View Single Post
  #4 (permalink)  
Old 08-19-2007, 01:31 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
3. Chứa đức làm lành

Kinh Dịch nói: Nhà nào chứa lành sẽ có dư phúc.
Xưa nhà họ Nhan trước khi muốn gả con gái cho Thúc Lương Ngột đă không quên tra xét công việc chứa đức của Tổ tông nhà ấy để suy xét con cháu về sau chắc chắn hưng xương.

Đức Khổng Tử có lời khen vua Thuấn là đại hiếu rằng: Ông Thuấn mà tế Tổ tông th́ Tổ tông chứng hưởng, phước để con cháu th́ con cháu được trông nhờ.

Ông Thiếu sư Dương Vinh người đất Kiên Ninh, nhà đă nhiều đời sống với nghề đưa đ̣, có một lần xảy ra cơn mưa lụt nước ngập tràn phá hại dân cư, nhiều người bị trôi theo ḍng nước. Trong lúc đó, mọi kẻ khác lo bơi thuyền vớt của, riêng ông cố và ông nội của Thiếu sư lại lo t́m vớt người, chẳng chút để tâm tới tài vật, người chung quanh thấy thế chê là ngu, nhưng từ ngày thân phụ Thiếu sư ra đời, nhà ông dần dần thịnh vượng. Có một Thần nhân gia h́nh Đạo sĩ đến nói với ông rằng: Tổ phụ nhà người có âm đức, con cháu sẽ nên quư hiển. Quả thật sau sinh Thiếu sư, mới 20 tuổi đă đậu đại khoa, làm quan tới chức tam công, và cả ông cố, ông nội và thân phụ của Thiếu sư đều được phong chức quan lớn. Ai cũng biết ḍng dơi nhà nầy đến nay vẫn phát nhiều người hiền tài xuất chúng.

Ông Dương Tự Trưng, người huyện Cần, lúc đầu được làm huyện Lại, giữ ḷng nhân hậu, xử đoán công minh, nhân một lần ông gặp quan Tri huyện đánh khảo một tên tù máu tuôn lai láng mà vẫn chưa đă giận. Dương Tự Trưng mới quỳ gối khuyên giải, ông Tri huyện trả lời: Những kẻ làm điều vượt pháp trái lẽ thế nầy, khiến ai không giận được.

Dương Tự Trưng cúi đầu nói: quan trên đă bỏ rơi pháp luật, khiến dân lư tán lâu ngày rồi, nay giả sử quan huyện xét thấy người kia quả có tội phạm, động ḷng thương xót buồn bă, thế mà xử trị sợ c̣n chưa được công minh, huống lại nổi giận đùng đùng, làm sao công minh được. Nghe câu ấy quan huyện liền dịu ḷng thôi giận.

Dương Tự Trưng tuy nhà rất nghèo, nhưng ai tặng biếu ǵ cũng không nhận. Hễ gặp tù nhân thiếu thốn ông thường t́m cách giúp đỡ.

Một lần nọ có vài người tù đang đói đến xin, gặp lúc nhà ông thiếu gạo, nếu giúp cho tù th́ người nhà phải nhịn đói, c̣n để cho người nhà ăn th́ cảnh tù đói đáng thương, ông mới thương lượng với vợ.

Vợ ông hỏi: Các người tù ấy đâu đến? Ông đáp: Từ Hàng Châu đến. Nhận thấy họ đi xa đói khát, mặt mày xanh xao hốc hác đáng thương, vợ chồng ông liền đem phần gạo của ḿnh nấu cháo cho họ ăn.

Về sau hai vợ chồng sinh được hai trai, một tên Thủ Trần, một tên Thủ Chí. Cả hai đều làm quan tới chức Lại bộ tả hữu thị lang. Cháu trưởng làm H́nh bộ thị lang, cháu thứ làm chức Liêm hiến tỉnh Tứ Xuyên, toàn là những vị triều thần tên tuổi c̣n để tiếng đời nay.

Khoảng niên hiệu Chánh Thống đời Minh, có Đặng Mậu Thất nổi loạn tại tỉnh Phúc Kiến, sĩ dân trong xứ theo rất đông, triều đ́nh cử quan Ngự sử Trương Giai dùng mưu bắt giặc, sau ông nầy lại ủy quan Bố chánh họ Tạ làm chức Đô sự t́m giết đảng giặc. Tạ xét trong sổ hễ thấy người nào nghi không thực sự oan phạm, th́ âm thầm trao cho một lá cờ nhỏ vải trắng, dặn khi nào quân binh đi đến th́ cắm cờ ấy ra trước cửa, đồng thời ra lệnh cho quân lính không ai được giết càn, nhờ đó hàng vạn người sống sót khỏi bị chết oan. Về sau con của Tạ là Thiên, thi đỗ Trạng nguyên, làm Tể tướng, cháu Tạ tên Phỉ, thi đỗ Thám hoa.

Nhà họ Lâm ở huyện Phố Điển, nhiều đời trước trong nhà có một bà lăo ưa làm việc thiện. Bà thường lấy bột gạo làm thành từng vắt để bố thí. Hễ ai đến xin là cho, không hề tỏ vẻ buồn chán. Có một vị Đạo nhơn hằng ngày đến xin sáu, bảy vắt, bà lăo vẫn vui ḷng cho, suốt ba năm liền như thế. Vị Đạo nhân biết bà ta thật có ḷng thành, mới bảo rằng: Tôi ăn của bà suốt ba năm, bây giờ biết lấy ǵ báo đáp, thôi tôi chỉ cho bà biết ở sau phủ bà ở có chỗ đất tốt, bà hăy dặn con cháu say nầy đem bà đến đó, chôn, tất con cháu sẽ phát tước lộc lớn. Về sau con cháu y lời dặn chôn bà. Quả thật đời thứ nhất có tới chín người đỗ đạt, và tiếp tục nhiều đời nhà nầy trở thành một nhà thế kiệt trâm anh, đến đỗi tại tỉnh Phúc Kiến có câu ca dao: Thiếu mặt người họ Lâm th́ bảng vàng không nở.

Tóm lại những điều trên, tuy thi hành với nhiều lối, nhưng rốt lại đồng là việc thiện. Những việc thiện nầy nếu gia tâm xem xét kỹ sẽ thấy có chân có giả, có thẳng có công, có âm có dương, có thị có phi, có thiên có chánh, có nửa có toàn, có lớn có nhỏ, có khó có dễ.

Nếu làm lành mà không thấu đạt lư lẽ nầy, nhiều khi khổ công nhọc trí, chẳng đem lại lợi ích ǵ.

4. Đức khiêm hư

Kinh Dịch có câu: Thiên đạo thường làm khuy tổn chỗ dinh kiêu mà ích bồi nơi khiêm hư, địa đạo làm biến cải chỗ dinh kiêu mà lưu nhận nơi khiêm hư, quỷ thần thường làm hại trừ chỗ dinh kiêu mà tăng phúc nơi kiêm hư, nhân đạo thường chán ghét chỗ dinh kiêu mà ưa chinh nơi khiêm hư. Thế nên trong một quẻ Khiêm mà sáu hào đều tốt.

Kinh Thư nói: người tự kiêu tự măn thường bị nạn, kẻ khiêm nhượng hư tâm thường đắc ích.

Tôi từng cùng bạn bè nghiệm thử, thường thấy kẻ hàn sĩ khi sắp hiển đạt, bao giờ cũng có một lúc đức khiêm tốn hiện trên nét mặt.

Khoa thi năm Tân mùi, tôi cùng mười người bạn ở huyện Gia Thiện đi thi, trong đó có anh Đinh Kính Vũ, người tuy trẻ mà rất có tính khiêm nhượng hư tâm. Tôi nói với anh Phí Cẩm Pha, thế nào khoa nầy anh Đinh Kính Vũ cũng đỗ. Anh Phí gạn lại: làm sao biết? Tôi đáp: chỉ người có đức khiêm hư mới được phước. Anh thử xem trong bọn mười người chúng ta có ai có tính khiêm nhượng bằng anh Đinh Kính Vũ đâu?

Có ai bị chơi chọc mà không đối trả, bị chê bai mà không biện bạch như anh Đinh Kính Vũ đâu? Người có đức nết như thế, thế nào cũng được trời đất hộ độ, làm sao không phát được. Quả nhiên lúc treo bảng thấy có tên anh Đinh đậu cao!

Năm Đinh sửu tôi ở chung với anh Bằng Dữ Chi tại Kinh đô, bỗng thấy anh có phong độ khiêm tốn hư tâm khác hẳn tính t́nh hồi nhỏ.

Bạn anh ta, ông Lư Tế Nham, là người cương trực mà thành thực, thưởng thẳng thắn chỉ lỗi anh ngay mặt, nhưng lúc nào cũng thấy anh b́nh tĩnh nghe theo chẳng hề thốt một lời căi cọ. Thấy vậy tôi nói thầm phước có phước hiện ra sau họa có họa phát ra trước, anh nầy quả có hư tâm khiêm tốn như thế, anh chắc chắn gặp được điều hay, thế nào anh ta cũng đậu kỳ nầy. Sau quả thật đúng như lời tôi dự đoán.

Ông Trương Úy Nham người huyện Giang Âm, học rộng văn hay, có nhiều tiếng tăm trong văn giới. Năm Giáp ngọ ông đến thi Hương tại Nam Kinh, nhân ở lại một ngôi chùa. Khi treo bảng thấy không có tên ḿnh, mới nổi nóng mắng nhiếc giám khảo là đồ ḷa mắt chẳng trông thấy văn ḿnh. Một vị Đạo nhân gần bên nghe thấy mỉm cười, Trương giận luôn vị Đạo nhân.

Vị Đạo nhân nói: Văn của tướng công chắc không hay lắm.

Trương càng giận, nộ rằng: Ông không thấy văn tôi, sao biết văn tôi không hay.

Vị Đạo nhân nói: Tôi từng nghe kẻ làm văn quư hồ tâm khí b́nh ḥa, nay thấy tướng công nóng giận mắng nhiếc lung tung, không có chút chí ḥa khí th́ văn hay vào đâu được.

Trương bỗng đổi giận, tỏ ḷng kính phục và xin chỉ giáo.

Đạo nhân nói: Thi hỏng hay đậu là do mạng. Mạng không đậu th́ dù văn hay cũng vô ích, vậy ông cần để ư chuyển biến mạng ḿnh.

Trương nói: đă là mạng th́ làm sao chuyển biến được?

Đạo nhân nói: tạo mạng do nghiệp xưa, lập mạng do nghiệp nay, nếu ông gắng làm việc thiện, dồn chứa âm đức, th́ có phước ǵ mà không cầu được.
Trương nói: Tôi chỉ là một tên bần sĩ, làm sao làm được sự nầy.

Đạo nhân nói: việc lành, âm đức đều do tâm tạo, thường bảo tồn tâm đó thời công đức vô lượng. Ngay như đức tính khiêm hư đâu phải mất tiền mới làm được, thế mà ông không biết tự tỉnh để mà làm, lại giận trách quan trường dốt nát, phải chăng đó chỉ là tự ông không muốn làm chớ không phải không thể làm?

Từ đó Trương để ư kiềm chế kiêu khí, ngày ngày tu nhân bồi đức. Năm Đinh dậu, Trương mộng thấy đi đến một căn pḥng cao lớn, gặp được một bảng kư lục chuyện thi, thấy ở giữa có nhiều hàng bỏ trống không tên. Một người đứng bên nói: đây là bảng ghi chép khoa thi năm nay. Trương hỏi: sao bỏ trống nhiều chỗ không tên? Người ấy đáp: về việc thi cử cứ ba năm xét một lần, hễ người nào chứa nhiều công đức, th́ mới có tên vào đó. Chỗ bỏ trống trong bảng kư lục nầy là tại trước kia người có công đức đáng đậu, sau vi phạm tội ác mà tên bị xóa đi. Cuối cùng lại thấy một ḍng chữ rằng: người ba năm lại đây giữ thân cẩn thận, tên ngươi có thể được điền vào bảng nầy, hy vọng ngươi cố gắng. Quả nhiên khoa ấy, Trương được đậu thứ 105 trên bảng vàng.

Lời xưa nói: Người có chí ở công danh tất được công danh, người có chí ở giàu sang tất được giàu sang. Người có chí như cây có gốc. Khi đă lập chí phải thường nên tập tính khiêm hư, dè chừng mọi điều hành động, được như thế tự nhiên cảm động đất trời mà phúc đức đầy đủ nơi ta vậy.

Phương pháp tích thiện

1. Bàn luận rơ ràng về thiện

Nếu xét một cách tinh tường mà nói, th́ thiện có chân có giả, có ngay thẳng có khuất khúc, có âm dương, có phải hay chẳng phải, có thiên lệch hay chính đáng, có đầy có vơi, có tiểu có đại, có dễ hay khó, đều cần bàn luận rơ ràng.
Làm việc thiện mà không hiểu rơ đạo lư, cứ tự cho việc ḿnh làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích.

------Thế nào là chân thiện và giả thiện?

Xưa có một số nho sinh yết kiến Trung Phong hoà thượng (một vị cao tăng triều đại nhà Nguyên), mà hỏi: Nhà Phật bàn thiện ác báo ứng như bóng theo h́nh, tức làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, nay có người nọ thiện mà con cháu không được thịnh vượng, mà kẻ kia ác th́ gia đ́nh lại phát đạt, vậy là Phật nói về việc báo ứng thực vô căn cứ sao?

Hoà thượng nói: Người phàm tâm tính chưa được tẩy sạch, chưa được thanh tịnh, tuệ nhăn chưa khai, thường nhận thiện làm ác, cho ác là thiện; người như vậy không phải là hiếm có, đă tự ḿnh lẫn lộn phải trái cho ác là thiện, cho thiện là ác, điên đảo đảo điên mà không hay lại c̣n oán trách trời cho báo ứng là sai, là không công bằng ư.

Last edited by DjDoan; 08-23-2007 at 12:17 AM.
Reply With Quote