|
IV.-Quả Vị Tu Chứng
Hành-giả sáu khi đă thành tựuTam-mật hữu tướng, thông suốt được ưnghĩa mầu nhiệmcủa bốn mạn-trà-la, th́ nhất cử, nhaạt động đều rập khuốnđung theo oai nghi của Phật , làm lợi lạc cho chúng sanh một cách tự nhiên, có làm tất cả mọi việc lợi ích mà như không làm. Đó tức là vô tướng tam mật.
Đến độ vô tướng tam mậtth́ mọi hành vi cử động đều ṭan là ấn cả, hết thăy lời nói đều là chú và chơn ngôn, hết thăy ư nghĩ đều là diêu quán cả. Do đó mà trong kinh có câu nói sau đây để h́nh dung hạng người đă chứng được vô tướng tam mật: "mỡ miệng ra tiếng, chơn ngôn diệt tội; dơ tay động chân, đều thành mật ấn; theo việc khởi niệm, diệu quán tự thành".
Đó cũng là ư nghĩa của bốn chữ"tức thân thành Phật "; nghĩa là hiện đời thành Phật .
V.-Kết Luận
Sự lợi ích tu về Mật tôn, đến khi kết quả cùng tộtcũng đồng một mục đích như các pháp môn khác; nghĩa là ba nghiệp thanh tịnh. Thaan ngồi tŕ chú, tay bắt ấn, nên thân không làm các việc tội ác, v́ thế mà thân nghiềp được thân tịnh (thân mật). Miệng đọc thần chú, nên miệng không nói các điều tội lỗi, v́ thế mà khẫu nghiệp được thanh tịnh (nhữ mật). Tâm tưởng chú hoặc quán tưởng những chữ thần chú, nên tâm không nghĩ tưởng những điều tội lỗi, v́ thế nên ư nghệp được thanh tịnh ( ư mật) Kinh chép: "Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật văng Taay phương".nghĩa là:nếu ai ba nghiệp chướng thanh tịnhth́ được về tây phương đồng ở với Phật .
Tŕ chú có rất nhiều lợi ích, như tŕ chú văng sánhẽ nhỗ sạch hết gốc rễ của nghiệp chướngvà được sanh về Tịnh độ (bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản, đắc sanh Tịnh độ Đà-la-ni); tŕ chú lăng nghiêm sẽ được tiêu trừ các oan gia nghiêp chướng và t́nh ái-dụcnặng nề từ nhiều kiếp trước, như ông A-nan và bà Ma-Đăng-Già ( xin quư vị xem quyển Đại cương Lăng nghiêm về đoạn nói lớiich tŕ chú Lăng nghiêm); tŕ chú phổ am sẽ tiêu trừ được phục thi cốt khí các yêu tinh quỷ quái trong gia trạch; triều ttŕ Ngủ bộ chú hay Đaị bi thập chú sẽ được phước huệ tăng long, tùy tâm hành-giả cầu như thế nào, sẽ được măn nguyện như thế ấy.
6.- Pháp Hoa Tông Hay Là Thiên Thai Tông
I.- Duyên Khởi Lập Tông
Thiên thai tôn được khởi xướng từ Bắc tế. Do Ngài Huệ văn Thiền sư dựa vào bộ tríd độ luận mà lập ra pháp ''Mhứt tâm quan quán''. Pháp quán này được truyền cho Ngài Nam Nhạc Huệ Tự Thiền sư. Ngài Huệ Tự lại truyền cho Ngài Trí Giả ở núi Thiên Thai. Ngài Trí Giả là một bậc đại sư , y theo kinh pháp hoa, bổ yúc thêm cho pháp ''Mhứt tâm quan quán'' được hoàn bị và lâop thành một tôn pháp có uy thế ở núi Thiên Thai. Dooó mới có tên là Thiên Thai tôn (hoặc gọi Pháp hoa tôn). vị đại đệ tử của Ngài Trí Giả là Ngài Chương An Đại sư ghi chép lại những lời của Thầy, làm ra nhiều bộ luận có giá trị, để làm cơ sở cho Thiên Thai tôn, như bộ Pháp hao huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú, Ma ha chỉ quán. từ Ngài Chương An, giáo nghĩa củ tôn này được hoằng truyền măi cho các vị Đại đệ tử, thứ tự như sau: Ngài Trí Oai, Ngài Huệ Oai, Ngài Huyền Minh Và Ngài Trạm Nhiên.
Đến đời Ngài Trạm Nhiên, cũng gọi là kinh Khê tôn giả, giáo-lư và tôn chỉ của Thiên Thai tôn lại được rộng truyền và thêm nhiều thanh thế, v́ Ngài Trạm Nhiên là một vị cao tăng, học rộng, biết nhiều, bổ túc thêm các bộ luận căn bản của tôn được hoàn bị, tù Ngài Trạm Nhiên về sau, đời nào cũng có những vị đệ tử có tài đứ rộng truyền giáo nghĩa của tôn này.
Kinh sách của Thiên Thai tôn rất nhiều, trong số này có thể lựa ra ba bộ sách lớn làm căn bản cho tôn này là: Pháp hoa huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú, Ma hoa chỉ quán. ngoài ra có thể thêm năm bộ nhỏ, tuy không quan trọng bằng ba bộ trên, nhưng củng rất cần thiết cho người tu học là: Quán âm huyền nghĩa, Quán âm nghĩa sớ, Kim quang kim huyền nghĩa, Kim cang minh văn cú và Quán kinh sớ.
II.- Tôn Chỉ Và Giáo Lư Căn Bản
Cũng như các tôn phái khác trong Phật Giáo, Thiên thai tôn không đi ra ngoài giáo-lư căn bản của đức Phật. Đó là: ''Chư pháp duy nhứt tâm''. Cái công lớn nhất của Thiên thai tôn là làm sáng tỏ giáo-lư trên bằng một phương-pháp diễn dịch rất là minh bạch tinh vi.
Sao gọi là ''Chư pháp duy nhứt tâm''?. Theo Thiên thai tôn th́ ngoại tâm không có các pháp , ngoài các pháp không có tâm. Tâm tức là nhất thiết pháp, nhất thiết pháp ấy là tâm. Hai cái không phải là khác, nhưng cũng không phải là một. Tâm bao trùm tất cả. Tâm tức là chúng sanh, tâm cũng tức là Bồ tát, Phật. sinh tử cũng ở nơi tâm ấy.
Nhưng làm sao để nhận chân được những phương diện của tâm, mà mới nghe qua h́nh như là trái ngược, mâu thuẩn với nhau.
Muốn thấy được toàn diện của tâm, người quan sát phải đứng nhiều khía cạnh, nhiều quan điểm khác nhau mà nh́n:
-nếu chúng ta đứng về phương diện truyệt đối mà xét sự vật (hay nói theo danh từ nhà Phật, đứng về phương diện chơn đế), th́ thấy sự vật trong vũ trụ, không có một sự vật ǵ nó đứng vững một ḿnh và tồn tại, mọi vật không có thể tự riêng biệt, mọi vật đều do nhân duyên mà thành. Cái ''có'' của sự vật là một cái có tạm bợ giả dối, ''có '' mà cũng như ''không ''. Đứng về phương diện tuyệt đối mà xét th́ không có một pháp nào là tuyệt đối cả. Cho nên gọi là ''không''.
|