View Single Post
  #6 (permalink)  
Old 06-05-2010, 06:09 PM
YoYo's Avatar
YoYo YoYo is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 141
2). Áp Dụng
Như đă tŕnh bày, Trung Đạo là pháp Chánh Trí Tuệ, Tĩnh Giác hay thiền đốn ngộ là tri nhận giác thức tức "tri thức nguyên thủy" của "chân trí". Muốn đạt được Tánh Giác ta phải thực hiện như sau:
"Nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên thủy. (Pure Perception)
Tri nhận Giác Thức nguyên sơ để có Tri Thức nguyên thủy (Pure Cognition) và xa ĺa tri thức đó."

Trong tứ oai nghi, nhất là lúc ngồi thiền, lúc nào chúng ta cũng Tĩnh Giác, nghĩa là không trụ vào đối tượng vừa tri nhận và cứ tiếp tục Tĩnh Giác măi (Ưng vô sở trụ). Biết rằng thực hành như vậy là chúng ta đă vượt khỏi thời không (Vô thời không). Thí du: Phần thực hành như sau:

a). Ngồi thiền: Sau khi sắp đặt, điều chỉnh tư thế, hơi thở và nghi lễ là ta phải nhớ thường tĩnh giác (Thường Biết rơ ràng):
Khi ph́nh bụng, ta biết ph́nh bụng
Khi xẹp bụng, ta Biết xẹp bụng.
Hoặc khi thở vô, biết ta thở vô,
khi thở ra, ta Biết thở ra.

Đó là niệm thân cũng là thiền tứ niệm xứ. Cứ như thế thực hành lối nửa giờ hay tùy thời gian định
* Thiền Đốn Ngộ th́ muốn thể hiện Chân Tâm dùng cách tri nhận Tri Thức Nguyên Thủy tức Thực Tại toàn diện không thêm không bớt (toàn diện phải có Thức và Trí; không thiếu Thức và Trí, nhưng thêm Thức nữa hay quán thêm đối tượng th́ không c̣n là Chân Trí mà là Trí Thức hay Tư Tưởng. Do đó tri nhận thực tại tuyệt đối là Tánh Giác vô thời không.
Tới niệm thọ: tùy thời gian,
Khi thở vô dài, (dài, ngắn hay khó v.v ta cảm thọ được) ta Biết thở vô dài,
khi thở ra dài, ta Biết thở ra dài,
Hoặc, ngứa ta Biết ngứa hay mỗi hiện tượng ta nghe, lạnh, nóng v.v. ta đều Biết rơ ràng từng sự việc,
Sau cùng niệm Tâm và Pháp: tùy thời gian,
Khi ta nhớ lại việc ǵ hoặc, vọng tưởng nổi lên, hay tự động suy nghĩ điều ǵ,
ta Biết ta tưởng à. Đủ rồi
* V́ khi Căn Ư nhớ lại Pháp Trần (Sự việc, vọng tưởng, tự động suy nghĩ v.v) mà có sự nhớ Tưởng (Tâm),
* Nếu, truy quán việc nhớ lại, vọng niệm hay việc suy nghĩ nữa th́ kéo dài thời gian vô ích.
* Cứu cánh của Trung Đạo hay Thiền Đốn Ngộ đạt đến Giác Ngộ Giải Thoát khỏi ḍng bộc lưu sanh tử v́ không c̣n nghiệp thức đeo đuổi, không c̣n nhân duyên chằng chịt vượt khỏi thời không. Nếu huân tập thâm sâu ḍng tâm thức càng trở nên trong sạch. Ví như cái hồ nước vẩn đục, ta xả ra mà không có đổ vô thêm nước vẩn đục (nghiệp thức) nữa, th́ nước vẩn đục (ḍng Tâm Thức) dần dần sẽ hết tức là ḍng tâm thức không c̣n tính vẩn đục. Lúc sống được tự tại th́ lúc chết làm sao bị ḍng tâm thức (nghiệp) quấy nhiểu. Khi chết không c̣n nghiệp thức vấn vương, th́ thể trí cũng tự tại vậy. Trong tứ oai nghi, lúc nào cũng tĩnh giác như các bài thực tập tham khảo dưới đây.

b) Tứ oai nghi: Tri nhận niệm đầu của đối tuợng và liền Biết ngay đối tượng đó rơ ràng. Riêng có vọng tưởng nổi lên hay suy nghĩ, liền Biết ngay tôi tưởng à hay tôi suy nghĩ à v.v...

IV. Kết Luận
Trung Quán Luận là Pháp Học cũng như Pháp Hành đều được quán sát sâu sắc con người, vạn vật cùng thuộc tính, với Chánh Kiến Chánh Tư Duy và phân tách hệ quả của các hành thức trên mà Bát Chánh Đạo trong Giáo Lư Phật đă soi rọi và hư không hóa mọi hữu tồn dù tâm hay vật.. BT Long Thọ dùng phủ định tính (ḍng duyên khởi: ḍng tâm thức con người với tất cả mọi phiền trược nghiệp thức kể cả sự biến dị của thời không) để hướng dẫn dần đến sau cùng không c̣n ǵ phủ định nữa tức là tiến đến khẳng định tánh không là Trung Đạo.Tựu trung diệu dụng của người thực hành Trung Đạo là nhận ra tánh giác của chính ḿnh, tánh giác nầy không sanh không diệt không tướng mạo mà hằng giác. Bởi hằng giác nên chẳng phải không, không tướng mạo nên chẳng phải có. Sống được với tánh giác là thoát ly sanh tử, tuổi thọ tánh giác đồng với hư không. Cho nên trong kinh nói tuổi thọ của Phật không biết bao nhiêu tính kể. Đạt được tuổi thọ vô lượng vô biên ấy, c̣n ǵ hạnh phúc bằng, c̣n ǵ quí bằng. Sống với cái vĩnh cữu chẳng sanh chẳng diệt nầy, mới thực là đến chỗ chân thật tuyệt đối hay Trung Đạo. C̣n có ǵ ở thế gian có thể so sánh với tánh giác. Tánh giác nầy mới thực ta (Chơn Ngả), tánh giác không bao giờ mất (Chơn thường), tánh giác là chơn thực hạnh phúc (Chơn lạc), tánh giác không có ǵ ô nhiễm được (Chơn tịnh). Sống đến chỗ chơn ngă, chơn thường, chơn lạc, chơn tịnh nầy, mới là điểm cứu cánh của Trung Luận cũng như đích đến của thiền tông. (Xem Nhất Nguyên Luận, Phổ Nguyệt)

Phổ Nguyệt

Tham khảo
Cốt Tủy các Kinh Căn Bản Phật Giáo. Phổ Nguyệt, 2006. Trích trong website Tạng Thư Phật Học:
Tang Thu Phat Hoc.
Nhất Nguyên Luận. Phổ Nguyệt, 2003. Trích trong Tạng Thư Phật Học.
Phủ Định Thức Và Biện Chứng Pháp Trung Quán, B.K Martial, Thượng Tọa T. Viên Lư Dịch, 2000.
Trích trong sách Thực Tại và Chí Đạo đăng trong website Tạng Thư Phật Học.
Trung Luận (Madhyayamakakàrikà) Bồ Tát Long Thọ (Nàgàrjuna). Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La
Thập. Việt dịch: Thích Viên Lư. Trích trong website Quảng Đức (Tủ sách Phật Học)
Trang Nha Quang Duc | Quang Duc English Vietnamese Buddhist Website|Melbourne, Australia
Trung Luận.(Madhyamaka Sastra). Nagaruna. Việt dịch: HT Thích Thiện Siêu. Trích trong website Quảng Đức.
Reply With Quote