|
Chị Nguyễn Thị Một, nay là Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Quảng Nam, là người sống cùng những ngày cuối của Quư, do đi công tác trước trận càn nên thoát được, đă xác nhận “đó chính là tấm dù chị Quư đă dùng”.
***
Sau những lần t́m kiếm vô vọng từ năm 1983 đến năm 2000, cuối cùng mới có cơ duyên cho tôi gặp được đúng người cần gặp, đó là anh.
Đầu năm 2006 anh Nguyễn Trung An một lần đến nhà tôi, bảo:
- Ông Quốc à, có việc rất quan trọng tôi cần nói với ông…
Anh Nguyễn Trung An hơn tôi gần chục tuổi, trung tá cựu chiến binh, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Hội Văn nghệ Lâm Đồng, chúng tôi là đôi bạn vong niên thường qua lại nhà nhau chuyện tṛ về văn chương, thế sự. Nghe anh nói vậy với một giọng th́ thầm hơi có vẻ bí mật, tôi hồi hộp chờ đợi.
- Ông Quốc có nhớ ông Ba, bố vợ thằng Dũ không ?
- Nhớ…
- Ông Ba thế mà có khả năng đặc biệt lắm đấy, ổng đă t́m được nhiều mộ liệt sĩ bị thất lạc, nhưng rất kín tiếng không cho đưa tin. Ông Ba có ngỏ ư riêng với tôi rằng muốn giúp anh Quốc t́m chị Quư, nhờ tôi nhắn: Khi nào anh Quốc sắp xếp được thời gian về Quảng Nam th́ cho biết để ông ấy cùng đi.
- Vậy à? Hiện nay anh Ba đang ở đâu?
- Ông bà ấy đă chuyển về Sài G̣n lâu rồi, có nhà dưới ấy rồi, nhưng riêng ông Ba vẫn thuê một căn pḥng trong khu tập thể cơ quan ở Đà Lạt đây, bên phường 10, để làm trạm liên lạc t́m kiếm hài cốt liệt sĩ, bữa nào ông thong thả tôi đưa sang ổng chơi.
- Dạ, dạ… tôi c̣n bận ít ngày, để bữa nào rảnh tôi sẽ điện sang anh.
Khoảng mươi hôm sau, một buổi tối, anh An dẫn tôi tới nhà anh Ba. Tôi quen anh Ba từ ngót hai chục năm trước. Ấy là do con rể anh, nhà báo Lưu Hữu Nhi Dũ, lúc ấy vừa tốt nghiệp đại học về làm ở cơ quan tôi, Hội Văn nghệ Lâm Đồng.
Từ khi vợ chồng Dũ chuyển xuống Sài G̣n tôi ít có dịp gặp lại, và anh Ba th́ hoàn toàn không gặp nữa từ sau một lần Dũ đưa tôi sang uống rượu với anh bên khu tập thể của nhà nghỉ Công đoàn tỉnh, nơi anh đang công tác sau khi chuyển ngành từ quân đội ra.
Tối hôm đó gặp lại anh Ba tôi mới được biết tên họ đầy đủ của anh là Đặng Xuân Ba. Anh kể, anh người họ Đặng Xuân ở Nam Định, ông nội vào làm quan ở Điện Bàn thời triều Nguyễn, cha lấy vợ Quảng Ngăi, định cư ở Quảng Nam, anh tham gia bộ đội đánh Pháp tại đây rồi tập kết ra Bắc.
Năm 1965 lại đi B, thuộc một đơn vị thông tin của Bộ Tổng hoạt động trên chiến trường Tây Nguyên. Anh cũng kể, vợ anh, chị Dương Thị Tuyết Minh với Dương Thị Xuân Quư vợ tôi có thời gian cùng học phổ thông cấp 2 ở Hà Nội, vẫn nhớ và hay nhắc lần Quư lên Thái Nguyên công tác đă đến đơn vị thăm Minh khi chị đang trong quân ngũ.
Chúng tôi bàn việc đi t́m Quư.Tôi kể lại vắn tắt về các lần t́m kiếm trước đây. Tôi cũng không giấu việc các chị ruột của Quư đă đến gặp cô Phan Thị Bích Hằng để “gọi hồn”, được nghe lời Quư qua cô Hằng bảo đừng t́m nữa, từ đó tôi và gia đ́nh quyết định ngừng t́m kiếm.
Anh Ba yên lặng một lát rồi hỏi tôi về mọi chi tiết trong những giây phút cuối của Quư. Tôi kể lại tất cả những ǵ tôi đă được nghe từ Mười và Hải.
Tôi cùng anh Ba xem lại công việc của mỗi người để có thể chắt ra một quăng thời gian hợp nhau cùng về Quảng Nam. Lịch công việc của anh Ba rất sít sao, dày đặc lời hẹn với các gia đ́nh liệt sĩ trên nhiều vùng đất nước. Thế rồi sau mấy lần nữa liên lạc qua điện thoại, chúng tôi thống nhất sẽ lên đường ngày 1/8/2006.
Anh Ba đi xe của vợ chồng anh Thanh, một gia đ́nh liệt sĩ có người em vợ hy sinh ở khu vực đèo Mang Giang, tỉnh Gia Lai, và người anh ruột hy sinh ở một xă thuộc vùng tây Duy Xuyên. Cùng đi có anh Nguyễn Đ́nh Mai, đại tá cựu chiến binh, nguyên thành đội trưởng thành đội Đà Lạt.
Tôi bảo anh Ba cứ đi đèo Mang Giang trước (xuất phát lúc 4h sáng), tôi đi chuyến xe đ̣ buổi chiều về thẳng Tam Kỳ, hẹn sẽ gặp nhau dưới đó sau khi anh đă xong việc ở Mang Giang rồi cùng ra Duy Xuyên.
Tôi đổi xe lúc 7h tối ở Nha Trang, xe chạy suốt đêm và thả tôi xuống Tam Kỳ lúc 6h30 sáng ngày 2/8/2006, thuê xe ôm về trụ sở Hội Văn nghệ Quảng Nam ở nhờ.
Tôi thổ lộ với anh Nguyễn Bá Thâm - Phó Chủ tịch thường trực Hội, mục đích của chuyến về lại Đất Quảng lần này, và chuyện này tôi cũng chỉ nói riêng với Thâm, trong gia đ́nh tôi cũng chỉ nói riêng với Thục, vợ tôi, trước khi đi, ngoài ra không ai biết cả, bởi trong ḷng hầu như không c̣n hy vọng, nói ra lại khiến mọi người trông chờ phấp phỏng, điều mà tôi không muốn.
Tối 2/8, tôi gọi điện cho anh Ba. Anh báo tin: Đă t́m được hài cốt liệt sĩ ở Mang Giang, ngày mai sẽ đi theo đường Ngọc Hồi (Kontum) ra Phước Sơn rồi xuống Tam Kỳ.
Chúng tôi hẹn sẽ gặp nhau ở Tam Kỳ vào ngày mai. Sáng 3/8, tôi thầm tính: Anh Ba đi từ Mang Giang ṿng ra Phước Sơn, chắc cũng phải trưa hoặc đầu buổi chiều mới tới Tam Kỳ.
Tính vậy, bèn mượn Nguyễn Bá Thâm chiếc xe máy phóng ra Duy Thành (Duy Xuyên) để thắp hương khấn Quư và nói chuyện trước với vợ chồng Vơ Bắc, nhờ Bắc giúp thuê sẵn người chuẩn bị hôm sau (4/8) sẽ đào t́m. Tôi dự liệu việc đào t́m cũng phải vài ba ngày. Tính vậy nên đi người không, trưa sẽ trở lại có mặt ở Tam Kỳ để đón anh Ba.
Nhưng sự việc diễn tiến vượt ngoài mọi dự liệu. Khoảng mười giờ kém, tôi nhận được điện thoại của anh Ba. Anh hỏi: Anh đang ở đâu? Tôi đang trên đường ra Duy Xuyên. Anh đang ở đâu? Chúng tôi đang đi trên đường số 1, đă gần tới Thăng B́nh.
Lúc ấy tôi đang dừng xe cách thị trấn Hà Lam huyện lỵ huyện Thăng B́nh khoảng hơn 1km, bèn dặn ngay anh Ba: Vậy tôi chờ các anh ở bưu điện Thăng B́nh ngay bên đường số 1 chỗ góc ngă tư Hà Lam rồi ta cùng ra Duy Xuyên.
Mười lăm phút sau chúng tôi gặp nhau, tôi chỉ đường cho người lái xe rồi hướng dẫn ra Duy Xuyên, xuống thẳng Duy Thành. Xe đậu ngoài đường cái, gia đ́nh anh Thanh cùng anh Mai ngồi lại trên xe, tôi chở anh Ba bằng xe máy vào thôn Thi Thại. Lúc ấy khoảng 10h30.
Anh Ba đứng trước bia tưởng niệm Quư, đọc văn bia, nh́n quanh bốn phía xem xét địa h́nh, hỏi lại tôi một lần nữa các chi tiết diễn biến trước giây phút cuối của Quư trong đêm 8/3/1969, bảo tôi chỉ trên thực địa vị trí t́m thấy tấm dù, vị trí bờ tre và giao thông hào xưa kia như thế nào.
Anh cũng hỏi Vơ Bắc về địa h́nh mà Bắc thấy từ khi về ở trên khuôn viên này. Yên lặng một lát, anh Ba bảo: Tôi nghĩ là ở hướng này ! Anh khoát tay chỉ về hướng tây bắc, tính từ vị trí đứng quay mặt vào bia tưởng niệm (bia dựng quay về hướng bắc).
Rồi anh đi về hướng anh vừa chỉ đó, qua cạnh giếng xây, gần bên cây rơm và chuồng ḅ, qua bụi chuối xuống vườn bắp, ṿng qua ṿng lại một chặp, trở về trước sân, bảo: Chiều, hai giờ ḿnh làm.
Tôi dặn Bắc thuê giúp người đào, anh Ba bảo: Không cần nhiều đâu, hai người thôi. Bắc nói: Vậy đă có cháu đây, kêu thêm một người nữa thôi. Anh Ba dặn mua ít trái cây, tôi nói Hảo vợ Bắc mua giùm luôn.
Tôi đèo anh Ba trở ra đường cái chỗ xe đậu rồi cùng vợ chồng anh Thanh và cựu đại tá Mai lên một quán cơm trên đường số 1 ăn trưa. Ăn xong mới hơn 12 giờ.
Thấy c̣n sớm, vợ chồng anh Thanh cũng nóng ḷng muốn lên phía tây Duy Xuyên, nơi anh có người anh ruột hy sinh tháng 11/1967, trong giấy báo tử ghi là xă Xuyên Mỹ. Tôi hỏi anh chủ quán cơm: Xuyên Mỹ ngày xưa giờ gọi là Duy ǵ, th́ được cho biết là Duy An.
Trao đổi ư kiến một lát, vợ chồng anh Thanh nhất trí buổi chiều nay anh Ba tập trung t́m kiếm ở Thi Thại, và anh Ba quyết định vào việc sớm, không đợi đến 2 giờ. Chúng tôi trở lại Thi Thại lúc 12h30. Anh Ba đặt đĩa trái cây trước bia tưởng niệm, bảo tôi thắp hương khấn. Thắp xong ba nén hương, tôi khấn:
“Quư ơi, hôm nay có anh Đặng Xuân Ba cùng về đây giúp anh cố t́m em một lần nữa, em linh thiêng hăy cho anh lần này được thấy em, nếu em cho thấy, th́ xin cho âm dương”.
Anh Ba hướng dẫn tôi cách cầm và gieo hai đồng tiền cổ trên chiếc đĩa sắt tráng men.Tôi gieo hai lần đều không được âm dương. Bỗng thấy một bàn tay đặt nhẹ trên vai trái, tôi ngoảnh sang, th́ ra anh Mai, anh ghé tai tôi bảo nhỏ: Ông qú xuống đă rồi hăy xin. Tôi qú xuống. Bao lâu nay khi cúng giỗ trong nhà hay mỗi lần về đây thắp hương tưởng niệm Quư, tôi chỉ đứng vái rồi cúi xuống cắm hương. Đây là lần đầu tiên tôi qú. Tôi gieo lần thứ ba. Hai đồng tiền hiện ra âm dương.
Anh Ba dẫn tôi đi lên hướng tây bắc cách bia tưởng niệm khoảng 25m, cạnh một bụi chuối chỗ góc vườn bắp, bảo tôi thắp hương và gieo xin âm dương. Tôi gieo và được ngay âm dương.
Anh Ba bảo tôi cắm hương chỗ đó, và anh lấy một que tre cắm làm mốc cách ba nén hương độ hơn gang tay. Xem đồng hồ, anh bảo: Bây giờ 1 giờ kém mười lăm, để 1 giờ ḿnh đào. Chúng tôi vào nhà uống nước tṛ chuyện một lát đến 1 giờ th́ trở ra vị trí ấy.
|