơn lư, lối tu rất tự nhiên, có thể cải thiện cho đời sống của chúng ta nếu chúng ta nhận ra cuộc sống con ít nhều khuyết điểm. Ta có thể t́m tất sẽ thấy ngũ uẩn có nhiều pháp khác nhau, hầu như tương phản như thuyết ngũ uẩn của vũ trụ vạn vật, kể từ quả địa cầu mới nổi đất, nước,cỏ, cây, thú, vật sinh ra, và tiến hóa cho đến lớp người, Trời Phật… Thuyết ngũ uẩn của một đời người, từ lúc ở trong bào thai đến khi sanh rra, tuần tự theo lớp tuổi của sắc thân tiến hóa… Thuyết chũ uẩn của con người, từ khởi điểm của vọng thức cho đến lúc có sắc thân, hay từ lúc có thân h́nh lần lần đến thức trí… Thuyết ngũ uẩn bởi vọng mê tríu mà khổ… Thuyết ngũ uẩn chia hai pháp: có và không, thiện ác, giác và mê lớn và nhỏ, thân và tâm, chủ và khách… Thuyết lư vốn không cùng, cho nên ngũ uẩn phải bị phân tách ra từng loại pháp môn, nhưng tóm lại cũng không ngoài chơn lư: “ Làm cho con người mau giác ngộ”. Để khi giác ngộ rồi, con người t́m ra lẽ sống an vui, không c̣n khổ năo với sự vọng lầm, chấp lấy cơi đời là thật, cái thân ta là thật.
Chính nghĩa hai chữ chơn lư, chơn là không vọng tự nhiên, lư là lẽ, lẽ thật tự nhiên. Chơn như tự nhiên là gốc vốn nguyên xưa. Nếu ta đang rối khổ, mà hiểu được lẽ tự nhiên chơn như, là sẽ hết khổ.
Có thiện có chánh cũng đến tự nhiên chơn như, không ác không tà cũng đến tự nhiên chơn như: Kẻ tối trong Niết Bàn cũng yên vui, người sáng trong luân hồi cũng yên vui. Thế là sao cụng được, cũng xong, chỉ cần nên biết cái tự nhiên chơn như là đủ.
TÓM LẠI: chúng sanh, sanh rra là bởi ấm, do nhơn duyên chuyền nẩy, cái nầy cái kia sanh cái nọ. ái có sanh càng hóa, lâu lắm mới được thân người, khó lắm mới có thân người, ai mà sống đúng chơn lư, th́ sẽ trọn vui trọn sống, đến Niết Bàn một kiếp một chẳng sai ngoa.
Vậy chúng ta phải đến với giác chơn.
|