| Ấn Độ Giáo
TÍNH ĐỒNG NHẤT CỦA ĐỜI SỐNG
Hàng ngàn năm qua, dân Ấn Độ, trẻ hay già đều băn khoăn về cùng câu hỏi liên quan tới chúng ta ngày nay. Đôi khi họ cố đoán con người từ đâu đến và con người đi về đâu sau cuộc sống. Họ cũng đặt thêm vấn đề như chúng ta. Thế giới được tạo ra như thế nào và tiếp tục ra sao? Mục đích của thế giới là ǵ? Sự khác biệt giữa đúng và sai là ǵ? Tôi là ǵ? Vị trí của tôi trong thế giới này là ǵ? Làm sao tôi có thể t́m ra chính tôi?
Qua nhiều thế kỷ, người Ấn Độ tiếp tục t́m kiếm câu trả lời cho những câu hỏi ấy, họ tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ kinh nghiệm của họ trong cách sống. Mỗi thế hệ đưa ra một số đề nghị tiếp theo về loại cuộc sống tốt nhất và lối sống tốt nhất trong vũ trụ. Sau này, người ta quyết định một số các đề nghị ấy phải được viết ra để họ không quên và thay đổi v́ đôi khi chúng vô t́nh chỉ được nói bằng miệng. Những đề nghị trên giấy tờ trở thành kinh của Ấn Độ Giáo. Một số kinh cổ đến nỗi không ai biết khi nào chúng được đưa ra lần đầu tiên những câu trả lời khả dĩ cho câu hỏi của con người.
Những kinh sách cổ nhất là những câu thơ và những bài thánh ca cổ, gọi là Vệ Đà được coi như có khoảng 3000 năm trước. Brahamanas -- luật lệ mà những thầy tu thi hành trong nghi lễ thờ cúng, có vào khoảng giữa 1200 và 1000 năm trước công nguyên. Kinh Upanishads (U Bà Ni Sà Đa) có vào khoảng 800 năm trước công nguyên, là những câu trả lời của các giáo sĩ sống ẩn dật nổi tiếng vào thời gian đó trước những câu hỏi về đời sống và vũ trụ. Những thiên Anh Hùng Ca vĩ đại là những câu thơ triết lư và đạo lư về những anh hùng truyền thuyết và các vị thần. Những thiên anh hùng ca này là những truyện cổ được kể lại qua nhiều thế hệ trước khi cuối cùng được viết vào thế kỷ đầu công nguyên. Một chương ngắn của Thiên Anh Hùng Ca, Dáng đi Bhavagavad Gita, trở thành một phẩm tôn giáo được ưa thích ở Ấn Độ.
Nếu các bạn nh́n tất cả kinh sách này cùng một lúc, bạn sẽ thấy "kinh thánh" của Ấn Độ Giáo dài hơn kinh thánh của Cơ Đốc và Do Thái Giáo nhiều. Mặc dù những phẩm Ấn Độ Giáo đă được dịch sang Anh Ngữ từ nguyên bản tiếng Phạn, rất có thể có những phần của kinh này bạn không thể hiểu được nếu không có sự giải nghĩa của Ấn Giáo. Bạn có thể rất thích thú với nhiều đoạn trong kinh này v́ nó chứa đựng những câu chuyện và đề nghị nhắm vào trả lời những câu hỏi mà con người ngày nay vẫn đang hỏi, tại Ấn Độ và tại Hoa Kỳ.
Những chuyện trong những sách này cho thấy rất nhiều người Ấn Độ đă t́m kiếm những câu trả lời. Thí dụ, họ cho thấy người Ấn Độ quư trọng trí tuệ. Trong số những người này có những sinh viên vĩ đại -- không phải trong ư thức của những người được giao cho bài vở tại trường học, mà cho những người không có trường học như chúng ta. Những sinh viên này là những người nghiên cứu và làm sáng tỏ những sự việc chung quanh họ, làm như vậy, họ trở thành uyên bác. Những người b́nh thuờng nhận xét rằng những người uyên bác hầu như thành công trong cuộc sống. Họ không khó chịu với những việc tầm thường, và cũng chẳng nôn nóng t́m cách để có hạnh phúc. Họ bằng ḷng - ở nhà với chính họ. V́ đối với dân chúng điều này dường như là hạnh phúc duy nhất đúng và lâu dài đạt được, người có trí tuệ hồ như trở thành người anh hùng quốc gia.
Trí tuệ được quư trọng đến mức người ta sẵn sàng làm mọi thứ để đạt được nó. Có một câu chuyện Ấn Độ về một vị trưởng giả đă đem tài sản -- 1000 con ḅ, đồ trang sức quư giá đắt tiền, một cỗ xe với nhiều con la, và cả đứa con gái của ông -- để trả cho một bậc hiền triết nổi tiếng đă dạy ông về ư nghĩa cuộc đời. Người Ấn Độ mô tả người không trí tuệ như con ếch ở trong giếng khô, hay giống như con cá không có nước.
Một câu chuyện trong kinh Upanishads (U Bà Ni Sa Đà) nói về một thanh niên bất hạnh đến học hỏi một vị thầy uyên bác. Đầu tiên thầy này hỏi anh thanh niên những ǵ anh đă biết rồi. Anh thanh niên trả lời bằng tên sách cùng những đoạn trong sách mà anh nhớ được. Rồi anh buồn rầu nói thêm: "Tôi biết tất cả những thứ này, nhưng tôi không biết chính tôi. Tôi không có hạnh phúc. Xin làm ơn giúp tôi khắc phục được cái bất hạnh này." Vị thầy đồng ư giúp anh, vạch ra khó khăn là do anh đă t́m trí tuệ trong những lời nói hiểu biết về cuộc đời thay v́ t́m ư nghĩa trong cuộc sống. Sau một thời gian, dưới sự kèm cặp của vị thầy, anh thanh niên nghiên cứu và thiền định về chính ḿnh và những phản ứng về kinh nghiệm hàng ngày. Anh trở nên hạnh phúc hơn, và sau thời gian học tập, anh cảm thấy đủ khôn ngoan để tự ḿnh t́m kiếm.
Cái ǵ là hạnh phúc mà người thanh niên t́m thấy trong việc tự nghiên cứu và nhiều người Ấn chuyên cần t́m kiếm ngày nay? Đó chính là điều mà họ quan sát ở những người uyên bác nhất của họ. Tất cả chúng ta đều biết dù sao đi nữa có người không bao giờ có đủ khả năng để giải quyết một việc trong một thời gian quá dài. Người ấy luôn luôn t́m kiếm một thứ ǵ mới và hứng thú hơn để làm tiếp. Chúng ta biết có người lại ung dung tự tại ở hầu hết bất cứ nơi nào người đó thấy chính ḿnh. Dường như người đó có sự thỏa măn sâu xa trong tâm khảm. Những người Ấn Giáo nhất trí nói rằng người bạn thứ hai trong số bạn bè của chúng ta hạnh phúc hơn, v́ người ấy biết ḿnh hơn.
Giống như người sinh viên trẻ tuổi không hạnh phúc, tất cả đều không bằng ḷng khi họ chỉ biết những sự việc có thật, sách vở hay sự vật. Hạnh phúc chỉ có thể đến từ sự hiểu biết chính ḿnh. Cái ǵ có nghĩa là chính ḿnh? Bạn là ai? Đầu tiên "Bạn" là cái mà người ta nh́n và nghe: cách bạn nh́n, giọng nói của bạn, cử chỉ của bạn, tài ba của bạn. Tất cả các thứ đó có phải là bạn không? Người Ấn Độ giáo trả lời là bạn c̣n nhiều hơn thế nữa. Nếu bạn nh́n vào gương, hay nghe giọng bạn qua ghi âm phát thanh, hay nh́n bạn trong cuốn phim gia đ́nh, bạn đồng ư với những thứ này. Bạn c̣n nhiều hơn những cái đó.
Thêm vào phần cá tính của bạn mà người ta nh́n và nghe, c̣n có bản chất bất thường. Người Ấn Giáo nói có ba mức tính khí thông thường. Mức thấp nhất là tính tŕ trệ, không muốn thay đổi, hay lười biếng. Mức thứ hai là tính hung hăng, có khả năng bị kích động bởi sức mạnh bên ngoài. Mức thứ ba, mức tốt nhất là tinh thần trầm tĩnh, có khả năng giữ được an nhiên không bị sao xuyến bởi các sức mạnh bên ngoài. Mỗi người đều có một chút ở mỗi một mức độ trong tính khí của ḿnh. Mục đích là loại trừ tính tŕ trệ và tính hung hăng ra khỏi tính khí của bạn để bạn có thể b́nh tĩnh và trầm lặng.
Điều này cũng giống như sự nhấn mạnh của người Mỹ về sự tĩnh tâm. Người ta hạnh phúc hơn nhiều khi không bị phiền nhiễu bởi mỗi biến chuyển buồn phiền nhỏ nhặt. Họ có thể nghiên cứu và biết ḿnh rơ hơn khi họ có một tính khí điềm tĩnh. Và họ sẽ không tiến bộ chút nào để có hạnh phúc thực sự cho đến khi họ muốn phát triển cố gắng cần thiết.
Nếu bạn chưa từng bỏ th́ giờ nh́n vào bên trong bạn, và cố gắng thăm ḍ cái bên trong, bạn sẽ nhận thức rằng những sự việc mà chúng ta đă nói đến không phải tất cả là để cho bạn. Bạn có một số thái độ nào đó đối với chính bạn, và những thái độ này là một phần của chính bạn. Dù lúc nào bạn cũng hănh diện hay xấu hổ, dù bạn mong chờ hay khiếp sợ cuộc đời c̣n lại của bạn, dù bạn làm nhiều điều phải hơn, hay nhiều điều trái hơn theo tiêu chuẩn của chính bạn -- những sự việc này giúp h́nh thành cảm nghĩ về chính bạn.Theo người Ấn Đô Giáo, cảm nghĩ về chính bạn nảy sinh từ cách bạn nh́n, và bạn nói và từ tính khí của bạn. Những cảm nghĩ ấy và những sự việc nảy sinh h́nh tướng h́nh thành cái mà ta gọi là cái "Ngă bên ngoài".
Ngoài cái ngă bên ngoài, có một cái ngă cốt lơi mà bạn phải biết để được thực sự hạnh phúc. Cái ngă rất quan trọng bên trong là cái Ta. Cực kỳ khó khăn cho bất cứ ai muốn giúp bạn hiểu cách biết cái Ta. Đó là v́ chỉ ḿnh bạn có thể biết hoàn toàn cái ngă bên trong của bạn. Các đạo sư Ấn Độ Giáo đă đưa ra một ít gợi ư để giúp ta trong việc t́m cách tự biết ḿnh. Họ nói rằng v́ cái Ta là tinh thần bên trong của con người, nó nằm dưới tất cả những kinh nghiệm phù du của cuộc đời. Nó vẫn là bản chất không thay đổi thường c̣n của bạn. Tất cả những phẩm chất tạo thành cái ngă bên ngoài đều được thu thập chung quanh cái lơi chính, cái Ta, và bị tác động bởi cái Ta này. Nhưng cái Ta lại không bị tác động bởi các phẩm chất ấy.
Một số sự việc tuyệt vời xẩy ra khi người ta biết cái ǵ là căn bản và cốt lơi trong chính ḿnh. Người đó biết rằng công việc hàng ngày, trước đây có thể đă làm người ấy khó chịu rất nhiều, không thực sự quan trọng. Đó là v́ người ấy đă biết được là trung tâm thực sự của cuộc đời người ấy không bị tác động bởi chúng. Người ấy biết nh́n xa trông rộng hơn về kinh nghiệm của ḿnh. Người ấy có tầm nh́n cuộc đời. Người ấy trở nên không thành kiến và ít cảm xúc. Người ấy có thể chọn lựa và phán xét những biến chuyển một cách chín chắn hơn, v́ người ấy không bị mù quáng bởi những cảm xúc và thái độ của chính ḿnh. Người Ấn Giáo nói rằng người ấy đă có một bước tiến rất quan trọng tiến tới sự đóng góp quan trọng nhất của con người -- trí tuệ.
|