|
Nhưng nếu đứng về phương diện tương đối mà xét (hay nói theo danh từ nhà Phật, đứng về phương diện tục đế), th́ không thể bảo mọi pháp là hoàn toàn ''không '' được. Trước mắt chúng tánh, đành rành có đủ mọi vật, và mỗi vật có một giới hạn, một đời sống riêng biệt, sao lại bảo là hoàn toàn ''không ''? Cho nên đứng về phương diện đối đăi, th́ mọi vật không thiếu một vật ǵ.
Đứng về phương diện tuyệt đối, th́ vạn pháp là ''không ''?; Đứng về phương diện tương đối th́ vạn pháp là ''có''. '' Không'' và ''có '' đấy là hai phương diện của tâm. Lấy phương diện này mà bỏ phương diện kia, hay trái lại lấy phương diện kia mà bỏ phương diện này, đều là thiên chấp, thiếu sót. Một giáo lư hoàn toàn là phải chấp nhận cả hai phương diện ấy. Đó là trung đạo. Phải là trung đạo, mới có thể tuyên bố: ''Tâm là nhứt thiết pháp, nhứt thiết pháp là tâm; tâm là sanh tử luân hồi, mà cũng là Niết bàn tịch tịnh''.
Như thế tâm có đầy đủ các tánh: thiên và ác, tịnh và bất tịnh, Phật và chúng sanh. Trong cỏi sanh diệt vô thường, vẫn có cái lư bất sanh bất diệt; trong cỏi ta ba, vẫn có cảnh giưói củ Phật. đó là ư nghĩa của câu '' pháp môn tánh cụ'' nghĩa là bản tánh bao giờ cũng có đủ các pháp, như lành và dữ, tịnh và bất tịnh...Do có đủ các pháp, nên hành động như thế nào th́ kết quả như thế ấy. Muốn thành Phật, c̣n muốn làm chúng sanh th́ tạo nhơn chúng sanh. Chúng sanh muốn thành Phật chỉ nhứt trừ ác nghiệp và chuyển lại tu thiện nghiệp
Và cũng v́ có đủ các pháp, nên trong mỗi pháp giới là sáu loại phàm phu (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Tu la, Nhơn, Thiên) và bốn thánh bậc (Thanh văn, Duyên giác, ồ tát và Phật).
Do chủ trương: ''pháp môn tánh cụ'', và mỗi pháp giới đều có đủ mười pháp giới, nên quan niệm tu hành của Thiên thai tôn cũng lạc quan hơn các tôn phái khác. Ơí trong pháp giới nào cũng dù tối tăm, khổ sở bao nhiêu cũng có thể tu hành và thành tựu được. Như thế không cần từ bỏ một cảnh giới này, cầu sanh vào một cảnh giới khác mới có thể tu hàng và thành Phật.
III.- Phương Pháp Tu Hành
Phần chủ trương của Thiên thai tôn như đă tŕnh bày ở trên, có phần lạc quan và dễ dàng: trong cảnh giới hiện tại có đủ cảnh giới phàm và thánh muốn thành Phật, Bồ tát th́ cứ gieo nhơn (tu hành) thành Phật, Bồ tát. Đó là nói về lư thuyết. Nhưng trong thực hành không phải dễ dang như thế.
Trước tiên, chúng ta phải nhận định hoàn cảnh thực tế của chúng sanh là một hoàn cảnh bị che phủ rất nhiều mê lầm, hay nói theo thuật ngư nhà Phật th́ là ''chướng'' hay ''hoặc''. Dứt trừ được những 'chướng'' hay ''hoặc'' ấy là công việc chính của người tu hành. Nhưng muốn dứt trừ những tên giặc nguy hiểm ấy, trước tiên phải t́m hiểu tướng trạng, hành tung, phạm vi họat động của chúng ta như thế nào đă. Những chướng ngại, mê lầm hay những hoặc nói trên nhiều vô số, nhưng có thể phân chia làm ba loại, từ cạn đến sâu, từ hẹp đến rộng. Đó là kiến tư hoặc, trần sang hoặc và vô minh hoặc.
3.- Vô minh hoặc: Chử vô minh nghĩa chung là mê lầm. Mê lầm cũng có niều bậc cạn và sâu, hẹp và rộng, thô thiển và vi tế. Hàng Tiểu-thừa cũng dùng chữ vô minh, mà hàng Đại-thừa cũng dùng chữ vô minh. Nhưng vô minh theo quan niệm của Tiểu-thừa là sự mê lầm che lấp không cho chúng sanh thấy được cái cội gốc của đau khổ, phiền năo, nguyên nhân của sanh tử luân hồi. C̣n theo nghĩa của Đại-thừa và đặc biệt của Thiên thai tôn là sự mê lầm che lấp chơn lư thật tướng của Trung đạo. Vô minh hoặc ở đây có một nghĩa bao quát rộng răi như thế, nên cũng gọi là giới ngoại đạo hoặc; và chỉ có hàng Bồ tát mới dứt trừ được , nên cũng gọi là biệt hoặc.
Đối vị với ba hoặc này, Thiên thai tôn lập ra ba pháp quán là: Không quán, Giả quán và Trung quán.
Ba Pháp Quán: Ba pháp này nguyên Ngài Tuệ Văn rút từ những phẩm kệ trong bộ Trung luận của Ngài Long Thọ Bồ tát mà lập ra. Phẩm kệ ấy như sau:
Nhân duyên sở sanh pháp
Ngă thuyết thức thị không
Diệc danh vi gỉa danh
Diệc thị trung đạo nghĩa.
(các pháp do danh duyên sanh, nên tánh bảo là không, mà cũng là giả danh, đó cũng là nghiă lư của Trung đạo).
Đối với Thiên thai tôn th́ ba pháp quản này là phần ṇng cốt trong sự tu hành. Nếu không thực hành ba pháp quán này th́ không làm sao thành tựu được . ba pháp quán này, như trên đă nói; Không quán, Giả quán và Trung quán.
1.- Không quán: Không quán là đứng về phương diện chơn đế mà quan sát sự vật. Theo chơn đế th́ các pháp là không, nhưng chúng sanh v́ mê lầm không rơ, chấp là có thật. Do đó mà có kiến thức hoặc, và cứ măi quay cuồng trong sanh tử luân hồi của tam giới. nay phải dùng Không quán mà phá trừ sự mê lầmchấp trước trên, cắt đứt tất cả t́nh chấp (trừ kiến và tư hoặc) mới thoát khỏi sanh tử luân hồi.
2.- Giả quán: Giả quán là đứng về phương diện tục đế mà quan sát sự vật. Các Phật tuy không và không sở đắc nhưng đứng về thế tục mà nh́n, th́ thấy bản tánh vốn đủ các pháp , muôn h́nh vạn trạng, không thiếu một pháp nào. Giả quán này có thể dứt trừ được trần sang hoặc, v́ hành giả biết rằng hoặc tuy nhiều như cát bụi, nhưng đều là giả cả, nên không lo sợ trước số nhiều ấy, và cứ tâm phát nguyện độ sanh khắp tất cả.
3.- Trung quán: Trung quán là đứng về phương diện trung đế để quan sát các pháp. Trung đế hay đệ nhất nghĩa đế là sự thật đúng đắn nhất, không ǵ hơn, sự thật trung chánh, tóm thâu bao gồm tất cả sự thật khác. Khi đứng về chơn đế hay tục đế mà quan sát sự vật th́ không phải là không đạt đến sự thật; nhưng sự vật ấy mới chỉ được vén lên ở một khía cạnh nay hay một khía cạnh khác mà thôi. Và những sự thật ấy, nếu không có trung quán, th́ trở thành mâu thuẩn, đối chọi nhau. Nhờ Trung quán mà nh́n cùng một lần cả hai khía cạnh Có và Không, mới nhận chân được rỏ ràng các pháp không phải chơn mà cũng không phải tục, tức chơn, tức tục, dung thông cả hai, không có chướng ngại. Pháp quán này sẽ trừ được vô minh hoặc một cách rốt ráo, cùng tột.
Ba pháp quán này có tể thực hành bằng nhiều lối:
Hoặc quán theo thứ lớp, hết Không đến Giả đến Trung. Lỗi quán này gọi là quán ba đế về lối cách lịch, thứ đệ, hay về biệt tướng, hay biệt giáo.
Hoặc quán theo lối thông tướng. Theo lói sau nay th́ quán một đế mà ba đế đều đủ, ba tức là một. Thí dụ: quán pháp Không thời hết thăy đều Không; Giă, Trung cũng đều Không; quán pháp Giă, thời hết thảy đều Giả; Không , Trung cũng đều Giă; quán pháp Trung, thời hết thảy đều Trung; Không; Giả cũng đều Trung.
Hoặc quán theo lối Viên dung; nghĩa là đầy đủ, Dung nghĩa là dung ḥa. Theo pháp qúan này, th́ dùng một tâm mà đồng thời tu ba pháp quán, nghĩa là trong một tâm niệm mà ba pháp quán đều đủ và không ngăn ngại nhau. Quán như thế gọi là ''nhất tâm tam quán'', một pháp quán của viên giáo. Nhất tâm tam giáo là pháp quán vi diệu nhất. nhờ pháp quán này mà hành giả trực nhận được trong một lúc nhiều khía cạnhcu tâm ( mà cũng tức là vạn pháp ), rơ ràng như khi chúng ta soi vào gương, mà vừa nhận thấy được ánh sáng của gương (dụ cho không), những bóng phản chiếu trong gương (dụ cho trung). Ba thứ: ánh sáng, bóng phản chiếu và thể tánh của gương đều đầy đủ, đều thể hiện cùng một lúc mà vẫn viên dung, không trở ngại nhau. Cái lư ba đế viên dung là đức tánh sẵn có trong mười pháp giới, không một sự vật, một pháp ǵ, là không viên dung cả ba đế, cho nên thông thường gọi là: '' Một cảnh ba đê ú''.
Hành giả khi quán thuần thục, sẽ đi đến kết luận sau đây:
Chân như, Tâm và Vật, quan hệ mật thiết như tánh ướt, nước và sóng. Chân như dụ cho tánh ướt, Tâm dụ cho nước , Vật dụ cho sóng. Ngoài tánh ướt không có nước; ngoài nước không có sóng. Ngoài chân như không có tâm, ngoài tâm không có vật. Chân như, Tâm và Vật không rời nhau, mà cũng không phải là một, mà cũng không khác.
IV.- Quả Vị Tu Chứng
Như trên đă nói, do sự khám phá của ''Nhất tâm tam quán'', Thiên thai tôn có một quan niệm lạc quan về sụ tu chứng. Thật vây, khi đă nhận rơ chân-như nằm ngay trong sụ vật, phàm, thánh không hai, uế độ tức tịnh độ, th́ hành giả không cần phải cầu sanh ở một cảnh giới thanh tịnh nào khác mới tu hành được, cũng không cần phải tu hành lâu đời, lâu kiếp mới thành Phật được. Ngay trong hiện tiền, nếu hiểu rơ được nghĩa lư của Trung đạo và khởi công tu luyện th́ cũng là Phật rồi. Âúy là ư nghĩa của Thiên thai tôn đă đề xướng trong chủ trương ''Lục tức Phật''.
1.- 'Lục tức Phật, gồm có: Lư tức Phật, danh dự tức Phật, quán hạnh tức Phật, Tương trợ tức Phật, Phần chứng tức Phật, Cứu kính tức Phật.
a) Lư tức Phật: Lư tức là nghĩa lư. Hiễu rơ được nghĩa lư của Đức-Phật đă dạy trong câu '' Chúng sanh vốn đủ Phật tánh , cùng các đức Như Lai không hai không khác''; hay trong câu: ''Hết thảy chúng sanh đều là Phật''; hiểu rơ được lư ấy tức là Phật.
b) Danh tự tức Phật: Danh tự ở đây tức là những kinh điển, hay những lời thuyết pháp mà ḿnh đă học hay đă nghe được, và đă hiểu được thông suốt rằng: ''Hết thảy các pháp đều là Phật pháp ''. Danh tự tức Phật nghĩa là lănh hội được lư tánh của vũ trụ, vạn hữu qua kinh điển, văn tự tức là Phật.
c) Quán hạnh tức Phật: Quán hạnh là quán tưởng. Hạnh là tu hành, hành động; nói một cach tổng quát: quán hạnh tức Phật nghĩa là thực hành đúng theo lời Phật dạy tức là Phật.
d) Tương trợ tức Phật: Chử tương trợ ở đây có nghĩa là trong lúc ḿnh tu hành, tuy chưa có thể thực chứng được lư tánh , nhưng tâm ḿnh đă được yên lặng, nơi lư đă mường tượng như tuồng đă chứng được, nên gọi là tương trơ ủtức Phật. đến đây tức là Phật thập tín, thuộc về nội phàm (phàm phu trong nọi giáo).
e) Phần chứng tức Phật: Theo Thiên thai tôn, th́ vô minh như là tấm màn dày đặc, gồm có 41 lớp; mỗi khi nhờ công phu tu hành, phá được một lớp, tức là chứng được một phần Trung đạo. Đó là ư nghĩa của phần chứng tức Phật. đến nay tức là đă lên đến các bậc Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẵng giác.
f) Cứu cánh tức Phật: Cứu cánh tức là đạt đến bực cuối cùng, chứng được chổ mầu nhiệm cực điểm, nghĩa là đến bực Diệu giác, Chủng trí đều viên măn. Đến đây tức là đến bực Diệu giác hay Phật.
|