View Single Post
  #2 (permalink)  
Old 06-05-2010, 06:42 PM
HoangYen's Avatar
HoangYen HoangYen is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 135
Thái độ từ chối đàm luận về các vấn đề siêu h́nh của đức Phật, không phải v́ Ngài không biết mà v́ Ngài không muốn tham dự vào các việc tranh luận, khẩu khí mà các Bà-la-môn đương thời thường làm, các giáo phái gặp nhau là họ tranh luận, mỗi người mỗi kiến giải và tất nhiên ai cũng muốn thủ chấp kiến giải của ḿnh là hơn hết. Đức Phật cho rằng: chân lư tự nó sáng tỏ, không cần phải có người gọt giũa, nếu cứ tranh căi th́ tự mê để đi đến làm hoen ố cả Đạo lẫn Giáo. Một lần ở Kosambi đức Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo: “Những ǵ Như Lai biết ví như rừng lá Simsapa, c̣n những ǵ mà Như Lai giảng dạy th́ ít như nắm lá trong tay, nhưng đây là những phương thức trừ khổ”. Tất cả những ǵ đức Thế Tôn nói chỉ nhắm đến giải thoát khổ đau và giác ngộ chân lư, đấy là tính chất thực tiễn, thực tế, rất thiết thực trong hiện tại khổ đau của con người.

Mặc dù đức Thế Tôn không tham dự vào các vấn đề siêu h́nh, nhưng thế giới hiện tượng do duyên mà sanh, nên nó vô ngă, nó rỗng không: Con người chỉ là tập hợp của năm uẩn nên nó cũng vô ngă và rỗng không. Con người và thế giới cùng hiện hữu mà không thể tách rời nhau như trong kinh Giới Phân Biệt đức Phật dạy: “Sắc uẩn gồm có nội sắc và ngoại sắc, nội sắc là cơ thể vật lư của mỗi cá nhân, ngoại sắc là thế giới vật lư”. Điều này có nghĩa là vũ trụ tự nó là một phần của cơ thể con người. Chính v́ vậy, đức Phật giảng dạy về duyên khởi các pháp (vũ trụ và nhân sinh quan) như một sự phân tích thật tướng của các pháp là vô ngă, để hàng đệ tử không tham đắm vào sắc pháp, không lầm chấp ngă và ngă sở. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Giả như vào mùa thu, khi trời mưa xuống các hạt mưa lớn, bong bóng nổi lên trên mặt nước rồi tan đi và một người sáng mắt sẽ nh́n thấy bong bóng nước ấy, quán sát nó, nh́n tận bản chất nó, người ấy sẽ thấy nó rỗng không, sẽ thấy nó không có ngă tính. Này các Tỳ-kheo! Làm sao có ngă tính. Này các Tỳ-kheo! Làm sao lại có thể có ngă tính trong cái bọt nước nổi trên mặt nước ấy!”. Chính v́ phân tích sự tập họp các pháp, sự h́nh thành vũ trụ, để hàng đệ tử thấy rơ sự thật ảo ảnh của các pháp mà đoạn trừ các ái để tu tập. Về sau, các Luận sư, chư Tổ mới giải thích những điều Phật dạy liên quan đến vũ trụ và nhân sinh quan Phật giáo.

VŨ TRỤ QUAN:
Theo tuệ giác của đức Phật th́ vũ trụ vạn hữu đă h́nh thành và biến chuyển là do cộng sinh, cộng hữu theo công thức:
“Cái này có nên cái kia có
Cái này không nên cái kia không.
Cái này sanh nên cái kia sanh
Cái này diệt nên cái kia diệt.”

Đây chính là nguyên lư duyên khởi được thiết lập để giải thích vạn hữu, hiện tượng giới. Duyên khởi luận trong Phật giáo có nhiều, nhưng những thuyết này không trái ngược nhau.

Nghiệp cảm duyên khởi:
Đây là chủ trương của Tiểu thừa Nguyên thủy Phật giáo. Tư tưởng này được rút ra từ trong Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên.
Theo trật tự trong Tứ diệu đế th́ khổ đế đứng đầu tiên, đó là tên gọi chung cho mọi cái có (quả) và tất cả đều chịu sự khổ đau, cội nguồn của các sự khổ đau ấy là do các yếu tố nội tại: sắc, thọ, tưởng, hành, thức (chánh báo) và các hoàn cảnh xung quanh (y báo) nơi thời quá khứ (nhân). Đó chính là một quá tŕnh tồn tại của khổ đau do nghiệp lực mà chiêu cảm.

Phần căn băn của khổ: sanh, lăo, bệnh, tử. Con người sanh ra đă biết khóc chào đời, mở màn cho một kiếp sống khổ đau. Cho đến khi già yếu bệnh tật hành hạ, cơ thể mỏi mệt, lực bất ṭng tâm và cuối cùng là cái chết, sự đau đớn sợ sệt, tiếc nuối làm cho tâm thức bất an. Trên cái khổ sanh tử mà con người không thể làm chủ được, c̣n nhiều cái khổ nữa như do tác động ngoại cảnh thời tiết nóng lạnh, băo lụt, chiến tranh… chồng chất, hoành hành đến cuộc sống của con người nên gọi là Khổ khổ. Có h́nh tất có hoại, khế kinh chép “Phàm vật ǵ có h́nh tướng đều phải bị hoại diệt”. Chính v́ vậy, con người sống trong sự chi phối của vô thường, vô ngă, dời đổi, hợp tan mà không thỏa măn được mong muốn theo chấp ngă gọi là Hoại khổ. Suốt cuộc đời phải chịu đựng sự khổ chồng chất (khổ khổ), sự chi phối của luật vô thường (hoại khổ) nên về phương diện vật chất th́ bị ngoại cảnh, thời gian chi phối, phá hoại; c̣n về phương diện tinh thần th́ không thể tự chủ, yên ổn, tự do, tâm hồn bị các dục vọng lôi kéo, hành hạ. Đó gọi là Hành khổ. Tất cả những nổi khổ ấy là kết quả tích lũy của cái nghiệp luân hồi.

Hiện tại khổ đau của cuộc sống không phải do một thế lực nào đem lại, gây ra cho con người mà chính là do con người tạo ra. Và v́ đâu sanh ra những nổi khổ ấy? câu hỏi này chính là nội dung của Tập đế. Tập là sự chứa nhóm, dồn thêm mỗi ngày mỗi nhiều hơn. Đức Phật dạy: “Cội gốc của sanh tử luân hồi do các phiền năo mê lầm và những dục vọng xấu xa, những ư niệm sai quấy, làm năo loạn thân tâm chúng ta”. Các phiền năo sai lầm, các dục vọng xấu xa ấy chứa nhóm, tích tụ là nguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng trong ṿng quay vĩnh cửu. chính đấy là sự sa lầy làm ngừng đọng ư thức tiến hóa đến giải thoát. Đức Phật dạy: “Không thể quan niệm được điểm khởi đầu của ṿng luân hồi, không thể khám phá được khởi điểm nguyên thủy của chúng, bị cản trở trong màn vô minh và dính mắc trong ái dục, đang vội vă, hấp tấp, chạy đảo điên xuyên qua ṿng sanh tử liên tục tiếp diễn.” (kinh Tạp A Hàm).

Đối ngược với trạng thái khổ đau của chúng sanh là tâm thức an lạc của kẻ đă hoàn toàn diệt hết mọi phiền năo, dục vọng, mê mờ. Đó được gọi là Diệt đế. Trong kinh Nhân Quả, Phật dạy rằng: “Các ông phải biết, v́ tập nhân phiền năo mới có kết quả khổ sanh tử, vậy các ông phải dứt trừ phiền năo tập nhân. Khi đă dứt trừ rồi, lại phải thường nắm chặt chỗ dứt trừ cho chắc chắn, không khi nào nới bỏ. Đến khi chứng được quả Niết-bàn, th́ tất nhiên tập nhân phiền năo phải diệt hết, mà quả khổ luân hồi cũng không c̣n”. V́ vậy, Diệt đế là giải thoát hết mọi hệ lụy khổ đau, bất luận nguyên nhân gần hay xa nào có thể chấm dứt khổ đau, để đưa ḿnh ra khỏi ḍng thác lũ sanh tử, chấm dứt ṿng quay của tồn tại dục vọng, kiến tạo một cuộc sống chân hạnh phúc. Đây là trạng thái có đủ diệu dụng của Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, là trạng thái thực chứng cái bản thể của vũ trụ.

Để đạt được trạng thái an lạc hành giả phải tu tập, phương pháp tu tập đưa đến cảnh giới an lạc ấy gọi là Đạo đế. Đó là con đường đưa đến sự giải thoát vĩnh viễn kiếp thân đau khổ bằng cách thường xuyên làm tăng các yếu tố hướng đến thanh lọc tâm thức, con đường đó được gọi là: Bát chánh đạo được bắt đầu bằng Chánh kiến và kết thúc bằng Chánh định, như vậy yếu tố tinh thần quyết định đầu tiên, ư thức đi trước hành động, thanh lọc ư thức là làm trong sạch hành động. Bát chánh đạo đă mở ra con đường Trung đạo, nó mang tính toàn diện và phổ cập. Do đó Bát chánh đạo vừa giải quyết được các vấn đề thuộc cá nhân lẫn cộng đồng xă hội. Chính vị vậy, lần chuyển bánh xe pháp đầu tiên được xem là một giải pháp hữu hiệu thực tế nhất để cải hóa con người, xây dựng một xă hội toàn thiện.
Như vậy hệ thống Tứ diệu đế phân cực thế giới quan thành hai lănh vực: sự tồn tại trần thế và chấm dứt sự tồn tại đó. V́ chính chúng ta là vị kiến trúc sư xây dựng ngôi nhà số phận của chúng ta, chính tạo ra hay tiêu diệt lấy, thiêng đường hay địa ngục đều do nơi thân, khẩu, ư của ta. Những tư tưởng, lời nói, hành động là động lực tạo nghiệp, rồi từ nơi nghiệp đă tạo ra đó đưa ta lên hay xuống từ kiếp này sang kiếp khác măi măi trong ṿng luân hồi, nghiệp quá khứ tạo điều kiện để tái sinh trong kiếp hiện tại, nghiệp hiện tại phối hợp với nghiệp quá khứ tạo điều kiện để tái sinh trong kiếp vị lai và tùy theo nghiệp thiện hay bất thiện đă tạo mà chúng sanh tái sinh vào cảnh giới tương ứng nghiệp. Đời sống được kiện toàn tính chất hữu h́nh là do hai loại ảnh hưởng của hành động: biệt nghiệp và cộng nghiệp. Biệt nghiệp tạo ra cá thể chúng sanh, cộng nghiệp tao ra vũ trụ vạn hữu, các mối quan hệ, ràng buộc chung quanh cá thể.

Nh́n nghiệp cảm duyên khởi dưới góc độ 12 nhân duyên th́ đây là một ṿng tṛn sinh hóa khép kín bởi hoặc – nghiệp – khổ, trong ư nghĩa rằng: nó không có điểm khởi đầu, mà sự sinh hóa trần tục, dục vọng nối tiếp làm nhân quả cho nhau, trong 12 chi phần nhân duyên vô minh, ái, thủ được gọi là Hoặc. Trong khi đó Hành và Hữu thuộc về Nghiệp quả, các chi c̣n lại thuộc về Khổ quả. V́ do vô minh mê tối nên mới tạo nghiệp vọng động (hành, thức) mà có thân ngũ uẩn (danh, sắc) rồi 6 căn tiếp xúc với 6 trần (lục nhập) sanh ra cảm giác, cảm thọ (thọ), v́ cảm thọ nên sanh ḷng yêu ghét (ái) rồi ham muốn chấp giữ, tạo thành thói quen (thủ). V́ đă nhân tham ái phải nhận lấy quả báo (hữu). Do có ái thủ hữu sẽ phải sanh vào kiếp vị lai (sinh) và tiếp tục nhận chịu những cảnh khổ, già và chết (lăo, tử). Ṿng lẩn quẩn 12 nhân duyên này lưu chuyển không ngừng là do năng lực tâm lư nó tồn tại, tiềm tàng vận hành. Cho nên gọi là nghiệp cảm duyên khởi.
Reply With Quote