| B_CÁCH THỞ 2 : ( Thở trên da hay ngoài da )
Cách thở này dễ cho người mới tập hơn là cách thở 1. Do đó mau đạt kết quả hơn cho người tập. Cũng dẫn ư theo lộ tŕnh đă tŕnh bày ở cách 1 , chỉ khác là ư tưởng tượng (dẫn ư) ở trên da , thay v́ dưới da vài mm như cách thở 1. Do đó không cần phải tưởng tượng làn khí chạy bám theo đường cong của cơ thể ( Ví dụ từ mũi xuống Đan Điền không cần phải tưởng tượng làn hơi đi sát đường cong của cằm rồi xuống cổ , xuống ngực đến Đan Điền , mà chỉ tưởng tượng làn Khí đi thẳng từ đấu mũi đến Đan Điền cũng có kết quả ). Cũng như cách 1 , kết quả sẽ đến ngay với người tập trong vài buổi đầu nếu tập đúng. TƯ THẾ , THỜI GIAN , KHÔNG GIAN LÚC TẬP THỞ :
_ Không nên thở lúc bụng no hay sau khi vừa ăn cơm xong ( Trừ trường hợp cần thiết như cần phải thở để giải quyết 1 triệu chứng bệnh , 1 cơn đau đang xảy ra ).
_ Đi, đứng, nằm ,ngồi đều tập thở được. Nhưng lúc đầu nên tập ngồi thở , không cần ngồi Kiết già , chỉ cần ngồi xếp bằng hoặc ngồi trên giường hai chân thả xuống đất , bàn chân phải đi giầy hay để trên thảm và thẳng lưng là được. Hai bàn tay đan vào nhau hay là để úp trên 2 đầu gối đều được cả. Tránh gồng cứng , và phải để lỏng thắt lưng , mắt nên mở không nên nhắm sẽ tốt hơn. Tuy nhiên nếu mở mắt khó tập trung tư tưởng , th́ cứ theo thói quen hé mắt hay nhắm mắt cũng được , nhưng sẽ khó tập thở trong lúc đi , đứng ,làm việc sau này LƯU Ư : Khi tập thở tránh ngồi sát mặt đất (phải ngồi cách mặt đất ) , trên di-văng là tốt. Tránh ngồi trên nệm , có độ đàn hồi cao.
_ Nên tập nơi cao ráo , thoáng mát , không khí trong sạch , rất cần tránh nơi bị ô nhiễm ,nhất là hóa chất hay mùi hôi thối , bụi bặm.
_ Tối , nên tập lúc 23-1 giờ đêm . Sáng , nên tập lúc 5-7 giờ sáng , mỗi ngày tập thường xuyên 2 lần. Trường hợp đặc biệt mới tập 4 lần chia theo 4 thời Tư , Ngọ , Mẹo , Dậu. Ngoài ra , khi cần thiết cứ thở theo nhu cầu lúc bấy giờ.
_ Tránh nơi ồn ào , có người qua lại quấy phá ḿnh. VỀ TỶ LỆ THỞ :
_ Mỗi lần thở : trung b́nh từ 4-5 hơi cho mỗi đường Âm hay Dương ( Trừ giai đoạn đầu tập thở có thể tập đến 10 đường Âm hay Dương cho mỗi lần tập )
_ Tự định và điều chỉnh hơi thở của ḿnh giửa 2 đường Âm, Dương sao cho phù hợp với sức khoẻ và cơ thể của ḿnh. Đó gọi là TỶ LỆ VÀNG. Thí dụ đối với người tạng Âm , hay bị Âm bệnh ( bệnh hư hàn ) , hay sợ lạnh , lười biếng , mệt mơi th́ tỷ lệ 5 Dương -1 Âm có thể là TỶ LỆ VÀNG . Tóm lại : TỶ LỆ VÀNG là tỷ lệ giửa số lượt thở Âm và Dương thích hợp nhất đối với cơ thể 1 người trong 1 giai đoạn nào đó.
LƯU Ư : Để đạt TỶ LỆ VÀNG , người tập phải TỰ T̀M RA bằng cách theo dơi sát t́nh trạng cơ thể ḿnh sau mỗi ngày tập thở ( sẽ t́m được sau 1 thời gian tập ) KINH NGHIỆM THỞ :
_ Lúc tâm trí bối rối , không ổn định tư tưởng hay có kẻ quấy rầy th́ không nên tập thở. Chỉ nên tập thở lúc b́nh tâm thoải mái.
_ Giai đoạn đầu nên tập thở thuần Dương trong ṿng 1 tuần ( mỗi lần 10 hơi ).
Khi tập đường Dương có kết quả rồi , hăy tập sang đường Âm mới dễ có kết quả ( cũng tập 1 tuần ) , mỗi lần tập thở 10 đường.
Nếu sau 1 tuần vẫn chưa đạt kết quả , th́ phải tiếp tục tập cho đến khi có kết quả mới đổi sang tập đường Âm.
Tuy nhiên , trong thực tế lại có người hạp đường Âm hơn . Trường hợp này có thể tập đường Âm trước cũng được. LƯU Ư : Nếu thở đường Dương mà thấy cơ thể nóng quá th́ có thể bớt số lượt thở lại cho bớt nóng . Thở đường Âm cũng vậy , nếu thấy ngủ quá nhiều th́ bớt lại. Tóm lại , phải nhớ linh động , gia giảm sao cho đạt kết quả tốt là được.
_ Khi tập có kết quả ở cả 2 đường thở , lúc bấy giờ hăy tự định cho ḿnh 1 tỷ lệ thở tùy theo t́nh trạng sức khoẻ của ḿnh , căn cứ vào tiêu chuẩn Âm-Dương-Hàn-Nhiệt . Ví dụ : Thấy trời nóng , ta cũng cảm thấy nóng trong người , ta phải thở đường Âm nhiều hơn , như 1 Dương 3 Âm chẳng hạn , thở xong , theo dơi sát cơ thể ( phải tập lắng nghe cơ thể ḿnh ) xem có dễ chịu không , có khoẻ không , nếu vẫn c̣n nóng th́ tăng thêm lần Âm lên nữa , nếu lạnh th́ bớt lại...vv....Hăy tự ḿnh kiểm tra cơ thể của ḿnh và gia giảm làm sao cho hài ḥa tốt đẹp nhất cho cơ thể , đó gọi là TỶ LỆ VÀNG .
LƯU Ư : Các tỷ lệ trên chỉ là gợi ư. Trên thực tế phải tùy cơ thể mà định tỷ lệ thích hợp cho ḿnh.
Tóm lại , phải chịu khó theo dơi sát sao cơ thể ḿnh , để từ đó điều chỉnh tỷ lệ thở Âm-Dương thích hợp. Thở đường Âm là ức chế thần kinh , là làm mát người. Thở đường Dương là làm hưng phấn thần kinh, làm ấm cơ thể. Nhưng phải đề pḥng , thở nhiều quá có thể bị phản phục : Vật cực tất phản ( nguyên lư của Dịch mà )
Có thể xen kẽ đường Âm -đường Dương , hay thở 1 loạt đường này rồi 1 loạt đường kia. Có thể thở thuần Dương , hay thuần Âm cho mỗi lần tập hay mỗi giai đoạn tập , hoặc theo nhu cầu. có thể thở làm nhiều lần trong ngày , mỗi lần 1-2 đường thở. Trong mỗi lần tập không nhất thiết phải thở liên tục theo phép thở Âm Dương v́ dễ bị mệt khi mới tập (thiếu oxy v́ hít vô rất ít ). Do đó có thể xen kẽ thở tự do ( hít vô đầy phổi nhiều oxy và thở ra cho cạn phổi ) giửa các đường thở theo Âm Dương Khí Công.
Tránh thở đường Âm khi bị cảm lạnh hay đường Dương khi bị cảm nóng ( v́ sẽ làm bị cảm nặng hơn và kéo dài ). Trái lại , hăy thở 1 loạt 5,10 đường Dương nếu chớm cảm lạnh , hay thở 1 loạt đường Âm nếu chớm cảm nóng . Tuy nhiên nếu bệnh cảm đă h́nh thành th́ ngưng tập thở , chữa cho hết hẳn bệnh rồi mới tập tiếp. DẤU HIỆU THỞ ĐÚNG : _ Đường Dương : Nếu thở đúng sẽ cho cảm giác hưng phấn , lạc quan , hăng hái , yêu đời , nóng tính , tăng cường trí nhớ và thông minh , khoẻ trong người , ăn ngon , mau đói , tăng trọng lượng (mập , lên kư ) ,ham làm việc , dai sức , mạnh hơn , khoẻ hơn , phản xạ nhạnh hơn , tự tin , can đảm hơn , ấm áp hay nóng nhiệt trong người , táo bón (tuy nhiên có người lại xổ độc hay đại tiện được dễ dàng chứ không táo bón v́ đó là bón Âm ) , trung tiện nhiều , giảm tiết dịch , tiểu ít. Nếu thở nhiều sẽ làm nhức răng , sưng nướu răng , nặng đầu , nổi mụn nhọt , tiểu gắt , tiểu đỏ , đau lưng , mất ngủ ( tuy nhiên sẽ có người ngủ ngon và dễ hơn , v́ cơ thể bị Âm hàn , thở đường Dương cơ thể ấm áp hơn và quân b́nh Âm Dương. Do đó dễ ngủ chứ không có` ǵ lạ ) , tăng huyết áp , lâu lành vết thương , hưng phấn t́nh dục , cầm máu , ghẻ lỡ....Đặc biệt sau khi thở có kết quả th́ khi vận động nhiều như đánh tennis chẳng hạn , cơ thể sẽ ra ít mồ hôi hơn trước khi tập thở. Sở dĩ có hioe6n5 tượng này là v́ cơ thể dồi dào Khí Dương hơn trước. Mà đặc tính của Khí Dương là giàm tiết dịch , giảm xuất tiết ( do đó làm giảm mồ hôi , giảm đi tiểu dù uống nước nhiều hơn , v́ khát nước hơn khi thở đường Dương. Đây là điểm rất đặc biệt khác với quan điểm thông thường của Tây Y là hễ uống nước nhiều th́ phải đi tiểu nhiều ) _Đường Âm : Nếu thở đúng sẽ có hiện tượng ức chế thần kinh , buồn ngủ ( nhưng đối với những người cơ thể hư hàn hoặc Âm tạng th́ lại khó ngủ hơn ) , lười biếng , nguội tánh , mau mệt , không cảm thấy đói bụng , giảm cân , mát người , nhuận trường xổ độc , mau lành vết thương..vv...Nếu thở nhiều sẽ bị tiêu chảy , tiểu nhiều , tiểu trong , đau lưng , ngủ nhiều , hạ huyết áp , dễ bị cảm lạnh , sổ mũi , tăng tiết dịch , dễ bị xuất huyết , mỏi và mềm cơ bắp , phản xạ chậm , bi quan , thiếu tự tin , thiếu can đảm , ức chế t́nh dục....Đặc biệt thở nhiều đường Âm sẽ rất ít khi khát nước (do đó uống ít nước nhưng lại đi tiểu nhiều. Nghe ra rất nghịch lư nhưng lại là sự thật )
|