View Single Post
  #5 (permalink)  
Old 11-01-2007, 11:41 AM
BaoBinh's Avatar
BaoBinh BaoBinh is offline
Member
 
Join Date: Sep 2007
Posts: 45
3 . MỘT SỐ ĐẠO QUÁN NỔI TIẾNG

a . Thông thánh quán
Ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì), dựng khoảng năm 650-655, đến thế kỷ XIV thì không còn.[17]

b . Thái thanh cung
Cung được dựng ở kinh thành Thăng Long, bên trái . Bên phải là chùa Vạn tuế . Vua Lý Thái tổ (1010-1028) cho cất cung và chùa này khi mới dời đô về Thăng Long.[18]

c . Trấn vũ quán
Cũng được xây dựng lúc vua Lý Thái tổ vừa dời đô về Thăng Long (1010), hiện nay nằm ở góc đường Quan Thánh và đường Thanh Niên, khu phố Ba Đình, Hà Nội . Quán thờ đức Huyền Thiên Trấn vũ để hộ trì mặt phía bắc của thành Thăng Long . Quán này còn được gọi là đền Trấn vũ hay Chân vũ . Đời vua Lê Hy tông (1676-1704), tượng đức Trấn vũ được đúc bằng đồng đen cao 3,96 mét, nặng 4 tấn . Năm 1893, lại xây thêm một bệ đá cho tượng . Bệ này cao 1,20 mét.[19]

4 . Ngọc thanh quán
Quán nằm trên núi Đại Lai (Thanh Hóa) . Năm 1398, Hồ Quý Ly mưu việc dứt ngôi nhà Trần, ép vua Trần Thuận tông (1388-1398) thoái vị, và cưỡng bách vua về tu tiên ở quán này .

5 . Nghinh tiên quán (hay Vọng tiên quán)
Vua Lê Thánh tông chơi Hồ Tây, gặp một thiếu nữ xinh đẹp, xướng họa thơ rất ưng ý nên vua Lê rước lên xe đưa về cung . Khi đến cửa Đại Hưng thành Thăng Long (nay là cửa Nam Hà Nội), thiếu nữ bay lên trời, biến mất . Vua cho cất tại cửa Đại Hưng lầu Vọng tiên để kỷ niệm, sau chốn này thành quán Vọng tiên hay Nghinh tiên nằm ở phố Hàng Bông, Hà Nộị[20]

6 . Tiên tích tự
Vua Lê Hiển tông chơi hồ Kim Âu phía nam thành Thăng Long gặp hai cô tiên, nên cho cất Tiên tích tự ở đấy làm kỷ niệm . Hồ Kim Âu nay ở vị trí nhà ga đường sắt Hà Nộị[21]

7 . Đền Ngọc sơn
Đền nằm trên một gò đất nổi lên ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm . Thoạt đầu nơi đây thờ đức Quan Thánh Đế quân, sau trùng tu lại, thờ Phật, gọi là chùa Ngọc sơn . Năm 1841, biến thành đền thờ đức Văn Xương Đế quân . Về sau lại thờ thêm đức Lữ tổ và đức Trần Hưng đạọ[22]

8 . Bảo chân quán
Do Phạm Huy Ích cất tại Thăng Long năm 1796 .

4 . THƯỢNG SƯ NỘI ĐẠO
Đây là một đạo trường lớn của đạo Lão ở Việt Nam thời xưa . Đời Hậu Lê, Trần Toàn là người làng Yên Đông, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa . Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê (thời gian 1527-1529), ông từ quan về quê tu hành, đắc đạo, được Thiên đình phong chức Thượng sư, lo trừ tà khử quái suốt hai vùng châu Hoan (Thanh Hóa) và châu Ái (Nghệ An) . Thượng sư đến làng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa mở đạo trường . Vua Lê Thần tông (1619-1662) ban cho trường tên là Nội đạo trường . Lúc Thượng sư thoát xác, Vua lại truy phong là Phục ma Thượng đẳng Phúc thần và cho lập đền thờ .

Thượng sư có ba con trai là Nhật Quang, Nguyệt Quang, và Ngọc Quang, đều tinh thông đạo pháp của Thượng sư truyền dạy . Ba vị nổi danh lừng lẫy, đời xưng tán, gọi là Tam thánh Nội đạo . Sau khi Thượng sư về Trời, Ngọc Quang kế tục đạo nghiệp của cha, lãnh phần điều khiển Nội đạo trường .

Triều đình đã công nhận đạo trường này . Nó có uy thế rất lớn . Chi nhánh của Nội đạo trường xuất hiện khắp nơi, nào là làng Từ Quang (tức Từ Minh trước kia, huyện Hoằng Hóa), là làng Yên Đông (huyện Quảng Xương), đều ở tỉnh Thanh Hóa; hoặc ở tỉnh Nghệ An, ở hạt Huệ Lai, tỉnh Hưng Yên; hay ở Nhật Tảo (tỉnh Hải Dương), ở làng Giảng Võ (gần Hà Nội) ...

Về sau, Nội đạo trường thờ cả bà chúa Liễu Hạnh, đức Trần Hưng đạo, đức Phù Đổng Thiên vương, thần núi Tản Viên, thần Bạch Mã...[23]

5 . THI LÃO HỌC
Triều đình từng mở khoa thi Tam giáo vào đời vua Lý Cao tông (1195) và vua Trần Thái tông (1247) .

Về nội dung thi Lão giáo, Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm được một đề thi và một bài trả lời các câu hỏi ra trong đề đó.[24] Nghiên cứu tài liệu này, có thể hiểu được phần nào sự học Lão của người Việt đời trước . Sau đây là bài thi:

(1) PHÁP MÔN LÀ GÌ ?
Mọi pháp quy tôn(g), muôn đời chẳng đổi, muôn thánh ngàn thần, một môn đồng hội, ấy gọi là pháp môn vậy .

(2) PHÙ THỦY LÀ GÌ ?
Khí âm khí dương hỗn hợp mà thành ra thiêng, dùng nước đại bi phun cho ma sợ, ấy gọi là phù thủy vậy .

(3) PHÁP MÔN LẤY AI LÀM THÁNH ?
Pháp môn do Thái Thượng Lão quân lập ra cho nên tôn Ngài làm Thánh .

(4) PHÙ THỦY LẤY AI LÀM THẦY ?
Phù thủy do Chân vũ Tiên sinh lập ra cho nên tôn Ngài làm Thầy .

(5) TỨ THÁNH, TỨ GIÁC, TỨ TUNG, TỨ DUY LÀ Ý THẾ NÀO ?
Thiên bồng, Thiên du, Bảo đức, Hắc sát gọi là Tứ thánh . Càn, Khôn, Tốn, Cấn gọi là Tứ giác . Thiên hoa, Địa hoa, Lão hạc, Đồng trụ gọi là Tứ tung . Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là Tứ duy .

(6) TAM GIỚI, TAM THANH, TAM ĐỘNG, TAM TY LÀ THẾ NÀO ?
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới ấy là Tam giới . Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, ấy là Tam thanh . Động chân, Động huyền, Động vi ấy là Tam động . Lôi đình, Linh bảo, Thái huyền ấy là Tam ty .

(7) ÔN, HOÀNG, DỊCH, LỆ SINH VÀO BUỔI NÀO ?
Vua Hoàng đế có bốn người con bất tài tên là Ôn, Hoàng, Dịch, Lệ sinh vào đời Chuyên Húc .

(8) TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI SINH ĐƯỢC MẤY CON ?
Tốn sinh ra được bốn con là Đông, Tây, Nam, Bắc . Ly sinh được chín con từ Nhất bạch, Nhị hắc đến Bát bạch, Cửu tử . Khôn sinh ra sáu con tức là Thái âm, Lục khí . Đoài sinh ra bảy con tức là Bắc đẩu Thất tinh . Ấy là Tốn, Ly, Khôn, Đoài có hai mươi sáu con vậy .

(9) HÀNH MÃN TAM THIÊN SỐ, THỜI ĐƯƠNG TỨ VẠN NIÊN LÀ GÌ ?
Số Trời thành 1.000, số đất thành 1.000, số người thành 1.000, ấy là hành mãn tam thiên số . Từ Thái dịch đến Thái sơ là 10.000 năm, từ Thái sơ đến Thái thủy 10.000 năm, từ Thái thủy đến Thái tố 10.000 năm, từ Thái tố đến Thái cực 10.000 năm . Ấy là thời đương tứ vạn niên .

(10) ĐẠO CAO LONG HỔ PHỤC, ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH CHỈ VỀ THẦY NÀO ?

Đạo chí cao không thể vượt qua được, mà rồng là dương tinh, cọp là âm tinh đều phục đạo cao . Đức chí hậu không thể vượt qua được, mà quỷ là khí tán, thần là khí tinh đều sợ đức trọng . Ấy là Đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh, chính là chỉ sư Phổ Am vậy .

(11) PHÉP BẮT TÀ TRÓI QUỶ DÙNG LINH PHÙ NÀO ? ĐỌC THẦN CHÚ NÀO ?
Nếu được đàn tràng cho chỉnh túc, pháp tịch cho hẳn hoi, niệm thấy tam giới mà muôn thánh đều đến, trống đánh ba hồi mà muôn thần đều nhóm họp, trước phải gọi tướng, thứ phải sai đi . Tưởng đến thiên võng mà kín đáo ra bùa, bắt tay ấn mà thiêng liêng chú bút, bốn chữ thánh đè năm chữ quỷ, chữ (...?) hợp với vạn linh . Dùng những bùa thiêng Bạch xà, Độc cước, đọc những thần chú Thái thượng, Tề thiên .

(12) MUỐN CHO ĐỜI NÀY, DÂN NÀY ĐỀU VÀO TRONG ĐÀI XUÂN, CÙNG BƯỚC LÊN CÕI THỌ THÌ PHẢI DÙNG THUẬT GÌ ?
Nếu trước hết chính tâm thì bọn tà mị không thể rục rịch . Trước hết chính thân thì khí tà không thể xâm phạm . Tâm chính rồi thì lấy đó ra ơn cho dân . Thân chính rồi thì lấy đó mà giúp chúng .

Qua bài làm của thí sinh đời trước, cùng với cách ra câu hỏi như thế, có thể phỏng đoán rằng trọng tâm cái học Lão giáo đời xưa nặng về Đạo giáo (Taoist religion) hơn là Đạo học (Taoist philosophy) .

6 . CẦU TIÊN
Cầu tiên là một phương tiện liên lạc, tiếp xúc (thông công) giữa cõi người hữu hình với các đấng tiên thánh trong cõi vô hình . Người cầu tiên có thể do nhiều mục đích khác nhau: hoặc mượn thơ phú xướng họa để tiêu khiển thanh tao, hoặc xin thuốc chữa bịnh, hoặc hỏi việc tương lai hậu vận, hoặc hỏi thiên cơ quốc sự, hoặc để học hỏi trực tiếp đạo lý với thần tiên . Thông thường các đấng thiêng liêng tùy duyên hóa độ, cũng vì từ bi, cho nên mượn những mục đích bình thường của thế nhân (thơ phú, xin thuốc...) để gây đức tin, rồi dẫn dắt đến chỗ học đạo thánh hiền .

Thời kỳ Việt Nam còn dưới ách thực dân Pháp, ở tỉnh Nghệ An có nhiều nơi cầu tiên, gọi là thiện đàn . Ở miền Nam, đầu thế kỷ XX nhiều địa danh và các đàn tiên đã gắn liền với lịch sử khai đạo Cao Đài như đàn ở Miễu Nổi (Bình Lợi, Gò Vấp), ở chùa Ngọc Hoàng (Đất Hộ, tức Đa Kao), đàn Minh Thiện (Thủ Dầu Một), đàn Hiệp Minh (Cái Khế, Cần Thơ), đàn ở núi Thạch Động (Hà Tiên), đàn ở chùa Quan Âm (núi Dương Đông, Phú Quốc), đàn ở phố Hàng Dừa (đường Arras, Sài Gòn, nay là Cống Quỳnh) .

Qua mười chín thế kỷ, đạo Lão hầu như dần dần vắng bóng ở Việt Nam . Cho đến đầu thế kỷ XX, khi đạo Cao Đài ra đời, dường như có những mối liên hệ gần gũi với đạo Lão . Đạo Cao Đài thờ Ngọc Hoàng Thượng đế (cũng là Cao Đài Tiên ông), Diêu Trì Kim mẫu, Thái Thượng Lão quân, v.v ... cũng là các đấng vốn được sùng bái, tôn thờ trong đạo Lão cổ truyền . Bản thân các tín đồ Cao Đài vẫn coi mình là học trò Tiên, tu đạo Tiên . Phương tiện cơ bút là một điểm tương đồng khác giữa đạo Lão xưa và đạo Cao Đài nay . Việc dạy giáo lý qua hình thức thơ phú trong Cao Đài cũng cho thấy đường nét của văn hóa Lão-Trang . Như vậy, phải chăng sau mười chín thế kỷ, đạo Lão ở Việt Nam không hoàn toàn biến mất ? Phải chăng đã có một sự hồi phục đạo Lão xưa trong một nền tôn giáo mới là Cao Đài ? Trả lời thích đáng câu hỏi này cần có sự tiếp tục nghiên cứu trong một chuyên khảo khác về Tam giáo Việt Nam, kể từ đầu thế kỷ XX trở đi .

LÊ ANH DŨNG
Reply With Quote