View Single Post
  #5 (permalink)  
Old 06-05-2010, 06:48 PM
HoangYen's Avatar
HoangYen HoangYen is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 135
Sự nhóm họp tạo thành một cá thể người và sự nhóm họp ấy không có một bản ngă riêng biệt, nó chỉ là giả tướng, làm căn cứ cho cuộc sống. Nhưng v́ vô minh che lấp mà lầm chấp cho rằng đó là ngă - một cái Tôi riêng biệt, rồi khư khư theo đó mà tham ái, chấp thủ, tạo nghiệp, cứ thế mà xoay vần, lặn hụp măi trong biển sanh tử luân hồi.
- Sắc uẩn được hiểu là cơ thể vật lư, là thể chất con người. Sắc uẩn gồm tứ đại năng tạo và tứ đại sở tạo. Tứ đại năng tạo: đất, nước, gió, lửa; tất cả sự vật, tất cả vật chất đều do tứ đại này mà có, nó như cái gốc từ đó sanh ra tất cả sự vật nên gọi là năng tạo. Tứ đại sở tạo: năm căn, năm trần được tạo ra bởi đất, nước, lửa, gió và đồng thời cũng do tính chất của tứ đại: cố, dịch, nhiệt, động tạo ra. V́ năm căn, năm trần này mà tứ đại được gọi: sở tạo.

Năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân; những h́nh dáng bên ngoài, nó như những cửa sổ để thu nhận năm trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc được gọi là phù trần căn. Chính phần thần kinh ở năo bộ điều khiển tất cả cảm giác của con người, khi các sự vật bên ngoài tác động vào, qua phù trần căn được truyền dẫn đến trung tâm và tại đây ứng đối tạo thành cảm giác. Căn này được cấu tạo bởi những chất liệu rất tinh tế vi diệu nên gọi: tịnh sắc căn.
- Thọ uẩn: thọ là lănh nạp, nạp thọ, nhận lănh. Cái ǵ đến với ta, ta nhận lănh gọi là thọ, nó thuộc về phần cảm giác. Thọ gồm có: lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Thọ sẽ đưa đến ái và thủ, thọ này mà chấp thủ th́ sẽ thành ra ái và trước. Chấp nhận cái này như thế này, cái kia như thế kia… chấp nhận thế gian này là thường hay vô thường, thế gian là vô biên hay hữu biên… cho nên trong kinh Phạm Vơng và Trường A Hàm, đức Phật nói có 62 kiến chấp của ngoại đạo đều do thọ nhận mà ra cả.
- Tưởng uẩn: Tưởng là tưởng tượng, suy tưởng, là phần tri giác của con người; sự tri giác sai lầm vào cá nhân hoặc cá tính dẫn đến kiến chấp có một cái Ngă – Ngă sở đó là ảo tưởng. Trong kinh Phật dạy: “Ta có mặt trong quá khứ, đó là một ảo tưởng; ta không có mặt trong quá khứ đó là một ảo tưởng. Ta có sắc trong quá khứ, đó là một ảo tưởng; ta có mặt trong hiện tại đó là một ảo tưởng. Ta có sắc trong hiện tại đó là một ảo tưởng, trong vị lai, trong quá khứ như thế là một ảo tưởng”.
Có tưởng là có vướng mắc, là có chướng ngại, tức là trí tuệ bị hạn, đang bị ràng buộc, đang bị diễn biến sanh diệt, tưởng thuộc về kiến, kiến thuộc về chấp thường chấp đoạn, chấp có chấp không, thế giới hữu biên hay vô biên… Chính những ư tưởng suy đoán này dẫn đến ư thức phân biệt, so sánh và đặt tên cho sự vật, tạo ra thế giới muôn h́nh vạn trạng sai biệt. Vốn dĩ pháp giới b́nh đẳng nhất như trong mối tương quan chặt chẽ của pháp giới “Trùng trùng duyên khởi”.
- Hành uẩn: nghĩa là sanh diệt, là thiên lưu, tạo tác. Nó thuộc phần cảm xúc và động lực để đưa đến sự vận động của ư thức. Trong kinh Phật dạy: “Chư hành vô thường, chư pháp vô ngă”. Hành là nói về các pháp, các hiện tượng được kết hợp bởi nhiều yếu tố, nó vô tự tính, luôn luôn dời đổi nên gọi là hành. Như vậy, chữ hành bao gồm cả sắc và tâm. Sắc cũng hành, thọ cũng hành, tưởng và thức cũng hành. V́ sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều có tính chất được kết hợp bởi nhiếu yếu tố và luôn luôn thay đổi. Trong 100 pháp (ngoại trừ sắc, thọ, tưởng, thức v́ chúng đă có tên riêng) tấc cả các pháp đều được gọi là hành uẩn, những pháp đó được phân làm hai: tâm tương ưng hành và tâm bất tương ưng hành.
Tâm tương ưng hành gồm có 51 món tâm sở: ngũ biến hành, ngũ biệt cảnh, 11 món thiện, 20 món tùy phiền năo, 6 căn bản phiền năo, 4 bất định; 51 món tâm sở này hoạt động cùng tâm vương nên gọi là tâm tương ưng.

Tâm bất tương ưng: gồm có 24 món tâm sở, nó không cần tâm vương vẫn hoạt động được. Tuy nhiên, chúng cũng không tách ra khỏi tâm vương mà có được.

Trong hành uẩn suốt quá tŕnh hành động có cố ư đều là tác động của tư tâm sở. Đức Phật dạy có cố ư làm (tư tâm sở hiện hữu trong hành động gồm ba giai đoạn: suy nghĩ tính toán, quyết định và hành động) mới thành nghiệp, mới đưa đến quả, như vậy mới gọi là nghiệp.
- Thức uẩn: sự vận động của ư thức, sự nhận thức, biện biệt một cách rơ ràng, có tính trực giác, hiện lượng. Nhận thức cái này, cái nọ… rồi phản ảnh lại, phản ánh cảnh vật ở trong tâm; như khi sắc tác động vào mắt, mắt biết đó là sắc; tiếng tác động vào tai, tai biết đó là tiếng… biết sắc, biết tiếng, biết hương, biết vị… đó là thức giác, là liễu biệt nhưng không hề có hiện lượng so sánh, hay dở, tốt xấu.

Nói tóm lại, ngũ uẩn gồm hai phần thể chất (sắc) và tâm hồn (thọ, tưởng, hành, thức) hai phần này tương đương với danh và sắc trong Thập nhị nhân duyên; khi phân tách th́ gọi ngũ uẩn, gom lại th́ gọi là danh sắc, hay là sắc tâm. Trong con người chúng ta không có cái ǵ ngoài năm uẩn, năm uẩn kết hợp tạo nên cá thể người, nếu chúng ta không đem tâm so sánh phân biệt năm uẩn th́ vạn pháp đều b́nh đẳng, tất cả pháp như nhau, nó trùng trùng duyên khởi tạo nên một sự tương quan chặt chẽ, cái này liên hệ với cái kia, chúng nằm trong nhau và không tách biệt nhau. Thế nhưng tưởng nó chia ra, tạo ra, sắp đặt tạo nên cái danh của các pháp, v́ vậy chúng ta thấy giữa người có học thức, người ít học thức với một em bé sơ sinh có cái khác nhau. V́ cái tưởng, tŕnh độ của cái tưởng, tác dụng của cái tưởng mà tạo thành rồi dẫn đến kiến chấp vào ngă và ngă sở. Trong sự tin tưởng rằng tôi là cái này hay tôi có cái đó làm cho vạn pháp có ranh giới, có giới hạn, có nghiệp, lại chính là nơi nghiệp vận hành bánh xe luân hồi sanh tử khổ đau.

Trên đây đă nói rơ về ngũ uẩn, sự phân tích về sắc thân nhân sanh, đó chỉ là một tích tập, nhóm họp tạo thành nên không có một cái Ngă thể riêng biệt để chấp thủ. Tuy nhiên, sự đau khổ của con người không do sự tích tập, nhóm họp ấy mà chính là do ḷng khát ái năm uẩn; đức Phật dạy rằng: năm uẩn là gánh nặng.
Kẻ gánh nặng là người
Cầm lấy gánh nặng lên
Chính là khổ ở đời.
C̣n đặt gánh nặng xuống
Tức là lạc ở đời.
Đặt gánh nặng xuống rồi
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên
Tận cùng đến gốc rễ
Không c̣n đói và khát
Đă giải thoát tịnh lạc.
(Tương Ưng Bộ Kinh III. Tr.39).

Như vậy, khởi nguyên của sự sống con người nó không có sự bắt đầu và sự chấm dứt, mà là ṿng tiếp nối của Hoặc-Nghiệp-Khổ; ṿng tṛn 12 Nhân duyên được nối tiếp của nhân quá khứ, quả hiện tại, nhân hiện tại quả vị lai. Sự vận hành này được vận hành trên giả tướng của bản ngă.
Giá Trị Của Con Người:
Trong kinh Hoa Nghiêm có dạy: “Con người là hơn cả, v́ có thể thực hiện mọi sự tốt đẹp ở đời”.

Kinh Ưu Bà Tắc dạy: “Hoàn cảnh con người không quá khổ như địa ngục, không quá vui như thiên đường và không ngu si như các loài sinh vật”.
Và lời tuyên ngôn của đức Thế Tôn khẳng định rằng: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. “Ta là Phật đă thành và các ông là Phật sẽ thành”. Như vậy, giá trị con người trong đạo Phật luôn được đề cao và được nh́n nhận là một chủng loại có đặc tính vạn năng. Tư tưởng, ư chí và hành động của con người quyết định hết thảy. Con người tốt hay xấu, giàu hay nghèo, ngu tối hay thông minh và xă hội có mở mang hoặc thoái hóa, nguyên nhân chính vẫn là con người, con người tự tạo nên ḿnh, cũng chính con người tự tiêu diệt lấy ḿnh, bên trong con người có một đống rác tật xấu và một kho tàng đức hạnh. Ta có thể t́m thấy trong con người bản chất cầm thú, sâu bọ, người, siêu nhân, trời, phạm thiên… Những khuynh hướng tội lỗi và những tâm tánh thánh thiện đều có ngủ ngầm trong đó. Con người có thể là một phước lành hay một tội lỗi cho kẻ khác, v́ chính con người tự ḿnh là một thế giới, nếu con người biết cách điều khiển cuộc sống th́ mọi việc sẽ tốt đẹp, ngược lại th́ cuộc sống, người giăng bẫy chính là con người và người mắc bẫy cũng chính là con người. Ḷng khát ái của con người đối với vật chất như tiền tài, sắc đẹp, ngủ nghỉ, ăn uống cùng với những ham muốn thỏa măn những nhu cầu về tinh thần như danh lợi, chức quyền… làm cho con người ích kỉ, tham lam. Con người bị trói buộc vào dục vọng như con ngựa bị ràng buộc vào cổ xe, cứ phải kéo măi không bao giờ được yên nghỉ. Tuy nhiên, con người vốn hữu có Phật tánh và Phật tánh nơi con người quyết định gầy dựng hạnh phúc của con người mà không cần van xin ở một đấng thần linh nào khác; cái vốn trí tuệ, từ bi, b́nh đẳng, giải thoát và tự chủ nơi con người sẽ làm tịnh hóa nỗi khổ đau, mê tối trong cuộc sống và đưa con người trở về với bản tánh thanh tịnh, kiến tạo thế giới Tịnh độ ngay giữa nhân gian này.

Phật giáo phủ nhận tạo hóa và các thuyết về nguyên nhân đầu tiên; như vậy, theo quan điểm của Phật giáo chủ trương không có định mạng, vận mạng, hay tiền định bất di bất dịch đă được sắp xếp an bài, kiểm soát tương lai của con người ngoài ư muốn của họ và không tùy thuộc hành động của họ. Nếu tin như vậy, tự do ư chí đă trở nên tuyệt đối và là một chuyện khôi hài và đời sống trở thành thuần túy máy móc và thụ động.
Con người có đủ quyền năng lựa chọn giữa điều phải và lẽ quấy, việc tốt và việc xấu. Con người có thể là bạn lành hoặc là kẻ thù địch của chính ḿnh và cho người khác. Tất cả đều do tâm và tiến tŕnh phát triển của tâm. Mặc dù không sẵn có mục tiêu đặc biệt cho kiếp nhân sinh, nhưng con người vẫn được tự do tạo cho ḿnh một lư tưởng của cuộc sống. Vậy mục tiêu của cuộc sống là ǵ?

Theo Ấn Độ giáo mục tiêu của đời sống con người là: đồng nhất thể với Brahma hoặc “hườn nguyên” nhập trở vào tinh chất thần linh, cái đại hồn, mà từ đó linh hồn của con người được tách rời ra.
Theo Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo th́ mục tiêu của đời sống là làm vẻ vang Thượng đế măi măi đời đời.

Mục tiêu của Phật giáo chính là trạng thái toàn giác (Sambodhi) tức là thấu triệt được thực tướng của chính ḿnh, tự hiểu biết chính ḿnh đúng như thật của các pháp, đó là tịnh hóa tâm thức khỏi những dục vọng thấp hèn, sự thấy rơ các pháp do duyên sanh và cũng do duyên diệt. Sự giác ngộ cao siêu này có thể thành đạt bằng cách nghiêm tŕ giới luật, trau dồi tâm tuệ giác và khai triển trí tuệ hoàn hảo mà không cầu khẩn một đấng tạo hóa nào cả.

Phật giáo tin có hiện tại, rồi căn cứ trên hiện tại mà suy diễn rằng có quá khứ và tương lai. Cũng như ánh sáng đèn điện là sự biểu hiện ra bên ngoài của luồng điện cực vô h́nh, cũng như thế ấy, con người chỉ là sự biểu hiện ra ngoài của năng lực vô h́nh của nghiệp. Bóng đèn điện có thể bể và ánh sáng có thể tắt, nhưng luồng điện vẫn c̣n và ánh sáng có thể trở lại khi gắn vào đó một cái bóng khác. Cũng thế ấy, luồng nghiệp lực vẫn trôi chảy như thường, không bị tan vỡ của cơ thể vật chất làm xáo trộn. Tâm thức của con người lâm chung trong hiện tại chấm dứt và khi chấm dứt, tạo duyên cho một tâm thức mới phát sanh trong kiếp sống kế. Nghiệp quá khứ tạo điều kiện cho kiếp sống tương lai.

Như vậy, con người sanh ra từ bào thai hành động (nghiệp), đây là nguồn chủ động của sự sống, cha mẹ chỉ cung ứng vào phần vật chất. Vào lúc thọ thai chính do nghiệp tạo duyên để thức đầu tiên làm nguồn sống vào thai bào, nghiệp lực vô h́nh này phát sanh từ kiếp sống quá khứ tạo thành những hiện tượng tâm linh và hiện tượng sinh lực trong hiện tượng vật chất sẵn có, hội đủ ba yếu tố cấu thành con người. Ấy chính là ṿng tṛn Hoặc-Nghiệp-Khổ của luân hồi sanh tử mà không t́m ra đầu mối.
Như vậy đặc tính chung của hiện tượng giới (nhân sinh quan và vũ trụ quan) đều do các duyên tụ hội theo luật nhân duyên quả mà không có một bản thể riêng biệt tồn tại vĩnh cửu, nên vũ trụ và nhân sinh đều có chung tánh chất: vô thường, vô ngă. Người học Phật chúng ta nh́n nhận sự vật đúng như bản chất của chúng th́ mới mong đoạn trừ khổ đau, giải thoát an vui trong hiện tại và tự nơi cá nhân mỗi người ư thức rằng: “Hành động được phát xuất từ ba nghiệp: thân, khẩu, ư sẽ định hướng cho cuộc sống thiện ác của ḿnh”.

Thị Hoa
(Nguồn: Phụ bản Pháp luân số 3)
VÅ© trụ quan vĂ  nhĂ¢n sinh quan cá»§a Phật giĂ¡o :: HOA LINH THOAI ::
Reply With Quote