View Single Post
  #4 (permalink)  
Old 06-05-2010, 06:46 PM
HoangYen's Avatar
HoangYen HoangYen is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 135
Tuy để nói về một chủ đề khởi nguyên của vũ trụ và nhân sinh quan, nhưng giáo lư Phật giáo có nhiều thuyết như vậy, có thực sự trái nghịch nhau không? Xin thưa: không!

V́ tôn chỉ của đức Phật là giải thoát sanh tử cho chúng sanh, mà chúng sanh th́ căn cơ bất đồng nên không thể chỉ dùng một phương thức để giáo hóa. Như nền giáo dục cũng chia ra nhiều cấp bực, bước đầu sơ cơ học sinh được cộng trừ nhân chia trên những con số thực, đến cấp III kiến thức đ̣i hỏi không đơn thuần cộng trừ nhân chia mà đi đến căn thừa tích phân… nhưng chắc chắn một điều không phải không xác lập trên cơ sở cộng trừ nhân chia.

Cũng thế, trí tuệ không đồng nhau của các hạng đệ tử cần phải dụng đến kỹ năng nâng cấp để dễ tiếp thu. Cho dù gồm các thuyết có phần dị ngôn nhưng quy luật chung vẫn đồng nhất, đều cho ta một kết luận chính: vũ trụ vạn hữu do nhân duyên quả cấu tạo, giữa các hiện tượng có là do những mối dây liên hệ chằng chịt mật thuyết với nhau mà không bao giờ đứt quăng. Bởi vũ trụ là một “khối duy nhất” nó được bao gồm tinh thần và vật chất, vốn cùng một bản và cùng bất biến, đồng chịu chung vào công lệ: thành-trụ-hoại-không.

Vũ trụ và con người cứ như ḍng sông chảy xiết ra biển, đó là đứng về phương diện động. Nh́n về phương diện tuyệt đối th́ tất cả vạn vật không sinh cũng không diệt, cái bản thể tuyệt đối không thêm không bớt và đó là pháp nhĩ như thị và vấn đề mà Như Lai không muốn tham luận đến, v́ ngôn ngữ chỉ làm mê mờ về Chân Như mà thôi.

NHÂN SINH QUAN:
“Không thể t́m ra một tạo vật, một Brahma hay một vị nào khác làm chủ ṿng luân chuyển đời sốn;. chỉ có hiện tượng diễn tiến, tùy thuộc những điều kiện”.
(Thanh Tịnh Đạo Luận)

Thế ấy “hiện tượng diễn tiến tùy thuộc những điều kiện” là giải đáp những thắc mắc của con người về câu hỏi: con người do đâu mà có, có từ khi nào?

Con người do đâu mà có?
Cái “hiện tượng diễn tiến tùy thuộc những điều kiện” ấy được nói rơ trong Thập nhị nhân duyên. Đây là bài pháp giảng về tiến tŕnh của hiện tượng sanh tử luân hồi, nguồn gốc đau khổ và chỉ nhằm mục đích giúp chúng sanh thoát khỏi các phiền năo của đời sống.
- Vô minh: tức do không nhận định được chân lư về sự khổ, nguyên nhân của sự khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ. Cái không thấy, không nhận định được đó chính là nguyên nhân làm động lực thúc đẩy chuyển động bánh xe đời sống. Đức Phật dạy: “Vô minh là lớp ảo kiến mịt mù dày đặc, trong ấy chúng sanh quay quần, quanh lộn.” (Nipata)
Đến khi lớp vô minh bị phá vỡ th́ vấn đề nhân quả cũng chấm dứt “người đă tiêu trừ ảo kiến và phá tan lớp tối tăm dày đặc sẽ không c̣n thênh thang đi măi nữa. Đối với người ấy sẽ không c̣n vấn đề nhân quả nữa”.
- Hành: là hành động, là tác nghiệp. Nó phát sinh tùy thuộc vào vô minh. Tất cả những tư tưởng, lời nói, việc làm thiện và bất thiện đều nằm trong Hành. Những hành động tốt hay xấu trực tiếp phát nguồn từ vô minh, hay nói cách khác th́ vô minh gián tiếp làm động cơ thúc đẩy để tạo nghiệp
- Thức tái sanh nối liền quá khứ với hiện tại là tùy thuộc nơi hành. Thức tái sanh phối hợp với tinh trùng của cha và minh châu của mẹ cấu thành bào thai chuẩn bị cho cuộc sống kế tiếp, trong cái thức ấy ngủ ngầm những cảm giác đă thọ, những đặc tính và những khuynh hướng riêng biệt trong ḍng đời đă qua của một cá nhân.
- Danh-sắc phát sanh cùng một lúc với thức tái sanh. Hành và thức thuộc về 2 kiếp quá khứ và hiện tại của một chúng sanh. Trái lại thức và danh sắc cùng phát sanh trong một kiếp sống. Danh thuộc phần tâm, sắc thuộc phần nhục thể, hữu h́nh của một chúng sanh.
- Lục nhập được h́nh thành từ nơi danh sắc, đó là chi thứ 5 trong 12 chi phần, nói lục nhập là nói sự gặp gỡ giữa 6 căn và 6 trần, khi sự gặp nhau giữa căn và trần th́ thức xuất hiện, như thế lục nhập tự nó bao hàm vô minh và khổ đau. Đức Phật dạy: “V́ có mắt và sắc nên nhăn thức phát sanh, xúc là giao điểm của ba yếu tố ấy. V́ có tai và âm thanh nên nhĩ thức phát sanh. V́ có mũi và hương nên tỷ thức phát sanh. V́ có lưỡi và vị nên thiệt thức phát sanh. V́ có thân và vật có thể sờ mó được nên thân thức phát sanh. V́ có tâm ư và đối tượng của tâm pháp nên ư thức phát sanh.”
- Xúc là điểm giao thoa giữa ba yếu tố từ nơi lục nhập. Như vậy sự đụng chạm suông không phải là xúc, v́ muốn có xúc th́ phải đủ ba yếu tố: đối tượng, giác quan và thức.
- Thọ cảm giác thâu nhận lạc, bất lạc, bất khổ bất lạc. Chính thọ thâu nhận những quả lành dữ của những hành động trong hiện tại, ngoài tâm sở thọ không có một linh hồn hay một bản ngă nào hưởng quả lành hay quả dữ.
- Ái tùy thuộc nơi cảm thọ mà phát sanh. Cũng như vô minh, ái hay ái dục rất quan trọng, luyến ái, khao khát, bám víu. Trong kinh Chánh Tri Kiến, tôn giả Xá-lợi-phất bàn đến ba nhóm ái như sau:
“Này chư Hiền! Thế nào là sự bịnh khởi của khổ đau? Chính ái hướng đến một đời sống khác, đi cùng với hỷ lạc và tham, t́m kiếm hỷ lạc tại chỗ này chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái và vô hữu ái. Này chư hiền! Đây gọi là nguồn gốc của khổ đau”. Khát ái các lạc thú có nghĩa là khát ái vị ngọt của sắc, thinh, hương, vị và xúc. Đây là dục lạc, trong đời sống hằng ngày, con người luôn sống với khát vọng hạnh phúc và lạc thú từ sáu trần. Chẳng may mọi vật, mọi lạc thú đều vô thường qua từng sát na và sự kiện này khiến con người sầu khổ và khiến dục vọng bốc cháy, dục vọng càng bốc cháy th́ khổ đau càng nhiều. Điều này cho ta thấy, tham ái chính là căn gốc của khổ đau cho kiếp hiện tại và tương lai.
- Thủ là t́m cầu nắm lấy cái hay, cái tốt, cái ưa thích do nơi ái mà phát sanh. Sự khổ đau của cuộc đời đă khiến con người nắm giữ ḷng ham muốn và nắm giữ đối tượng ham muốn, xem đấy là con đường t́m kiếm hạnh phúc. Do vậy, con người xem dục vọng và tư duy như là tự ngă của ḿnh, thực ngă của ḿnh. Nguyên nhân của thủ là luyến ái lầm lạc, ái như kẻ trộm đi ṃ trong đêm tối để trộm vật, thủ như kẻ trộm đang ôm giữ vật được lấy cắp.
- Hữu chi thứ 11 trong 12 nhân duyên, tùy thuộc nơi Thủ mà Hữu phát sanh, đó là sản phẩm từ sự tích tụ của Thủ, có nghĩa là đang trở thành, hành động tạo nghiệp và những cảnh giới của chúng sanh. Hữu gồm có: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
+ Dục hữu: thế giới mà chúng sanh tham đắm sắc, thinh, hương, vị và xúc.
+ Sắc hữu: cảnh giới mà chúng sanh tham đắm các sắc tế nhị, tham đắm sự hiện hữu và tồn tại.
+ Vô hữu sắc: cảnh giới mà chúng sanh nhàm chán hiện hữu, chúng sanh cơi này chỉ mong muốn không hiện hữu.
- Sanh tùy thuộc nơi hữu có mặt ngay nơi kiếp hiện tại. Một cách chính xác, sanh là sự phát sanh của những hiện tượng tâm-vật lư con người (một cuộc sống vừa chào đời).
- Lăo tử là hậu quả hiển nhiên của sự sanh ra, là sự già yếu, bịnh hoạn, chết chóc của cuộc đời con người.

Quả phát sanh v́ có nhân. Vậy nếu không có nhân tức không có quả, nếu nhân bị diệt tức quả cũng sẽ diệt. Trong 12 nhân duyên vô minh thuộc về hoặc và hành thuộc về nghiệp, Đó là nhân quá khứ, do nhân quá khứ ấy mà có năm quả khổ hiện tại: thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Do quả khổ hiện tại nói trên mà khởi ra hoặc là ái và thủ; ái, thủ lại tạo nghiệp là hữu, do đây làm nhân khổ cho đời sau là sanh và lăo tử. Tiến tŕnh Nhân và Quả liên tục diễn tiến theo ṿng tṛn Hoặc-Nghiệp-Khổ vô cùng tận, không thể nhận ra được khởi điểm của tiến tŕnh ấy, v́ ta không thể quan niệm được điểm chấm dứt của ḍng thời gian vô hạn, ḍng sanh tử của ta luôn bị màn vô minh bao phủ. Tuy nhiên, giờ phút nào trí tuệ thay thế vô minh và chứng nghiệm được bản chất của Niết-bàn, khi ấy tiến tŕnh sanh tử sẽ chấm dứt. Quá tŕnh vận hành của 12 nhân duyên giải đáp câu hỏi mà nhân loại luôn t́m kiếm, tranh luận, lập luận… về khởi nguyên con người do đâu mà có? Bây giờ chúng ta t́m hiểu về cấu tạo sắc thân của con người là ǵ?

Sắc thân con người:
Giáo lư Ngũ uẩn cho ta hiểu rơ về sắc thân con người được cấu tạo như thế nào? Ở tại vườn Lộc Dă, ngay sau ngày thứ nhất giảng dạy về giáo lư Tứ Thánh đế, đức Phật đă dạy giáo lư Ngũ uẩn. Đức Phật dạy: cái được gọi là chúng sanh gồm 5 uẩn, ngoài 5 uẩn ấy không có chúng sanh. Nếu bỏ năm uẩn ra sẽ không c̣n ǵ tồn tại, không có linh hồn hay bản ngă trong một uẩn riêng lẻ, không có linh hồn trong 5 uẩn hợp lại, mà linh hồn cũng không có ngoài 5 uẩn ấy. Vậy 5 uẩn ấy là ǵ?

Năm uẩn đó chính là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Uẩn nghĩa là sự tụ tập, tích tập theo từng loại, cùng loại, cùng với tính chất giống nhau, nhóm lại một nhóm gọi là uẩn. Tức là năm nhóm: nhóm sắc, nhóm thọ, nhóm tưởng, nhóm hành và nhóm thức kết hợp thành một giả tướng, giả tướng ấy được gọi là con người.

Ngũ uẩn cũng gọi là sanh y, tức là cái căn cứ cho một đời sống khác, là chỗ y cứ cho một cuộc đời, cho một sự sống nên gọi là sanh y.
Trong kinh Tạp A Hàm VI cũng nói: “Ư sắc nhiễm trước triền miên danh viết chúng sanh; ư thọ, tưởng, hành, thức nhiễm trước triền miên danh viết chúng sanh.” Nghĩa là đối với sắc nhiễm trước triền miên gọi là chúng sanh, đối với thọ, tưởng, hành, thức nhiễm trước triền miên gọi là chúng sanh, ai không nhiễm trước th́ người đó là Phật.
Kinh Thế Bổn Duyên nói: “Chúng sanh là một danh từ chung gọi tất cả các loại sanh chung trong thế gian này, không phân biệt già, trẻ, nam, nữ… ǵ cả”.
Trong Câu Xá Quang Kí, quyển I lại nói: “Thọ chúng đa sanh tử cố viết chúng sanh.” Tức là thọ rất nhiều sanh tử gọi là chúng sanh. Trong bộ Đại Thừa Đồng Tánh nói rằng: “Do lấy năm uẩn làm duyên giả hợp sinh ra nên gọi chúng sanh”.
Như vậy, chúng ta hiểu chúng sanh ở đây cũng chính là chữ Ngă. Cái Ngă được tích tập, nhóm họp của năm nhóm:
-Sắc (thân thể)
-Thọ (cảm giác)
-Tưởng (tri giác)
-Hành (động lực và cảm xúc)
-Thức (vận động của ư thức)
Reply With Quote