View Single Post
  #2 (permalink)  
Old 07-12-2007, 05:18 PM
TPhuong's Avatar
TPhuong TPhuong is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 160
1. Bối cảnh lịch sử Ấn Độ trước Phật giáo

Về địa lư, phía Bắc của Ấn Độ là dăy Hy-mă-lạp-sơn (Hymalaya) cao lớn và dài tạo nên một hàng rào cô lập các vùng b́nh nguyên của xứ này với các vùng c̣n lại. Để liên lạc với bên ngoài th́ chỉ có con đường núi xuyên qua A Phú Hăn (Afghanistan). Nền văn hóa chính ngự trị thời bấy giờ là văn hóa Vệ Đà (Veda). Theo sử liệu hiện nay th́ dân tộc Ấn (Veda) có chung tổ tiên với các dân tộc châu Âu là các bộ lạc du mục đă mở mang và xâm chiếm các vùng lănh thổ Tây Bắc Ấn và lan rộng ra hầu hết bán đảo Ấn Độ khoảng 1000 năm trước Công Nguyên.

Văn hoá Vệ Đà nghiêng về thờ phụng nhiều thần thánh cũng như có các quan điểm thần bí về vũ trụ. Những sự phát triển về sau đă biến Veda thành một tôn giáo (đạo Bà La Môn) và phân hoá xă hội thành 4 giai cấp chính trong đó giai cấp Bà La Môn (hay tăng lữ) là giai cấp thống trị.

Tư tuởng luân hồi và cho rằng sinh vật có các ṿng sinh tử thoát thai từ đạo Bà La Môn (hay sớm hơn từ tư tưởng Veda). Đạo này c̣n cho rằng tồn tại một bản chất của vạn vật đó là Brahman (hay Phạm Thiên). Do việc giai cấp tăng lữ được đề cao và được hưởng mọi ưu đăi bổng lộc trong xă hội đă tạo điều kiện cho việc phân hoá thành phần này ra rất nhiều hướng triết lư hay hành đạo khác nhau và đôi khi chống chọi phản bác nhau. Trong thời gian trưóc khi Thích Ca thành đạo đă có rất nhiều trường phái tu luyện. Các xu hướng triết lư cũng phân hoá mạnh như là các xu hướng khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật, hoài nghi mọi thứ, huyền bí ma thuật, khổ hạnh, tu đức hạnh, tụng kinh...

Chính sự phức tạp của xă hội, các tư tưởng về nhân sinh quan vũ trụ quan khá phong phú, và sự xuất hiện của các phương thức tu tập dị biệt nhau đă là một môi trường giúp cho Thích Ca từ đó t́m ra con đường riêng cho đạo Phật về sau.

2. Giai đoạn sơ khai và Giáo hội đầu tiên

Điêu khắc bằng đá vào thế kỉ thứ I dấu chân Phật có chạm h́nh bánh xe Pháp Luân

2.1 Giai đoạn sơ khai

Ngay sau khi thành đạo (vào khoảng giữa sau thế kỉ thứ 6 TCN - có tài liệu cho đó là vào năm 544 TCN) th́ Thích Ca đă quyết định thuyết giảng lại hiểu biết của ḿnh. 60 đệ tử đầu tiên là những người có quan hệ gần với Thích Ca h́nh thành tăng đoàn (hay giáo hội) đầu tiên. Sau đó, những người này chia nhau đi khắp nơi và mang về thêm ngày càng nhiều người muốn theo tu học. Để làm việc được với một lượng người theo tu học ngày càng đông, Phật đă đưa ra một chuẩn mực cho các đệ tử có thể dựa vào đó mà thu nhận thêm người. Các chuẩn mực này phần chính là việc quy y tam bảo -- tức là chấp nhận theo hướng dẫn của chính Phật, những lời chỉ dạy của Phật (Pháp), và cộng đồng Tăng đoàn.

2.2 Tổ chức giáo hội đầu tiên

Trong thời c̣n tại thế th́ giáo hội trực tiếp chịu sự hướng dẫn của Thích Ca về giáo lư và phương cách tu tập. Đây là tổ chức thống nhất, b́nh đẳng giữa mọi thành viên không phân biệt gíới tính, tuổi tác, điạ vị xă hội và có mục tiêu tối cao là đem lại giác ngộ cho mọi thành viên. Nhờ vào tổ chức chặt chẽ và qui củ nên giáo hội tránh được nhiều chia rẽ.

Kỷ luật của giáo hội dựa trên nguyên tắc tự giác. Trong các ḱ họp, giới luật được nêu lên, sau đó thành viên tự xét và nhận vi phạm nếu có. Những điều lệ chính được đề cập là nhẫn nhục, hành thiện tránh ác, tự chủ và kiềm chế trong ăn nói và tinh tấn.

Ngoài những người xuất gia, Phật c̣n có rất nhiều đệ tử tại gia (hay cư sĩ). Giới cư sĩ cũng được Phật thuyết giảng và ngược lại tham gia ủng hộ tăng đoàn về nhiều mặt.

Sau khi Phật nhập tịch th́ Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) thay phần lănh đạo giáo hội. Giáo hội giữ nguyên các hoạt động truyền thống của ḿnh cho đến ḱ kết tập kinh điển lần thứ hai.

3. Các Hội nghị kết tập kinh điển chính

3.1 Kết tập lần thứ I
Lư do
Khi Phật c̣n sinh tiền th́ các giảng thuyết đều chỉ truyền miệng. Phật lại tuỳ theo tŕnh độ hiểu biết và khả năng hấp thụ để có lời giảng thích hợp. Các phương pháp dùng lại rất phong phú tùy theo hoàn cảnh và phưong tiện. Do đó, sự dị biệt khó tránh khỏi trong các lời giảng.

Ngay sau khi Phật nhập diệt đă có các đệ tử cho rằng phải làm điều này, không làm điều nọ, không chịu ràng buộc tâm ư... Để tránh sự sai biệt, và bảo tồn các giáo pháp và luật lệ cho được toàn vẹn, Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) đă đề nghị kết tập và phân loại toàn bộ lời dạy của Phật lại thành kinh điển để tránh chia rẽ, sai lầm về giáo pháp.

Diễn biến và Kết quả
Cuộc kết tập đă được tổ chức tại Tỳ Xá Ly (Rajagriha, nay là Rajgir) gồm 500 t́ kheo do sự trợ giúp của vua A Xà Thế (Ajatasatru) xứ Ma Kiệt Đà (Magadha) vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5 TCN. A Nan Đà (Ananda) là người theo hầu Phật suốt 30 năm, được xem là người có trí nhớ tuyệt vời, đứng ra tŕ tụng lại những điều Phật giảng thuyết (bởi vậy các bộ kinh đều bắt đầu bằng câu "Tôi nghe như vầy:", lời của A Nan Đà). C̣n Upali, là người thợ cạo, kể lại về giới luật.

Phương pháp kết tập được kể lại bằng trí nhớ và cũng không có ghi thành văn bản. Những điều ghi nhận này sau đó được viết lại thành 4 bộ kinh:
Kinh Trường A Hàm (Digha agama)
Kinh Trung A Hàm (Majjhima agama)
Kinh Tăng Nhất A Hàm (Anguttara agama)
Kinh Tạp A Hàm (Samyutta agama)
Đây là các tài liệu cổ nhất có ghi lại cuộc đời của Phật và hoạt động của Tăng đoàn, đánh dấu bước đầu h́nh thành Kinh tạng và Luật tạng. Các bộ kinh văn trên cũng là căn bản cho Phật giáo nguyên thuỷ.

3.2 Kết tập lần thứ II
Lư do
Sau 100 năm (đầu thế kỉ thứ 5 TCN) th́ có nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết trong giới luật. Đại hội kết tập lần thứ II cốt để bàn thảo về những thay đổi này.

Đại hội c̣n nhằm mục đích ngăn không để các tư tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo lư Phật giáo.

Diển biến và Kết quả
Đại hội có 700 vị tỳ kheo, được tổ chức tại Vesali trong tám tháng dưới sự trợ giúp của vua Kalasoka. Trong đại hội những người không đồng ư với việc giữ nguyên giới luật ban đầu đă bỏ ra để tổ chức một hội nghị kết tập riêng và thành lập Đại chúng bộ (Mahàsamghika). Số người c̣n lại vẫn tiếp tục kết tập kinh điển, sau đó h́nh thành Thượng tọa bộ (Theravada).

3.3 Vua Asoka và Kết tập kinh điển lần thứ III

Thời vua A Dục, đạo Phật đă truyền ra ngoài Ấn Độ. Asoka (A Dục) là vua của xứ Mauryan, ra đời khoảng năm 273 TCN. Trước khi trở thành Phật tử, ông có tính khí rất hung bạo, đă giết nhiều anh em của ḿnh để cướp ngôi vua cũng như đă xua quân chiếm lănh thổ Kalinga (ngày nay thuộc về Orissa) phía Đông Ấn. Nhưng ngay sau đó nhờ gặp được Sa di Nigrodha, ông theo Phật giáo cải hối và làm rất nhiều điều thiện, chống lại bạo lực. Ông là ngựi có công lớn khuyến khích Phật giáo, xây dựng hàng chục ngàn chùa chiền, bảo tháp Phật giáo cũng như xây dựng hệ thống đường xá, nhà thương cho đất nước.

Đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển của Phật giáo ra khỏi địa bàn nước Ấn Độ. Nhiều đoàn truyền giáo đạo Phật đă được cử đến khắp nơi từ Âu sang Á đến tận Hy Lạp, các nước tại Trung Á, tại Trung Đông cũng như Trung Quốc, Miến Điện và Tích Lan. Một tranh luận khá sôi nổi hiện nay là liệu đoàn thuyết pháp của vua Asoka đă đến được Việt Nam hay không? Câu hỏi này c̣n trông chờ vào việc t́m ra thêm các bằng chứng về di chỉ khảo cổ ở Việt Nam. Ngoài ra, vua Asoka c̣n là người bảo trợ cho ḱ kết tập kinh điển thứ lần thứ III.
Reply With Quote