| Đi t́m di hài vợ tôi
Đi t́m di hài vợ tôi - những chuyện khó tin
TP - "Lạ lắm ông ạ ! Ông cố thu xếp trở lại Quảng Nam đi, về B́nh Sa gặp ông Năm Chiến đi!" Nhà văn Nguyên Ngọc bảo tôi thế. Rồi anh kể cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện với rất nhiều t́nh tiết ly kỳ, huyền bí, mà có thật, diễn ra trước mắt anh.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc bên mộ vợ - nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quư
Kỳ I: 17 năm và những cuộc t́m kiếm vô vọng
Một ông tên là Năm Chiến vừa t́m được hài cốt người bạn anh, sĩ quan Sư đoàn 2 QK5, hy sinh đă lâu trên vùng núi Quế Sơn.
Chả là tôi cũng đă từng kể với Nguyên Ngọc việc tôi đi t́m không kết quả hài cốt vợ tôi, Dương Thị Xuân Quư, hy sinh tại thôn 2 (thôn Thi Thại) xă Xuyên Tân (nay là Duy Thành) huyện Duy Xuyên, trong một trận quân Nam Triều Tiên càn quét chốt giữ dài ngày, không được chôn cất, đến nay vẫn không biết thân xác bị vùi lấp chốn nào.
Tháng 4-1983, sau bao nhiêu công việc ngổn ngang của đất nước và gia đ́nh thời hậu chiến, tôi mới thu xếp được chút thời gian và phương tiện để đi t́m Quư lần đầu tiên.
Cùng đi giúp tôi có các anh Đoàn Xoa, Nguyễn Bá Thâm, Vĩnh Quyền, Vũ Đ́nh Thước trong Hội Văn Nghệ Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi tôi vừa chuyển công tác từ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội ngoài Hà Nội vào nhận nhiệm vụ Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng được mấy tháng.
Chúng tôi về Thi Thại, một thôn nhỏ nằm trên bờ bắc sông Bà Rén. Phải vạch cỏ dại lút đầu người mới vào được đến cái giếng đất, là vị trí mà anh Hải và anh Mười, hai người cùng rúc hầm bí mật với Quư may mắn chạy thoát đă xác định Quư bị địch bắn, và chắc đă chết tại đây.
Sau năm 1975, mỗi lần về Thi Thại tôi không dám lần vào tới chỗ này v́ khắp thôn chưa gỡ hết ḿn, chỉ thắp hương bái vọng ở vành ngoài. Địch đánh phá quá ác liệt, Thi Thại trở thành thôn trắng dân từ giữa năm 1968, người chạy xuống thôn 3, xuống Xuyên Thọ, người chạy ra Hội An, Đà Nẵng hoặc tứ tán đi chẳng biết những đâu.
Ban Tuyên huấn huyện Duy Xuyên hồi ấy đóng cơ quan tại cái xóm trắng dân um tùm cỏ dại này, và đương nhiên phải gài rất nhiều ḿn khắp các ngả để pḥng vệ, b́nh thường th́ làm việc trong mấy căn hầm tránh pháo, khi địch lùng sục càn quét th́ xuống hầm bí mật.
Các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Đoàn Xoa cùng các đồng nghiệp văn nghệ Khu 5 và Quảng Nam trong buổi lễ cải táng nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quư
Quư từ trên Khu xuống, cùng sống và làm việc với anh chị em tuyên huấn Duy Xuyên, sau chuyến đi Xuyên Hoà trên vùng tây của huyện trở xuống đây đang tranh thủ ngồi viết th́ gặp trận càn.
Đêm 8/3/1969, Quư theo Mười (du kích xă), Hải (đội viên đội vũ trang tuyên truyền huyện) từ dưới hầm bí mật ḅ lên t́m cách thoát khỏi ṿng càn, ra tới góc vườn có cái giếng đất th́ Hải đi trước bị vướng ḿn sáng, cả ba vội nhảy xuống giếng, địch xộc lại bắn, Quư trúng đạn gục ngă dưới chân Mười, Hải bị thương.
Thế nhưng Mười và Hải cũng đă kịp ném lựu đạn phản kích rồi Mười cơng Hải chạy thoát. Quư nằm lại dưới giếng. Mười kể với tôi: “Chị Quư đứng phía vách giếng đối diện với luồng đạn, chị bị vào ngực khuỵu xuống ngay dưới chân em, giếng lại có nước đến gần thắt lưng, chắc là chị chết dưới giếng anh ạ”.
Căn cứ vào đó, tôi đinh ninh nếu đào chỗ giếng đất lên chắc sẽ t́m thấy Quư. Phát hết cỏ, giếng bị lấp đất lâu ngày nhưng vẫn hiện rơ vành miệng và một phần thành giếng thoai thoải. Cả một ngày trời chúng tôi đào xuống tận lớp đất đen, đào thật rộng ra bốn phía mà chẳng thấy ǵ ngoài một chiếc mâm nhôm.
Bà Dũng nhà ở liền kề bảo đó là chiếc mâm bà ném xuống để giấu địch trong một trận càn từ đầu năm 1968, nếu Quư nằm dưới giếng, chắc chắn hài cốt phải ở trên lớp đất có cái mâm.
Cuối cùng, tôi đành hốt một ít đất dưới đáy giếng bỏ vào chiếc tiểu sành đem gửi ở nghĩa trang liệt sĩ xă Hoà Phước ven đường số 1 gần TP Đà Nẵng để có chỗ đi về thắp hương vọng niệm.
Từ đó ḷng dạ hoang mang chẳng biết làm sao t́m được Quư. Những năm ấy chưa thấy xuất hiện những người có khả năng đặc biệt t́m được hài cốt bị thất lạc, thậm chí ư niệm về điều đó cũng chưa có, ít nhất là trong tôi.
Cho đến khi nghe câu chuyện ly kỳ của Nguyên Ngọc, tôi lại khấp khởi hy vọng. Ai nói th́ tôi c̣n nghi hoặc, chứ Nguyên Ngọc th́ tôi không thể không tin. Toàn bộ câu chuyện anh kể cho tôi nghe, sau đó anh đă viết thành bài đăng trên tạp chí Thế giới mới.
Thế rồi, một sáng sớm đầu tháng 4 năm 1995, tôi có mặt tại sân nhà ông Năm Chiến, ở thôn B́nh Sa, huyện Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam. Có được buổi sáng này cũng không dễ.
Từ một tuần trước, tôi phải nhờ anh Ngọc, Phó Bí thư Huyện ủy Thăng B́nh, cũng là người cùng xóm và thân thiết với ông Năm Chiến, đưa về tận nơi giới thiệu để xin chiếu cố tôi ở xa măi trên Đà lạt, được xếp vào diện ưu tiên, chứ nếu chờ lần lượt theo thứ tự th́ chắc chắn phải cả tháng trời.
Quanh sân nhà ông Năm Chiến và cả bên sân nhà hàng xóm kéo ra tới ngă ba con đường cát, người chờ đợi rất đông. Nhiều người trọ luôn ở đây, trong mấy túp nhà người ta dựng vội cho thuê, không có giường, chỉ mắc vơng. Dịch vụ đă kịp mở ra. Kèm theo nhà trọ là mấy cái quán lợp tranh bán bún, ḿ, cà phê, bia, nước ngọt.
Với rất nhiều hy vọng ở khả năng đặc biệt của ông Năm Chiến mà báo chí và lời đồn đại đă đưa tên tuổi lan đi khắp nước, một người anh cọc chèo với tôi, anh Nguyễn Dy, liền cất công từ Hà Nội vào, dù lúc này anh đă quá lục tuần, lại chẳng lấy ǵ làm khoẻ v́ một tai nạn giao thông.
Mấy hôm sau, bé Ly, con của tôi và Quư, đang rất bận v́ nhiệm vụ phóng viên ở báo Phụ Nữ TP HCM cũng cố thu xếp công việc để bay ra. Mọi người th́ thầm truyền tin cho nhau: Ông Năm Chiến tuần trước được đón bay vào Sài G̣n t́m được nhiều mộ liệt sĩ lắm, vừa mới về hôm kia đă lại có xe đón đi Quảng Ngăi, sáng nay sẽ về.
Mọi cặp mắt đều chăm chăm ngóng ra con đường cát, nhẫn nại chờ đợi. Cũng như anh em tôi, tất cả những người tới đây đều trĩu nặng trong ḷng nỗi day dứt suốt bao năm về một người thân, về nhiều người thân đă mất, phần lớn v́ chiến tranh, mà hài cốt c̣n nằm đâu đó, không biết chốn nào…
Theo chỉ dẫn của một người đă tới đây nhiều lần, tôi viết sẵn một tờ đơn, nội dung ghi rơ: “… Kính mong Thầy giúp cho t́m hài cốt vợ tôi là liệt sĩ Dương Thị Xuân Quư, quê quán thôn Mễ Sở, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Hưng, hy sinh đêm 8/3/1969 tại thôn 2 xă Xuyên Tân (nay là Duy Thành) tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng”.
Một chồng đơn khá dày, phải đến hàng trăm tờ, đặt trên chiếc ghế đẩu dưới cái mái tôn vẩy ra che tạm bên hông nhà dùng làm quán cà phê. Trong lúc chờ đợi, tôi nghe hóng những chuyện người ta kể với nhau về các cuộc t́m mộ hết sức ly kỳ của ông Năm Chiến.
T́nh cờ tôi gặp lại ở đây một người quen cũ, anh Lê Tấn Minh, trước kia là Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh Đoàn Quảng Nam – Đà Nẵng, sau chuyển sang phụ trách lực lượng TNXP.
Anh Minh kể với tôi, chính mắt anh đă chứng kiến ông Năm Chiến chỉ dẫn t́m thấy một bộ hài cốt dưới nền ngôi nhà trụ sở cơ quan anh đóng tại số 37 Lê Lợi - Đà Nẵng. Tôi càng thêm tin tưởng và hy vọng.
Khoảng 7h30 ông Năm Chiến về. Đây là giây phút đầu tiên tôi được nh́n thấy con người huyền thoại này. Đó là một người đàn ông khoảng trên dưới bốn mươi, dáng gầy gầy dong dỏng cao, nước da ngăm đen, gương mặt dầu dăi như tất cả những người nông dân vùng cát miền Trung vốn chịu nhiều vất vả.
Ông mặc bộ đồ âu giản dị, bên thắt lưng có đeo chiếc bóp hoặc bao kính ǵ đó, trên vai vắt chiếc khăn mặt. Ông thong thả lấy khăn lau mồ hôi, cúi chào mọi người rồi bước vào ngôi nhà ngói nhỏ ba gian, phía trái có thêm hai gian nhà ngang cũng lợp ngói. Gian giữa ngôi nhà chính là nơi đặt bàn thờ. Trên dăy bàn kê dọc trước bàn thờ bày đầy đồ cúng.
Ông Năm Chiến bước lại bộ phản trải chiếu hoa cạnh bàn thờ ngồi nghỉ, lưng dựa vào cửa sổ. Một bà cụ già khép nép đến bên ông, hai tay trịnh trọng tŕnh một tấm giấy cứng khổ lớn, nài nỉ ǵ đó. Ông Năm Chiến đọc tấm giấy, giọng khổ sở: Trời, bác đem nguyên cả bản gốc tấm bằng này đến đây làm chi, sao bác không phô-tô ra ?...
8h30, ông Năm Chiến xếp một chồng đơn lên bàn thờ rồi thắp hương khấn vái rất lâu. Khấn xong ở bàn thờ trong nhà, ông ra thắp hương ở bàn thờ ngoài trời nơi mép sân. Tiếp đó, ông trở vào ngồi trên chiếc ghế cạnh đầu bàn kê dọc trước bàn thờ trong nhà. Ông ngồi cúi đầu, hai khuỷu tay chống lên mặt bàn, trán gục vào đôi bàn tay chắp lại.
Bắt đầu giờ phút mà tôi cảm thấy là nghiêm trọng. Trong nhà ngoài sân im phăng phắc, không khí linh thiêng bao trùm. Độ hơn mười phút sau, cả người ông Năm Chiến bỗng giật mạnh, giật mạnh. Một âm thanh ǵ đó như cuộn từ dưới bụng bật lên thành tiếng “ợ”... tựa hồ ông muốn ói mửa.
Những cái giật và “ợ” theo nhau dồn dập hơn, mạnh hơn. Có cảm giác thân xác ông đang bị hành bởi một sức mạnh bí ẩn nào đó. Rồi ông loạng choạng đứng dậy, cặp mắt trợn trừng chỉ thấy ḷng trắng, miệng nhể dăi, ông chậm chạp bước từng bước ra hàng hiên, hai cánh tay đưa về phía trước, đôi bàn tay x̣e như cánh ăng-ten đang bắt một làn sóng vô h́nh.
Bằng một giọng trọ trẹ như giọng Huế hoặc Nghệ Tĩnh nhưng phát âm hơi khó nghe, chắc chắn là khác hẳn giọng Quảng Nam ông nói lúc b́nh thường, ông bắt đầu gọi tên một người trong lá đơn đầu tiên trên xấp đơn được đặt lên bàn thờ khi năy - xấp đơn lúc này vẫn nằm trong bàn thờ. Chính xác ra, không phải ông gọi tên, mà gọi họ.
- Họ…Nguyện !... Họ…Nguyện !...(họ Nguyễn)
Nhịp độ tiếng gọi chậm, nhấn từng âm một.
|