View Single Post
  #2 (permalink)  
Old 09-09-2007, 10:42 PM
DjDoan's Avatar
DjDoan DjDoan is offline
Super Moderator
 
Join Date: Aug 2007
Posts: 175
Mặc dầu đă biết trước mọi việc sẽ xảy ra cho Jesus nhưng Joseph và Nicodemus tự biết không thể cứu Jesus thoát khỏi án tử h́nh, do đó Joseph và Nicodemus t́m cách hối lộ và thuyết phục Pilate cho phép họ được tháo xác Jesus xuống khỏi thập giá càng sớm càng tốt để kịp thời cứu sống ngài.

Đây là một biệt lệ v́ luật pháp La Mă tuyệt đối cấm thân nhân mang xác tử tội về nhà chôn, các xác tử tội đều bị vứt vào hang hoặc băi hoang cho kên kên, thú dữ hoặc chó hoang ăn thịt. May mắn thay, đề nghị của Joseph và Nicodemus đă được Pilate chấp thuận. Joseph liền bỏ tiền mua một khu vườn có cây cối rập rạp nằm sát chân đồi GolGotha và xây tại đây một ngôi mộ lớn có nhiều pḥng.

Nicodemus mua một số thuốc cứu thương rất lớn. Phúc âm của John cho biết: "Nicodemus đến với Chúa vào ban đêm, mang theo dầu Myrrh và Aloe nặng 100 stones" (John 19:30). Stone là đơn vị đo lường của Do Thái thời đó, mỗi stone tương đương với một pound.


Aloe là chất thuốc có khả năng gây mê (coma) tẩy uế đờm dăi, tống khứ chất độc trong người và làm các vết thương mau lành.

Khi Jesus bị treo lên thập giá, Ngài kêu khát nước, sĩ quan chỉ huy toán hành h́nh đă lấy miếng bọt biển, (sponge) thấm "dấm" rồi lấy cây giáo đưa miếng bọt biển đó lên miệng Jesus để Ngài uống giải khát. Viên sĩ quan đó là thuộc hạ thân tín của Pilate nhưng đồng thời cũng là một tín đồ bí mật của Chúa. Phúc âm của Mark ghi rơ (15: 39, 27: 54): "Viên sĩ quan này là người đă từng ngợi khen Chúa là con Đức Chúa Trời". Và "Sau khi uống dấm xong, Chúa phán "Công việc đă hoàn thành" rồi Ngài cúi đầu xuống và trút linh hồn".

Thánh kinh nói chất nước Jesus uống lúc c̣n bị treo trên thập giá là dấm, nhưng có phải là dấm thật không? Tại sao vừa uống dấm xong th́ Ngài chết liền? Căn cứ vào những chất thuốc mà Nicodemus đă mang đến núi Sọ là dầu myrrh và aloe, người ta có thể suy đoán nước dấm Jesus uống có pha hai chất thuốc này để gây mê. Các nhà khoa học phân chất aloe đă t́m thấy chất phenol có tác dụng gây mê (coma). Dầu myrrh được lấy từ cây commiphora đă được người Hy Lạp xử dụng từ lâu để trị vết thương và tẩy uế (sát trùng). Ông tổ y khoa Tây phương là Hippocrate đă ca ngợi dầu myrrh là một thần dược, chẳng những chữa trị vết thương mau lành mà c̣n ngăn ngừa được các bệnh dịch. Ngoài ra, ở Palestine vào thời đó, người ta đă biết xử dụng thuốc phiện để làm thuốc giảm đau.

Do đó, chất dấm mà viên sĩ quan "tín đồ bí mật của Chúa" đă cho Ngài uống có thể là một chất tổng hợp các thứ thuốc nói trên khiến cho Ngài vừa mới uống xong th́ bất tỉnh liền. Cũng người sĩ quan đó lấy cây giáo "quệt sơ" vào cạnh sườn của Chúa để cho những tên lính La Mă khác thấy Chúa không giật ḿnh cựa quậy nên tưởng Ngài đă chết rồi và tha cho Ngài cái cực h́nh bị đập gẫy hai chân. V́ đă được phép của Pilate, Joseph và Nicodemus vội vàng tháo xác Jesus xuống và đưa ngay vào nhà mồ kín đáo trong khu vườn của Joseph ở ngay sát chân đồi.

Tại nhà mồ này, Josep và Nicodemus đă để sẵn một phiến đá dài bằng phẳng dùng làm ghế nằm, trên đó trải sẵn một tấm vải trắng thuộc loại đắt tiền, dài 4m36, rộng 1m10. V́ tấm vải rất dài nên chỉ cần một nửa tấm vải cũng đủ phủ lên mặt ghế đá. Nicodemus cẩn thận rắc các thứ thuốc và dầu myrrh lên tấm vải trước khi đặt xác của Jesus lên đó. Toàn thân của Jesus lúc ấy bê bết máu đă in lên tấm vải trắng những vết roi trên lưng, mông, đùi và chân. Cũng nhờ những dấu máu trên tấm vải này, người ta đă đo được chiều dài của Jesus từ đầu xuống gót chân là 1 mét 82 và ước lượng ngài nặng 79 kilô.

Phân nửa tấm vải c̣n lại đă được Joseph và Nicodemus trùm qua đầu, qua ngực, xuống tới chân của Chúa. Lúc ấy, hai tay của Chúa được để vắt chéo lên bụng. Cái măo gai trên đầu của Ngài vừa mới được tháo ra đă tạo nên những ḍng máu tươi chảy tràn lên trán làm ướt hết khuôn mặt của Ngài. Máu của Ngài pha lẫn với các thứ dầu thuốc đă được thoa khắp cơ thể tạo thành một hỗn hợp màu nâu. Hỗn hợp màu nâu này đă in lên tấm vải phủ phía trên thân xác Ngài h́nh ảnh khuôn mặt với những vết gai đâm trên trán, hai ống chân c̣n nguyên (không bị đập gẫy) với hai lỗ đinh trên hai bàn chân và hai cánh tay vắt chéo với hai lỗ đinh trên hai bàn tay.

Lúc ấy là đêm thứ sáu, hôm sau là lễ Vượt Qua. Toàn dân thành Jerusalem lo mừng cuộc lễ nên chẳng có ai để ư đến kẻ tử tội bị đóng đinh chiều qua. Người tử tội được bạn bè tận t́nh cứu giúp đă từ từ hồi tỉnh sau cơn mê vài giờ. Vả lại, chất thuốc mê đến lúc đó cũng đă hết tác dụng v́ Ngài đă được uống thuốc xổ.

Đêm đó lại là đêm trăng rằm, Nicodemus và Jopseph được sự trợ giúp của các "thiên thần áo trắng", đă di chuyển Jesus tới một nơi an toàn và bí mật hơn để tiếp tục chữa trị. Do sự khám phá ra những cuộn sách cổ ở Vùng Biển Chết (The Dead Sea Scrolls), người ta mới biết các "thiên thần áo trắng" là các tu sĩ thuộc giáo phái Essenes của John the Baptist. Mọi tu sĩ của giáo phái này đều mặc áo dài trắng (white long tunic) và đều biết chữa bệnh. Họ đi lang thang khắp nước Do Thái để giảng đạo và chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo. Jesus là bạn đồng đạo của họ nên được họ tận t́nh săn sóc trong dịp này. Lúc di chuyển Jesus rời khỏi ngôi mộ trong vườn của Joseph, họ đă để quên tấm vải trắng liệm xác Jesus tại đó. Sáng hôm sau là ngày Chủ nhật, người Do Thái gọi là ngày đầu tuần, bà Magdelene, vợ Jesus đến mộ thăm chồng. Kinh Thánh của John (12:1-18) kể chi tiết như sau: Magdelene đến thăm mộ Chúa trong buổi sáng ngày đầu tuần lúc ấy trời hăy c̣n tối: Bà thấy ḥn đá chắn cửa mộ đă bị dời đi chỗ khác. Bà vô cùng hoảng hốt bèn vội vàng chạy đi t́m Peter (Phêrô) và John (Gioan tông đồ) than khóc với hai người rằng: "không biết ai đă mang xác Chúa ra khỏi mộ rồi". Nghe nói vậy, Peter và John chạy đến ngôi mộ của Chúa. John c̣n trẻ, chạy nhanh tới trước, nhưng John chỉ đứng ở cửa hang ngó vào nh́n thấy tấm vải trắng chứ không dám vào hang mộ. Peter chạy chậm tới sau bước thẳng vào hang. Peter nhặt tấm vải lúc ấy đă được cuộn lại, khi gỡ ra, Peter thấy trong đó có chiếc khăn che mặt của Chúa nữa.

Kinh Thánh của John thuật đoạn chuyện trên với các động từ th́ hiện tại (present tense) muốn chứng tỏ những sự việc này do tác giả chứng kiến trực tiếp. Sách Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp. Khi mô tả vết thương cạnh sườn của Chúa (the side wound), tác giả gọi đó là vết trầy nhẹ (nyssein = a light scratch). Saint Jerome (340-420) là người đầu tiên dịch các sách Kinh Thánh Tân Ước từ tiếng Hy lạp ra tiếng La Tinh. Bộ sách Kinh Thánh do Jerôme dịch ra được gọi là Vulgate (Sách Phổ Thông) đă trở thành bản Kinh Thánh chính thức của đạo Kitô. Trong bản dịch Vulgate, Jerôme đă xuyên tạc nhiều điều của nguyên bản Hy Lạp. Vết thương cạnh sườn của Jesus từ một vết trầy theo đúng chữ Hy Lạp NYSSEIN có nghĩa là vết trầy nhẹ (a light scratch) trong nguyên bản, Jerôme đă biến nó thành APERIRE có nghĩa là "một vết thương mở toang" (an open wound) với máu và nước trong người của Chúa chảy ra. Mọi người đọc bản dịch Kinh Thánh của Jerôme có cảm tưởng vết thương cạnh sườn của Jesus là một nhát đâm dứt điểm, tương tự như "coup de grâce". Người La Mă không hề dự liệu thủ tục "coup de grâce". Thủ tục này do người Pháp lập ra v́ lư do nhân đạo nhằm giúp các tử tội không phải chịu đựng sự đau đớn lâu dài. Người Pháp định nghĩa coup de grâce như sau: "a deathblow delivered to end the misery of a mortally wounded victim". Mục đích nhân đạo của "coup de grâce" hoàn toàn ngược lại với chủ đích của người La Mă. Khi xử dụng h́nh phạt đóng đinh trên thập tự, họ muốn tử tội phải bị đau đớn lâu dài, dầm mưa dăi nắng, bị lột trần truồng và bị bêu xấu ở những nơi có nhiều người trông thấy, nhằm mục đích khủng bố tinh thần của đám nô lệ hay dân các nước thuộc địa. Luật La Mă qui định thủ tục xác nhận cái chết của tử tội (confirmation of the death) bằng cách đập gẫy chân tử tội. Với thể thức này, tội nhân không c̣n đủ sức để gượng nâng thân ḿnh lên, toàn thân sẽ rũ xuống, đầu tội nhân cúi gằm xuống ngực khiến tội nhân chết v́ ngộp thở. Luật La Mă không hề qui định việc lấy giáo đâm vào tim tử tội cho chết hẳn tương tự như "phát súng ân huệ" của người Pháp.

Người Pháp khủng bố tinh thần bằng phương pháp khác như chặt đầu chụp h́nh làm stamp (tem thơ, tem c̣), để đàn áp tinh thần dân thuộc địa. Vụ đầu độc Hà Thành các liệt sĩ VN đă bị Pháp chụp h́nh đầu lâu làm tem thơ là một ví dụ.

Mọi điều vừa nêu hăy c̣n sờ sờ ra đó trên các văn bản của Luật La Mă và nguyên bản Kinh Thánh Hy Lạp. Bản địch Kinh Thánh Vaulgate của Jerôme đă để lộ nguyên h́nh là một sự gian trá cố t́nh. Phải chăng chính v́ vậy mà Jerôme đă được ghi công và được phong thánh? Ngày nay, chúng ta hiểu tại sao giáo hội La Mă đă cấm không cho ai được phép dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp mà phải dịch ra từ bản Vulgate của Jerôme. Mọi mưu toan dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp đều bị trả giá bằng cái chết trên dàn hỏa. Nhưng không một sức mạnh nào có thể vượt qua được sức mạnh của sự thật. Sự thật là sức mạnh vô địch và tối hậu sẽ tiêu diệt mọi thủ đoạn dối trá nhằm che mờ lư trí và lương tri con người.
Reply With Quote