View Single Post
  #2 (permalink)  
Old 11-06-2007, 07:32 PM
VoThuc's Avatar
VoThuc VoThuc is offline
Super Moderator
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 176
Chuyện đau đầu thứ ba cho các nhà tiến hóa luận là hoá thạch của các sinh vật (đối tương nghiên cứu của ngành khoa học cổ sinh học, một chỗ dựa quan trọng của thuyết tiến hoá). Các nhà tiến hoá luận cho rằng nh́n vào sưu tập các mẫu hoá thạch, ta có thể h́nh dung ra con đường tiến hoá của sinh giới, từ thấp đến cao, tử đơn giản đến phức tạp. Căn cứ vào những đặc trưng cấu trúc tương tự, các nhà tiến hoá luận có thể phân loại các sinh vật hoá thạch thành từng nhóm khác nhau, gọi là loài và xếp từng loài vào vị trí thích hợp trong cây tiến hoá. Vấn đề đặt ra là theo luật tiến hoá giữa các loài phải có rất nhiều dạng h́nh trung gian đă từng tồn tại và v́ thế phải có hoá thạch của chúng. Ngay Darwin, trong cuốn Nguồn gốc các loài cũng đă phải tự thú nhận điểm yếu nhất này trong học thuyết của ông. Ông viết trong phần mở dầu của chương X: "…Số lượng các dạng trung gian (giữa các loài - NTV), là các dạng đă tồn tại một cách chính thúc (theo lư thuyết tiến hoá - NTV), sẽ là rất lớn. Nhưng tại sao không có một kiến tạo hoặc một giải tầng địa chất nào chứa đầy đủ các gạch nối trung gian này. Rơ ràng là ngành địa lư đă không t́m ra được bất cứ một chuỗi hữu cơ biến đổi tù từ nào và đó có lẽ là một khách quan hiển nhiên và nghiêm trọng nhất chống lại lư thuyết này". Nhưng ông cũng hy vọng "Lời giải thích có lẽ nằm trong sự thiếu hoàn hảo thái quá trong dữ liệu địa lư". Tất nhiên ông tin là khoa học địa lư sau thời ông có thể bổ sung vào cái lỗ hỏng về sự hiện hữu của các đang sống trung gian giữa các loại. Oái oăm thay, gần 150 năm qua, hàng ngh́n các nhà cổ sinh học khắp thế giới ra công đào bới, t́m kiếm các mẫu hoá thạch này để mong lấp đầy (khoảng trống giữa các loài”, nhưng khoảng trống đó vẫn nguyên vẹn như thời Darwin c̣n sống. David Kitts, từng thú nhận ngay trên Tạp chí Tiến hoá "Mặc dù với sự hứa hẹn sáng sủa rằng Cổ sinh học là sẽ đem đến cho chúng ta một phương tiện để có thể nh́n thấy sự tiến hoá, nhưng ngược lại nó đă đem đến cho các nhà tiến hoá c̣n những khó khăn bộn bề hơn, bởi v́ nó (ngành Cổ sinh học) càng làm hiện rơ hơn "khoảng trống giữa các loài". Thuyết tiến hoá cần những hoá thạch sinh vật trung gian, nhưng Cổ sinh học lại không thể cung cấp được". Càng t́m kiếm, càng thấy nhiều hoá thạch các loài chứ không hề thấy hoá thạch các sinh vật trung gian! Vậy có quá tŕnh tiến hoá không, để từ một loài này một (hoặc vài) loại mới xuất hiện?

C̣n nhiều cái vênh giữa lư thuyết tiến hoá và các bằng chứng ủng hộ nó, song với khuôn khổ của một bài báo tôi chỉ nêu thêm một vấn đề rất mới mẻ. tuổi của các hoá thạch và phương pháp Cacbon 14.

Việc dùng sự tan ră nguyên tố của các chất phóng xạ để xác định tuổi địa chất đă được sử dụng từ lâu. Riêng với các hoá thạch sinh học, phương pháp đó lượng Cacbon phóng xạ 14 (C14) c̣n lại trong mẫu xét nghiệm được sứ dụng khá rộng răi. Trong tự nhiên, CO2 phóng xạ được h́nh thành bởi sự va đập của tia vũ trụ vào nguyên tử nhỏ. Tỉ lệ giữa CO2 thông thường (C12) và CO2 phóng xạ là 1 ngh́n tỉ trên 1. Thực vật hấp thu CO2 phóng xạ tử không khí, đất, nước, rồi đến lượt động vật ăn thực vật, cho nên trong cơ thể sinh vật tồn tại một lượng CO2 phóng xạ, có tỉ lệ rương đương trong tự nhiên. Khi một sinh vật chết, quá tŕnh tan ră (để biến thành lại Nitơ) của CO2 phóng xạ bắt đầu. Một nửa đời của CO2 phóng xạ là 5730 năm. Bằng các phương pháp khác nhau nếu xác định được lượng CO2 phóng xạ trong một mẫu hoá thạch, ta có thể suy ra tuổi của hóa thạch đó (hàm lượng tỉ lệ nghịch với tuổi hoá thạch, có nghĩa thời điểm chết của sinh vật càng xa hiện tại, lượng CO2 phóng xạ c̣n lại càng ít). Tại hội thảo quốc tế của những người theo trường phái sáng tạo lần thứ năm, tổ chức tại Pittsburgh, PA, USA, từ ngày 4 đến 8/8/2003, Tiến sĩ Baumgardner đă tŕnh bày một báo cáo khoa học thú vị về C14. Khi tập hợp, phân tích kết quả hơn 20 năm nghiên cứu về cac-bon phóng xạ bằng máy do quang phổ gia tốc có độ nhạy cao (AMS) của nhiều pḥng thí nghiệm ở nhiều nước khác nhau, ông nhận thấy các mẫu hữu cơ đại diện cho tất cả các thời kỳ của kỷ Phan- erozoic (khoảng 500 triệu năm trở lại đây) đều chứa một lượng CO2 phóng xạ có thể định lượng được và tập trung vào khoảng tử 0,1 - 0,5 pmc (phần trăm CO2 hiện đại). Ông kết luận ngay: các mẫu vật hoá thạch này không thể có tuổi lớn hơn 250.000 năm. Thời gian này tương đương với 43,6 nửa đời của CO2 phóng xạ. Nhưng sau 43,6 nửa đời, lượng CO2 phóng xạ c̣n lại sẽ không thể nào định lượng được nữa v́ quá ít. Một gam CO2 hiện đại (tức trước khi CO2 phóng xạ bắt đầu tan ră, hay CO2 có thể của sinh vật đang sống) chúa 6*1010 nguyên tử CO2 phóng xạ, sau 43,6 nửa đời chỉ c̣n 6*1010/7.3*1014, tức khoảng 1 phần vạn nguyên tử! Vậy những ǵ đă hoá đá mà các nhà cổ sinh học t́m thấy hôm nay, không thể nào có được cả triệu năm tuổi như cách tính của học thuyết tiến hóa.

Vậy phải có một giả thuyết nào đó khả dĩ có thể giải thích được vấn đề CO2 phóng xạ này. Giả thuyết nào, Tiến sĩ Baumgadner dựa vào nghiên cứu của chính ông đă kết luận trận đại hổng thuỷ đă gần như xóa sạch mọi thứ trước đó trên mặt đất, những ǵ ta thấy qua các mẫu hóa thạch ngày nay phần lớn đều và những ǵ xuất hiện sau trận đại hồng thủy ấy. Nếu có bằng chứng khoa học xác đáng về một đại hồng thuỷ, vậy không thể không tin vào những ǵ đă được ghi trong Kinh Thánh!

Theo Tạp chí Tia sáng
Reply With Quote