View Single Post
  #3 (permalink)  
Old 06-05-2010, 06:44 PM
HoangYen's Avatar
HoangYen HoangYen is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 135
A-lại-da Duyên khởi:
Nghiệp được chia thành 3 nhóm: thân, khẩu và ư nghiệp. Nếu khởi tâm tạo tác phải chịu trách nhiệm việc làm đó và phải chịu báo ứng, bởi ư lực là chủ động chính của thân và khẩu, nó được hàm chứa trong tâm thức v́ đây là kho tàng tích chứa các hạt giống (chủng tử) để thực hiện h́nh thành thế giới, con người và các thế giới của hành động con người, sau khi biểu hiện, lại huân tập thành chủng tử. Chủng tử và hiện hành làm nhơn duyên cho nhau tạo ra ṿng sanh diệt, liên tục. Đó được gọi là A-lại-da duyên khởi. A-lại-da là kho chứa các chủng tử nên c̣n gọi là Tàng thức.

Theo Duy Thức học, thức được chia thành 8 loại: nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thân thức, ư thức, mạt-na thức và A-lại-da thức. Sau khi chết, thân xác này tan ră, nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai. Nhưng dẫn dắt cái ǵ? Trong Duy Thức giải thích đó là A-lại-da thức, thức này nó hằng khởi và thường tại, nó có 2 công năng:
- Thâu nhiếp tất cả pháp
- Sanh khởi tất cả pháp.

Khi chúng ta gây thiện nghiệp hay ác nghiệp, th́ chủng tử dồn chứa vào tạng thức, đến khi đủ nhân duyên th́ những chủng tử ấy phát ra hiện hành. Bởi, A-lại-da thức bao gồm hết thảy chủng tử của các pháp, nên nó hiện ra hết năng lực vô hạn của vạn tượng. Khi căn thân của ta vừa phát sanh là nó bao hàm khách quan giới. Khách quan giới thiên sai vạn biệt là do trong chủ quan giới có ư thức tác động mà ra. Tóm lại, A-lại-da thức là cái căn bản của hiện tượng giới. Từ vô thỉ, A-lại-da đă bao trùm chủng tử, hiện tượng giới do chủng tử phát hiện, hiện tượng đă phát hiện lại kích thích làm nhân quả cho nhau hiển hiện ra vạn hữu và làm nền móng cho kiếp luân hồi.

Chân Như duyên khởi:
Chân Như là từ ngữ duy nhất có thể dùng để diễn tả thực tại cứu cánh vượt ngoài định danh, cũng gọi là Như Lai tạng. Như Lai tạng là Phật tính ẩn tàng trong bản tánh của phàm phu. Tức A-lại-da thức là phần nhiễm của chúng sanh, Như Lai tạng là phần tịnh của chúng sanh nên nó c̣n được gọi là Bạch Tịnh thức. Chính điều này đă nói lên tính chuyển hóa tâm thức của chúng sanh. Kinh Phạm Vơng ghi: “Ta chỉ là vị Phật đă thành, có nhiệm vụ khai thị Phật tính cố hữu của các ngươi. Kẻ nào phát huy được Phật tính tức sẽ thành Phật”.

Chân Như hay Như Lai tạng là chỉ cho trạng thái chân thật của vạn hữu trong vũ trụ, cội nguồn của một đấng giác ngộ, căn cơ của giác ngộ. Khi tĩnh nó là tự thân của giác ngộ, nhưng khi động nó xuất hiện có thể trong h́nh thức loài người, chấp nhận một đường lối thế gian và sắc thái của đời sống. Trên thực tế, Chân Như hay Như Lai tạng là một và như nhau: chân lư cứu cánh. Trong Đại thừa Chung giáo th́ Chân Như tùy duyên sanh ra muôn pháp “nhất thiết duy tâm tạo”, tức vạn hữu không phải ngoài tâm mà tồn tại. Chân Như tuy bị vô minh kích thích mà diêu động, nhưng trong động có tịnh, trong tịnh có động. Cũng như nước và sóng ở trong biển, đứng về phương diện nước th́ tất cả sóng đều là nước, đứng về phương diện sóng mà nh́n th́ tất cả nước đều là sóng. Tâm dụ cho biển, Chân Như dụ cho nước và vạn tượng giới dụ cho sóng. Chúng sanh v́ vô minh che lấp nên chỉ thấy có vạn tượng giới. Bồ-tát và Phật v́ đă trừ vô minh nên thấy vạn tượng là Chân Như, tịnh là Chân Như, động là vạn tượng, động và tịnh không rời nhau, không cùng là một nhưng cũng không phải khác nhau. Từ tịnh trở thành động là đi vào cửa sanh diệt và đó cũng là nguyên nhân sinh khởi ra vũ trụ vạn hữu.

Lục đại duyên khởi:
Đó là 6 công năng dung ḥa lẫn nhau tạo ra muôn loài vạn vật hiện hữu ở thế gian này: địa, thủy, hỏa, phong, không và thức. Kinh Lăng Nghiêm ghi: “Khoảng không gian vô cùng tận do nguồn linh thức quá mạnh, làm rung động một lượt 6 yếu tố công năng và cùng quay chuyển biến hiện mà sanh ra phong đại (gió). Chính do những luồng gió thổi quyện các yếu tố tạo thành không khí, rồi đến địa đại, do sự cọ xát giữa hai áp lực gió và không khí tạo thành lửa (hỏa đại), hơi nóng bốc lên gặp khí lạnh ép xuống thành nước (thủy đại). Lửa bốc lên, nước dội xuống làm cho lắng đọng lại và nguội dần, chỗ nào bằng thẳng là đất, chỗ nào sụt xuống là bể, là hồ, là ao từ đó mọc ra cây cối…Tất cả những thứ đó gọi chung là khí thế gian.”

Trong lục đại th́ địa, thủy, hỏa, phong, không thuộc về sắc pháp, thức th́ thuộc về tâm pháp. Tâm và sắc đều cùng dung ḥa nhau không ngăn ngại nhau và tùy duyên sanh khởi ra vũ trụ vạn hữu. Chúng ta hiện hữu, vũ trụ hiện hữu là do lục đại kết hợp mà ra, lục đại ly tán th́ không c̣n. C̣n, mất chẳng qua là một cuộc hoạt động của vũ trụ vạn hữu. Sự ly tán và kết hợp của lục đại chính là sự vận hành, hoạt động của vũ trụ vạn hữu. Chân Như là thực thể của Lục đại mà lư tánh của ta trừu tượng được, ĺa hiện tượng th́ không có thực thể, ĺa vật thể th́ không có lư được.
Thuyết lục đại duyên khởi là chủ trương của Chân Ngôn tông, lập cứ trên bộ kinh Hán tạng tương đương “Phân biệt lục giới kinh” (Trung A Hàm 42). Bộ kinh này đức Thế Tôn dạy cho một tu sĩ trẻ tuổi Phất-ca-la-sa-lợi tại một nhà của thợ làm đồ gốm trong đêm trú mưa, để khai ngộ vị tu sĩ trẻ tuổi này giác ngộ rằng: Ngă và Pháp đều là vô ngă để rời khỏi chấp thủ tướng, nguyên nhân sinh tử; từ đây sanh tâm từ bỏ và yểm ly, mong cầu liễu thoát khổ đau.

Pháp giới duyên khởi:
Đây là chủ thuyết của Hoa Nghiêm tông, thuyết này cho rằng: vũ trụ là biểu lộ Động của nguyên lư Tĩnh. Vạn hữu hỗ tương phụ thuộc, hỗ tương giao thiệp, không trở ngại lẫn nhau, cùng khởi và đồng thời có mặt; do đó tạo ra một bản đại ḥa tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ sẽ không toàn vẹn, nếu không có cái tất cả th́ cái một cũng không “một là tất cả, tất cả là một”. Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản ḥa âm toàn hảo th́ nó được gọi: Nhất chân pháp giới, vũ trụ của cái một và cái thực. Trong vũ trụ lư tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong ḥa điệu toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của hữu khác.

Theo thuyết này, Pháp giới tṛn đầy biểu hiện qua 4 mặt:
- Sự pháp giới: Thế giới của đời sống hiện thực.
- Lư pháp giới: Thế giới lư tưởng của định luật nguyên lư.
- Lư sự vô ngại pháp giới: Thế giới thể hiện lư trong sự, sự và lư cùng ḥa điệu.
- Sự sự vô ngại pháp giới: Thế giới tương giao ḥa điệu giữa các sự và các hiện thực.

Cái năng động chủ lực của Pháp giới duyên khởi là do vạn pháp, pháp này dung thông với pháp kia, cùng nhau làm duyên khởi, mỗi lớp mỗi lớp không cùng tột cho nên gọi là: pháp giới trùng trùng duyên khởi. Sở dĩ các pháp làm nhân, làm duyên ḥa hợp nhau được là do 10 huyền môn dung thông vô ngại, 10 huyền môn ấy là:

Đồng thời cụ túc tương ưng môn
1- Quảng hiệp tự tại vô ngại môn
2- Nhất đa tương ưng bất đồng môn
3- Chư pháp tương tức tự tại môn
4- Ẩn mật hiển liễu câu thành môn
5- Vi tế tương dung an lập môn
6- Nhân đà la vơng cảnh giới môn
7- Thật sự hiển pháp sinh giải môn
8- Thập thế cách pháp dị thành môn
9- Duy tâm hồi chuyển dị thành môn.

Về thuyết Pháp giới duyên khởi không chủ đích giải thích điểm khởi nguyên của vũ trụ, mà chỉ tŕnh bày cái thực thể toàn diện sinh khởi hoạt động của vũ trụ mà thôi.

Như vậy, t́m đến căn nguyên của vũ trụ vạn hữu th́ gồm có nhiều thuyết khác nhau như:
- Nghiệp cảm duyên khởi: được diễn tả như bánh xe sinh hóa mà nghiệp lực là nguyên nhân chính của hiện tượng giới.
- A-lại-da duyên khởi: là một bước đi sâu vào để giải thích căn nguyên của nghiệp lực. Căn nguyên ấy chính là A-lại-da, công năng A-lại-da lại là nơi cất giữ và phát hiện ra hiện hành của vũ trụ vạn hữu.
Chân Như duyên khởi: Chân Như lại là một nội hàm sâu kín trong A-lại-da, Chân Như hàm chứa trong tàng thức, tàng thức lại dung chứa vô minh làm cho Chân Như dao động mà phát sinh hiện hữu vũ trụ.
Lục đại duyên khởi và pháp giới duyên khởi: thuyết minh cái công năng tạo ra vũ trụ chứ không nhằm vào nguyên nhân như ba thuyết trên.
Reply With Quote