View Single Post
  #3 (permalink)  
Old 08-08-2007, 12:12 AM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
Khi chúng tạnh nói đến Tổng, Đồng, Thành là nói về phương diện toàn thể, Viên-dung b́nh đẳng của bản thể vũ trụ; khi chúng ta nói đến Biệt, Dị, Hoại là nói về phương diện hiện tượng giới, trong ấy mỗi mỗi sự vật đều phơi bày riêng rẽ lẽ khác nhau. Theo trong kinh Hoa-Nghiêm th́ Tổng, Đồng, Thành, Tướng thuộc về môn viên dung; c̣n Biệt, Dị, Hoại, Tướng thuộc về môn hàng bố (nghĩa là hiễn lộ, phơi bày la liệt). Một bên là b́nh đẳng, một bên là sai biệt. Nhưng b́nh đẳng và sai biệt là tướngtưc, tương nhập, viên dung không. Tương tức nghĩa là cái này tức cái kia, như nước tức là sóng; tương nhập nghĩa là ăn nhập với nhau, dung thông nhau, như mặt gương này và mặt gương kia phản chiêùu vào nhua không cùng mà không cản trở ǵ nhau. V́ tương ức, tương nhập, nên ĺa tổng tướng thời không biệt tướng, ĺa đồng tướng th́ không dị tướng, ĺa thành tướng th́ không hoại tướng. Tóm lại, viên dung không ĺa hàng bố, hàng bố không ĺa viên dung, viên dung tức hàng bố hàng bố tức là viên dung. Hết tháy các pháp đều đủ 6 tướng ấy, không một pháp nào là không viên dung tự tại, tức, nhập không ngại. V́ thế cho nên gọi là 6 tướng viên dung. Đấy là ư-nghĩa huyền diệu cúa Hoa-Nghiêm nhất thừa viên giáo.

Mười Lư Huyền Diệu Của các Pháp Hay Mười Huyền Môn

Ngoài sáu tướng nói trên, các pháp c̣n có mười lư huyền diệu, hay mười đức tính huyền diệu, mà bộ kinh Hoa-Nghiêm sớ sao và bộ Tham Huyền Kư của Ngài Hiền Thủ có giải thích như sau:

1.- Môn '' đồng thời đầy đủ các pháp tương ứng'' (đồng thời cụ túc tương ương) nghĩa là trong mỗi một pháp nào đồng thời cũng có đủ, hàm chứa tất cả các pháp khác trong vũ trụ. Như một giọt nước có đủ khí vị của muôn ngàn,sông, biển.

2.- Môn '' rộng và hẹp tụ tại không ngại '' (quảng hiệp tự tại vô ngại): Nghĩa là một vật gọi là lớn, chưa hẳn là lớn, vật gọi là nhỏ chưa hẳn là nhỏ. Nhờ cái lư dung thông, một vật nhỏ như đầu mải lông, có thể chứa được thái hư mà c̣n rộng một vật như thái hư , có thể nằm gọn trong đầu mải lông, mà không chật. Đây muốn nói rằng, trong pháp giới, sự sự đă vô ngại, dung thông, th́ quan niệm về sự rộng hẹp, lớn nhỏ đều là những danh từ suông, không có biên giới nhất định giữa một vật này với một vật khác: Một vật nhỏ như vi trần có liên quan đến vũ trụ; một vật lớn như vũ trụ có liên quan đến một vi thành. Cho nên kinh Hoa-Nghiêm có chép: ''trong một mảy trần, hết thảy cỏi nước rộng rải an tụ''.để giải thích ư nghĩa này, kinh thường dạy: "Sự Lyw mà được dung thông, tự tại không ngăn ngại".

3.- Môn "một và nhiều dung nhau không đồng" (nhất, đa tương dung bất đồng): Nghĩa là về số lượng, một và nhiều vật có thể dung nạp lẫn nhau, mà vẫn không phá hoại cái tướng riêng biệt (an lập) của mỗi vật. Như muôn ngàn ngọn đèn thắp sáng trong một gian nhà, ngọn này ngọn kia lẫn hiệp với nhau, nhưng ngọn nào vẫn có ánh sáng riêng của nó

4.- Môn "các pháp tương tức tụ tại" (chư pháp tương tức tự tại): Nghĩa là các pháp cùng dung, cùng tức, không ngăn ngại nhau. Như một pháp khi bỏ ḿnh đồng với các pháp khác, th́ toàn thể đều nơi pháp kia; nếu một pháp nhiếp thâu các pháp đồng về ḿnh, th́ hết thảy các pháp kia lại vè một nơi pháp thâu nhiếp ấy. Cũng ví như chất vàng với sắc vàng, hai pháp ấy không rời nhau.

5.- Môn "ẩn mật tỏ rơ đều thành" (bí mật ẩn hiện câu thành): Nghĩa là một pháp có nhiều phương diện, khi phương diện này hiển th́ phương diện kia ẩn; khi phương diện kia ẩn , th́ phương diện này hiển; trong ẩn có hiển; hiển ẩn đắp đổi nhau mà thành tựu. Sự ẩn hiển cũng không nhất định cái nào sau cái nào trước, cũng không ngăn ngại, chống đối nhau. Như một pho tượng bằng vàng, khi chú ư đến vàng th́ không thấy cái đẹp của pho tượng, khi chú ư đến pho tượng th́ không thấy vàng. Tóm lại, khi cái đẹp hiển th́ vàng ẩn, khi vàng hiển th́ cái đẹp ẩn.

6.- Môn "vi tế dung nhau, an lập" (vi tế tương dung an lập): Vi tế nghĩa là nhỏ nhiệm mà rơ ràng. Môỵ vật nhỏ nhiệm này mà bao trùm một vật nhỏ nhiệm khác, mà không cản trở nhau, không phá hoại cá tướng của nhau. Như một hạt nước bao gồm nhiều hạt nước, mỗi hạt nước gồn nhiều hóa chất, mỗi hóa chất gồm nhiều nguyên tử, mỗi nguyên tử gồm nhiều điện tử, giữa những điện tư có cái nhân: Mỗi thứ đều dung nhau và an lập trong nhau.

7.- Môn "cảnh giới tướng vơng nhơn-đà-la" (Nhơn đà la vơng cănh giới): Nhơn đà la tức là phiên âm chử Indra là cỏi trời Đế Thích. Theo Bà la môn , th́ trên cỏi trời Nhơn đà la , có cái man lưới bằng bửu châu chói hiện đến muôn trượng, hạt này hạy khác phản chiếu nhau, chói sáng nhau, lớp lớp không cùng tận. Môn này cũng như vậy: trong mỗi pháp có nhiều pháp khác, trong nhiều pháp khác lại có nhiều pháp nữa. Cứ thế nhân măi lên cho đến vô cùng tận. Kinh Hoa-Nghiêm có chép; "Hết thảy thếgiới đều như màn lưới Nhơn đà la".

8.- Môn ""nhơn sự rơ pháp, sanh trí hiểu biết" ( pháp sự hiểu pháp sanh giải): Nghĩa là nhờ sự mà hiểu được lư; nhưng khi lư đă rơ, th́ lư lại lan rộng làm cho chụng ta hiểu rộng sâu xa qua nhiều sự khác. Đây muốn nói trí hiểu biết lan rộng dung thông qua sự vật, như vết dầu lan trên mặt nước, chỉ một tia lửa bừng cháy rất xa.

9.- Môn "mười đời cách pháp dị thành" (thập thế cách pháp dị thành): Đây muốn nói thời gian mặc dù cách biệt nhau từ quá khứ đến hiện tại qua tương lai, nhưng chính nhờ thế mà các pháp được thành tựu một cách dễ dàng. Tại sao chia thời gian thành mười đời mà không chia làm ba đời? Đánh lẽ chỉ nói quá khứ, hiện tại và tướng lai là đủ. Nhưng muốn chia một cách rốt ráo, tinh vi, trong kinh chia mười đời như sau; trong quá khứ cũng gồm có quá khứ, hiện tại và tướng lai; trong hiện tại cũng gồm như thế và trong tướng lai cũng vậy: ba đời mỗi đời chia nhỏ thành chín. Nhưng nếu chia nhỏ như thế mà không có ư niệm tổng quát so sánh liên hệ với nhau th́ cũng không có được ư niệm về thời gian. V́ thế cho nên về chín niệm ấy, c̣n cộng thêm một niệm tổng (tổng quát) nữa, thành ra mười.

10.- Môn "chủ và ạn nương nhau làm đầy đủ công đức sáng suốt hoàn toàn" (chủ, bạn, viên minh cụ đức): Như chúng ta đă thấy ở các phần trên: các pháp nương nhau mà thành. Nếu ta lấy một pháp làm chủ, th́ các pháp khác là bạn. Chủ và bạn nương nhau làm đầy đủ công đức, lớp lớp không cùng tận, như mặt trăng sáng trên không, chung quanh đoanh vây những v́ sao nhấp nháy, rồi trên mặt đất bao nhiêu sông ng̣i, ao hồ lại phản chiếu ánh sáng trăng sao ở trên không, làm cho cảnh vật ở khắp nơi rạng rỡ.
Tóm lại, mười lư huyền diệu này cộng với sáu tướng nói trên của các pháp là nguyên nhân giải thích v́ sao "sự sự được vô ngại" trong pháp giới, và cách nghĩa một cach đầy đủ giáo lư "trùng trùng duyên khởi" mà Hoa-Nghiêm tôn chủ trương.

III.- PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH

Giáo lư căn bản của Hoa-Nghiêm tôn đă sâu xa mầu nhiệm, th́ phương pháp tu hành tất nhiên củng phải cao siêu, mầu nhiệm mới đưa hành-giả đến chổ cứu cánh tu hành. Tựu trung, trong các phương pháp tu hành ấy, ba pháp quán về pháp giớ sau đâyđược xem là các pháp môn trọng yếu và có hiệu quả rốt ráo nhất:

1.-Chơn không quán: "Chơn" có nghĩa là chơn thật, không hư vọng; "không " nghĩa là không bị sắc tướng chi phối, ngăn ngại.

Pháp quá này dựa trên"lư pháp giới" mà lập ra. Mục đích của pháp quán này là dứt vọng t́nh, rơ chơn tánh , khiến cho hành-giả thấy sắc mà không bị sắc ngăn ngại và nhận được rằng toàn thể là chơn không; thấy không , mà nhận được rằng đó không pphải là không hẳn ( đoạn không ) mà toàn là chơn tánh. Tóm lại, pháp quán này nh́n thấuqua được sự đói đăigiă dối của cái không và cái có, để nhận rơ được cái "lư của vũ trụ (lư pháp giới) là chơn không " (đă giăi ở trên)

2.-Lư sự vô ngại quán: Pháp quán này y theo " lư sự vô ngại pháp giới" mà lập ra." Lư" là thể tánh thanh tịnh sáng suốt; " Sự" là h́nh tướng phận hạn của các pháp. Lư, Sự vô ngại, như trong phần giáo lư căn bản đă có nói ở trước, nghĩa là Lư và Sự không phải hai loại chống nhau, ngăn cách nhau, mà trái lại, dung thông nhau. Lư, Sự thấu suốt, viên dung không ngại nên gọi là " Lư, Sự vô ngại quán".

Theo pháp quán này, hành giả quan sát cái sắc tướng của một mảy trần mà khám phá ra được cái lư của vũ trụ. Tức là qua cái tướng hư giả của sự vật mà thấy được cái tánh sáng suốt của nhứt chơn.

3. Châu biến hàm dung quán: Pháp quán này dựa trên cái lư " Sự sự vô ngại pháp giới" mà lập ra. " Châu biến" mà lan ra, biến hóa cùng khắp tất cả; " Hàm dung" là bao gồm, thâu nhiếp hết, dung thông tất cả. " Châu biến hàm dung quán" là pháp quán nhằm mục đích nhận chân được rằng: cái pháp một và nhiều không ngại nhau, lớn và nhỏ trùng nhau, dung nhiếp lẫn nhau, lớp lớp không cùng tột, ẩn hiện tự tại, đồng thời tương tức tương nhập, thâu nhiếp, dung thông nhau cho đến vô cùng vô tận, trùm chứa cả vũ trụ bao la.
Theo pháp quán này, hành giả quan sát cái Lư nơi một Sự, rồi do một Sự ấy mà mỗi mỗi Sự khác cũng đều thấy rơ. Hành giả lại quán mọi Sự tức nơi Lư, rồi theo Lư ấy mà mỗi mỗi Sự đều dung thông.
Reply With Quote