| Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo Từ sơ khai cho đến thời ḱ xă hội văn minh của nhân loại mặc dù tri thức của con người luôn phát triển rực rỡ, nhưng con người vẫn chưa thể giải đáp rơ ràng hai câu hỏi lớn: Vũ trụ là ǵ? Và con người từ đâu mà có? Hai câu hỏi nan giải này luôn là những thách thức, ám ảnh tâm thức con người.
Từ sơ khai cho đến thời ḱ xă hội văn minh của nhân loại mặc dù tri thức của con người luôn phát triển rực rỡ, nhưng con người vẫn chưa thể giải đáp rơ ràng hai câu hỏi lớn: Vũ trụ là ǵ? Và con người từ đâu mà có? Hai câu hỏi nan giải này luôn là những thách thức, ám ảnh tâm thức con người. Đă có biết bao nhà tôn giáo, tư tưởng, triết gia, đạo sĩ… mài ṃn sách vở, dốc cạn tâm lực để mong mở được cánh cửa chân lư, t́m hiểu tường tận về vũ trụ và con người. Nhưng tất cả đều như những kẻ lữ hành loanh quanh măi trong rừng rậm của tri kiến, vẫn không t́m được lối ra, chưa có những lời giải đáp toàn hảo nhất.
Đức Phật, bậc Vô thượng sĩ, nhà tư tưởng uyên thâm vĩ đại, sau khi chứng ngộ dưới cội Bồ-đề đă như thật tri kiến rằng:
“Cái này có th́ cái kia có
Cái này không th́ cái kia không.
Cái này sanh th́ cái kia sanh
Cái này diệt th́ cái kia diệt.”
(Mjjhimani Nikaya III 63)
Điều đó có nghĩa là, sự kiện chân thực của vạn pháp về vũ trụ và con người đều tương quan tương duyên với nhau trong mối quan hệ bất khả phân ly, trong pháp giới trùng trùng duyên khởi, không một sự vật nào đứng riêng lẻ mà có thể tồn tại được.
Sự kiện giác ngộ này của đức Phật là một khám phá vĩ đại về những nguyên nhân trói buộc chúng sanh vào con đường sanh tử luân hồi và những phương pháp để diệt trừ những khổ đau mà chúng sanh phải gánh chịu. Trong suốt 49 ngày đêm ngồi dưới cội Bồ-đề, đức Thế Tôn luôn tư duy về vấn đề sanh, lăo, bệnh, tử của thân phận con người, những câu hỏi mà trước kia Ngài đă từng cưu mang như là một tiền đề cho sự tu tập. Đoạn văn sau đây diễn tả sự suy tư của đức Thế Tôn: Các Tỳ-kheo! Xưa kia, khi ta c̣n là Bồ-tát, chưa thành Chánh đẳng giác, ta tự nghĩ: cơi đời này thật do những nỗi lo khổ ràng buộc, sinh, già, chết để rồi lại sinh ra và vẫn chưa thoát ly cái khổ đau của già chết th́ làm sao biết được cái khổ của già chết để thoát ly? Lúc đó ta tự hỏi: do đâu có già chết? do đâu có già chết?... Bấy giờ nhờ sự tư duy chính đáng mà ta phát trí hiểu biết đích thực như vầy: do có sinh mà có già, chết; do sinh làm duyên mà có già, chết. Lúc đó ta lại nghĩ do đâu có sinh, có hữu, có ái, có thọ…
Bằng phương pháp quán lưu chuyển và hoàn diệt về Thập nhị nhân duyên, đức Thế Tôn đă chứng đạt trí tuệ sáng suốt, đoạn trừ tất cả mọi sự chướng ngại, thoát ly sanh tử khổ đau và đạt được Nhất thiết chủng trí. Đề cập đến vấn đề: Vũ trụ là ǵ, nó là vô biên hay hữu biên? Con người từ đâu mà có?… là một trong những vấn đề đức Thế Tôn không bao giờ trực tiếp đề cập đến; nhưng bàng bạc trong Tam tạng kinh điển chúng ta cũng t́m được những giải đáp liên quan đến vấn đề này. Vậy thái độ của đức Phật về vũ trụ và nhân sinh quan Phật giáo như thế nào?.
Phật giáo không coi trọng nguyên lư, nguyên nhân hay căn nguyên đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống triết học khác, không thừa nhận có tạo vật chủ… Theo Phật giáo, vũ trụ không phải là qui tâm độc nhất, đó là trường cộng sinh của vạn hữu. Phật giáo cho rằng: mọi vật được tạo thành có ít nhất là hai nguyên nhân, những sáng hóa hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong liên tục thời gian từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.
Sở dĩ các học phái tin có một sự khởi đầu là do giới hạn của tri thức, nên thấy vạn vật đều có khởi điểm. Nếu có bắt đầu th́ phải có kết thúc và nếu có kết thúc th́ vạn vật không thể tồn tại măi. Nguyên nhân thứ hai là do những nhận thức sai lầm về vấn đề Có và Không. Với con mắt trần nông cạn, khi chúng ta thấy một khoảng trống th́ gọi là không, thấy một vật có h́nh dáng, màu sắc, trọng lượng…th́ gọi là có. Cái “không” có trước cái “có”. Từ không mà thành có, tất nhiên phải có một cái khác để tạo ra “có”. Do suy luận như vậy nên tạo ra Thần chủ.
Mọi sự vật “có” và “không” đều nằm trong quy luật tương đối, tức nó “có” và có trong sự không tồn tại vĩnh viễn, mà có để rồi biến đổi, suy hoại trở về “không” và “không” lại là một h́nh thái cho sự bắt đầu “có” của sự vật mới. Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi: “Tùy theo nhân duyên hiện ra như là có sinh, cho nên tạm gọi là Có. Bởi không có tự tính, nên gọi là Không.” Cái ṿng tṛn khép kín ấy chính là thực tại nhân sinh khổ ải, khổ v́ thực tại ấy luôn luôn biến đổi không ngừng, nay c̣n mai mất. Sự đời sum họp rồi lại chia phôi, khổ năo là ḷng tham dục, khát ái của chúng sanh bao giờ cũng muốn trở thành như thế này hoặc như thế kia, muốn c̣n măi, sợ mất mát, cái bản ngă cố nắm lấy (ngă và ngă sở) sự vật chính là nguyên nhân tạo ra động lực cho sự vận chuyển của thế giới và nhân sinh quan. Đức Phật, đấng Giác ngộ đă tự ḿnh chứng đạt chân lư tối hậu. Ngài tri kiến sự vật vạn hữu qua Tam minh và Lục thông. Chính v́ thế, Ngài xem các vấn đề giải thoát khổ đau là mục tiêu tối hậu mà một vị tu sĩ Phật giáo cần phải hướng đến. Một câu chuyện thời danh được đề cập đến trong kinh Cù La. Màlunkyaputta đặt ra 10 câu hỏi siêu h́nh để hỏi Thế Tôn, xung quanh vấn đề có và không, thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên… (thế giới thường hay vô thường? Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không? v.v…). Đức Thế Tôn đă im lặng không trả lời. Ngài kể cho Malunkyaputta nghe câu chuyện một người bị mũi tên độc. Vấn đề cấp thiết là phải rút mũi tên ra và chữa trị vết thương ngay chứ không phải là vấn đề t́m cho ra chất liệu đă làm nên mũi tên, người nào bắn mũi tên, mũi tên được bắn tới từ đâu..? Cũng thế, vấn đề cấp thiết của con người là nhổ mũi tên “khổ đau” chứ không phải đi t́m những câu trả lời cho các vấn đề siêu h́nh không thiết thực. Chính v́ thế, đức Thế Tôn không thích huyền đàm viễn vông, vô ích mà phải trấn tĩnh cho tâm thanh tịnh để mà giác thức. Kinh Kim Cương ghi: “Hỡi các Tỳ Kheo! Các thầy đừng nên để tâm trí vào những tư tưởng sau đây: Thế giới là hữu hạn, thế giới là vô cùng. Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là ta dạy các thầy về sự khổ, nguồn gốc sự khổ, đạo diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Những điều đó có ích, v́ chắc chắn sẽ đưa các thầy đến cứu cánh của giải thoát vậy” (tr. 188-189). Gốc khổ đau nơi nhân sinh trần tục này mà c̣n chưa hiểu th́ nói ǵ tới các lẽ H́nh nhi thượng, hạ cao xa liệu có ích ǵ đâu cho người tu đạo và học đạo. Hiện tại con người đang đắm say với thiên kiến chủ quan, cố chấp với lư này lẽ khác, khiến mấy điều chân và thực gần gũi nhất c̣n chưa nhận ra được, th́ vội luận tới các lẽ hư không mà làm ǵ!
|