| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Với những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại, đạo đức không phải những quy tắc có giá trị lâu dài, mà là cảm hứng sáng tạo. Họ không quan tâm đến việc cảm hứng sáng tạo đó sẽ đưa ḿnh tới đâu, mà quan trọng hơn là thoát khỏi dư luận. Đối với họ, đạo đức không phải là cái đă có sẵn một hệ toạ độ được xác định trước bởi bổn phận hay lương tâm, trong những cảnh huống cụ thể, luôn đ̣i hỏi con người phải hành động như thế nào. Từ bỏ con đường đă vạch sẵn, những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại đặt ḿnh trước những khả năng mở, chưa từng xuất hiện trong cuộc đời họ và khi đó, với họ, trách nhiệm trở nên nặng nề hơn bao giờ hết. Trong sự chọn lựa ấy, mỗi cá nhân đều phái tuân thủ các khái niệm về sụ không tương dung, sự gián đoạn của quá tŕnh tiến hoá và về tính đa dạng, tính cục bộ, tính khả thể, tính phân đoạn, tính ngẫu nhiên, tính bất định, tính nội tại, tính cao thượng, tính toàn vẹn của những bộ phận riêng lẻ. Về thực chất, đạo đức học hậu hiện đại chính là đạo đức trong hoàn cảnh đầy ắp tri thức của xă hội hiện đại. Song, liệu sự hiểu biết có làm cho con người sống thiện hơn không? Tranh luận về vấn đề này, Lyotard cho rằng, một mặt, tri thức khoa học không phải là toàn bộ tri thức, bản thân nó luôn xung đột với "tri thức tự sự"; mặt khác, tri thức ngày càng phải hứng chịu sụ tha hóa trong quan hệ với người biết tri thức này. Do vậy, vấn đề hợp thức hóa phải được coi là một tiến tŕnh để qua đó các nhà lập pháp có thể ban bố điều luật này như một quy phạm, c̣n mọi phát ngôn khoa học th́ đều phải tuân theo nguyên tắc là thỏa măn một tập hợp các điều kiện để sao cho có thể được coi như một phát ngôn khoa học và người diễn ngôn có thể đưa ra các điều kiện đó. Với quan điểm này, chủ nghĩa hậu hiện đại đă phê phán các "đại tự sự" của chủ nghĩa hiện đại và coi đó chỉ là những câu chuyện mang tính chất thần thoại của một nền văn hóa tự kể về niềm tin và hành động thực tiễn của ḿnh và do vậy, dễ bị lạm dụng để che đậy những sự đối lập và bất ổn đối với mọi liên kết xă hội cũng như trong thực tiễn hành động. Bối cảnh văn hóa mới h́nh thành buộc con người phải chấp nhận những thách thức của nền công nghiệp tư bản, của phương tiện thông tin đại chúng và cũng sẽ buộc phải tham gia vào quá tŕnh sáng tạo ra những thực tại mới. Bởi lẽ, các "cơ chế siêu tự sự" đă trở nên già cỗi trong việc hợp thức hóa và do vậy, các "đại tự sự" buộc phải tan ra thành các mảng yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự trong khi vẫn c̣n mang trong ḿnh tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả và mỗi thứ này đều chở theo ḿnh những “tri số dụng hành" đặc thù. Nhân loại chúng ta đang sống ở ngă tư đường, nơi giao nhau của nhiều yếu tố đó, do vậy, chúng ta không nhất thiết phải tạo nên những kết hợp ngôn ngữ có sự ổn định về thuộc tính và những kết hợp ngôn ngữ mà chúng ta tạo nên cũng không nhất thiết phải có sự tương thông với nhau. Trong bối cảnh đó, mỗi cá nhân đều có thể tham gia vào rất nhiều tṛ chơi, nhiều lần chơi trong cuộc đời ḿnh. C̣n tâm thức hậu hiện đại th́ được h́nh thành như một nỗ lực mới nhằm thúc tỉnh con người trước những nguy cơ có thể xảy ra để tiếp tục suy tưởng và kiến tạo những h́nh thức mới, phù hợp hơn nhằm bảo vệ những giá trị đích thực của thời hiện đại: tự do và khai phóng cá nhân. Với quan điểm này, Lyotard đă nhiều lần nhấn mạnh rằng, hậu hiện đại không phải là một thời kỳ mới, mà là thời kỳ "viết lại" một số đặc điểm của thời hiện đại, nhất là tham vọng của nó trong việc đặt cơ sở hợp thức hóa phương thức giải phóng toàn bộ nhân loại bằng khoa học và kỹ thuật. Một số triết gia theo chủ nghĩa hậu hiện đại đă cố gắng đưa ra những giải pháp cho đạo đức học hậu hiện đại. Trong số này, có thể kể đến Zygmunt Bauman với tác phẩm Đạo đức học hậu hiện đại (Postmodern Ethics, Backwell, Oxford 1993). Trong tác phẩm này, Bauman đă phản đối việc đặt đạo đức học trên nền tảng của mọi luật lệ, bởi theo ông, nó sẽ dẫn đến việc giới hạn trách nhiệm đạo đức, khi các luật lệ này trở thành cái mách bảo con người phải làm những ǵ và làm khi nào, bắt đầu từ đâu và khi nào kết thúc, thậm chí chúng c̣n cho phép con người có thể dừng lại mỗi khi mà mọi thứ phải thực hiện đă được thục hiện (4). Đối với ông, con đường đạo đức là phi lư; tác nhân đạo đức là cái không thể bị kiểm soát hay bị ép buộc trong đời sống đạo đức; đạo đức là cái ǵ đó thầm kín, không thể giải thích được và nhất là không bao giờ biến thành những luật định phổ quát. Với quan điểm này, khi tŕnh bày cơ sở đạo đức học của ḿnh, Bauman đă tiến gần với triết gia người Pháp - Levinas, người tŕnh bày quan điểm đạo đức sống v́ người khác. Ông cho rằng, sống v́ người khác làm cho trách nhiệm trở nên vô hạn, v́ người khác không phải là đối tượng có giới hạn được dành cho mục đích của một ai đó, mà là một chủ thể vô hạn, tự do, vô điều kiện. Trách nhiệm này vượt qua những ǵ người đó đă có thể hoặc không thể làm cho người khác. Nó cũng vượt qua bất cứ hành vi nào mà người đó có thể hoặc không thể phạm phải, giống như thể người đó đă hy sinh v́ người khác trước khi hy sinh v́ bản thân ḿnh. Điều này cho thấy Bauman không thừa nhận bất kỳ luận cứ chặt chẽ, khoa học nào cho con đường thực hiện đạo đức. Với ông, đó dường như là một điều phi lư mà ở đó, chúng ta phải thực hiện những cam kết đạo đức nghiêm ngặt nhất của ḿnh. Đạo đức học hậu hiện đại không đặt ra vấn đề nguồn gốc xuất thân, giới tính, tuổi tác,…Với nó không c̣n các đại tự sự, thay vào đó là các tiểu tự sự mà chủ nhân của chúng là những cá nhân nhỏ bé, yếu đuối nhưng không đơn độc. Những chủ nhân này luôn được đặt trong một mạng lưới các quan hệ phức tạp hơn và năng động hơn bao giờ hết, bởi "dù trẻ hay già, giàu hay nghèo, đàn ông hay đàn bà, con người đều bị đặt vào điểm nút của mạch truyền thông". Sự công bằng luôn tồn tại ở mọi điểm nút của quá tŕnh truyền thông mà trong đó, tính đa dạng không chỉ được phép tồn tại, mà c̣n được bảo vệ, được cổ suư để rồi liên tục phá vỡ sụ đồng thuận tạm thời. Việc phá hủy này sẽ tạo ra những thực tại mới, với điều kiện là những thực tại ấy không được phép quy về thế giới các vật thể và tiền bạc. Điều này cho thấy đạo đúc học hậu hiện đại không rũ bỏ hoàn toàn những vấn đề của chủ nghĩa hiện đại. Nó cũng phê phán thứ đạo đức của chủ nghĩa sùng bái hàng hoá - tiền tệ, phê phán quan niệm coi "đồng tiền là kẻ thống trị thế giới". Những vấn đề đạo đức nảy sinh do sự tha hoá của con người trong xă hội hiện đại, cùng với những tín điều đạo đức truyền thống cũng đă được chủ nghĩa hậu hiện đại xem xét. Mục đích tối cao mà đạo đức học hậu hiện đại đặt ra là xây dựng cơ sở nền tảng cho một nền đạo đức học mới, nền đạo đức học có thể đáp ứng được những thách thức của thời đại, bổ sung vào đời sống con người những khát vọng và lư tưởng đặc thù - cái Cao thượng mà nhân loại cần hướng tới. Chú thích: (1) Tác phẩm này đă được Nhà xuất bản Tri thức dịch ra tiếng Việt, năm 2007 (người dịch: Ngân Xuyên, người hiệu đính và giới thiệu: Bùi Văn Nam Sơn) (2) Xem: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn. Đại cương lịch sử triết học phương Tây. Nxb Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh. (3) K.Jaspers. Mục đích và sứ mệnh của lịch sử. N.Y., 1990, tr.100. (4) Xem: Zygmunt Bauman. Đạo đức học hậu hiện đại. Backwell, Oxford, 1993, tr.13. |