Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Lư > Tủ sách tâm Lư và giáo dục

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 01-25-2010, 02:17 PM
HuyVu's Avatar
HuyVu HuyVu is offline
Member
 
Join Date: Aug 2008
Posts: 51
Về quan điểm đạo đức học của Chủ nghĩa hiện đại

Về quan điểm đạo đức học của Chủ nghĩa hiện đại
Nguyễn Hồng Thúy, Thạc sĩ triết học, Đại học Duy Tân, Đà Nẵng

Để làm rơ quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa hậu hiện đại, trước hết tác giả đă nói về sự xuất hiện của các thuật ngữ "hậu hiện đại” và "chủ nghĩa hậu hiện đại”. Tiếp đó khi luận giải quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa hậu hiện đại qua các đại diện tiêu biểu của nó, tác gỉa đă cho thấy, với những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại, đạo đức không phải là những quy tắc có giá trị lâu dài mà là cảm hứng sáng tạo. Với họ, đạo đức không phải là một cái đă có hệ toạ độ được xác định trước bởi bổn phận hay lương tâm, mà là hành động cụ thể, là phương thức hành động trong đời sống xă hội, là đạo đức học trong hoàn cảnh đầy ắp tri thức, có khả năng đáp ứng được những khách thức của thời đại và đưa cái Cao thượng vào đời sống con người.

Trong vài năm gần đây, các thuật ngữ “hậu hiện đại” (postmodern) và "chủ nghĩa hậu hiện đại" (postmodernisme) đă được nhắc đến nhiều trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Nhưng để hiểu rơ nội dung sâu xa, thực chất của chủ nghĩa hậu hiện đại chúng ta không thể dừng lại ở đó, mà thực sự cần phải tiếp nhận nó như một trào lưu triết học phương Tây hiện đại. Với tư cách này, chủ nghĩa hậu hiện đại đă góp phần hoàn thành một trong những nhiệm vụ cơ bản của triết học nói chung là h́nh thành văn hóa triết học cá nhân hay nhân cách độc đáo. Cách đặt vấn đề như vậy cho phép chúng ta có được cái nh́n từ góc độ đạo đức học về chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập một vài cách tiếp cận với quan điểm đạo đức học theo chủ nghĩa hậu hiện đại.

Trước hết, “chủ nghĩa hậu hiện đại" nên được xem như một phong trào văn hóa - triết học. Thuật ngữ "hậu hiện đại" lần đầu tiên được ai đưa ra và đưa ra để làm ǵ - vấn đề này đă gây nhiều tranh căi trong giới học thuật trên thế giới, nhưng điều rất rơ ràng là, từ năm 1979, khi tác phẩm Hoàn cảnh hậu hiện đại(1) của nhà triết học Pháp - Jean Francois Lyotard (1924 - 1998) ra đời th́ “hậu hiện đại” bắt đầu trở thành một thuật ngữ thời thượng trong giới nghiên cứu khoa học xă hội. Lyotard soạn tác phẩm này như một báo cáo thẩm định theo đơn đặt hàng của Hội đồng khoa học thuộc đại học Quesbec (Canada) về việc hoạch định một chính sách lâu dài cho đại học và khoa học ở các nước phát triển trong bối cảnh chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiện đại. Tác phẩm nhanh chóng mở ra cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài xung quanh hệ vấn đề thế nào là hậu hiện đại. Khái niệm "hậu hiện đại" nh́n chung được sử dụng để nhấn mạnh xu hướng chuyển tiếp của nhân loại sang một thời đại mới. Thời hậu hiện đại được đặc trưng bởi sự gia tăng tính đa dạng văn hóa và sự chối bỏ tư duy toàn thể hóa, thuần nhất. Nói cách khác, văn hóa hậu hiện đại đang ở trong bối cảnh cần xem xét lại sự khủng hoảng của các đại tự sự (grand - narrative) cùng với các quy tắc tṛ chơi. Nói một cách thật đơn giản, "hậu hiện đại" là sự hoài nghi đối với các đại tự sự. Đó cũng là sự hoài nghi về tính đồng nhất giữa tiến bộ văn hoá và tri thức với tiến bộ kinh tế và về sự nhất thể hoá đạo đức, kinh tế với chính trị. Chủ nghĩa hậu hiện đại xuất phát từ sự không có khả năng về nguyên tắc trong việc nhận thức đời sống xă hội, con người và thế giới của nó như một tổng thể các hệ thống kinh tế, chính trị, xă hội, văn hoá khép kín. Xă hội tương lai sẽ ít phụ thuộc vào một nhân loại học kiểu như thuyết cấu trúc hay hệ thống, mà phụ thuộc nhiều hơn vào một thực liệu học (pragmaticque) của "các nguyên tử ngôn ngữ". Trong tương lai sẽ có nhiều tṛ chơi ngôn ngữ khác nhau và đó chính là tính không thuần nhất của các yếu tố, khi chúng chỉ được định h́nh bằng những mảnh ghép và chỉ có thể tồn tại như những quyết định luận cục bộ. Phương thức nhận thức mà chủ nghĩa hậu hiện đại chối bỏ đưa ra là sự nhận thức như quá tŕnh phản ánh cái phổ biến nhưng lại đ̣i hỏi phải nhận thấy sự tự trị cá nhân trong mỗi sự kiện, hiện tượng.
Trong điều kiện hậu hiện đại, cái có ư nghĩa chủ đạo là nhận thúc các tṛ chơi ngôn ngữ tự nó và quyết định gánh vác trách nhiệm đối với các quy tắc và kết quả của chúng, trong đó kết quả quan trọng nhất là việc áp dụng các quy tắc của tṛ chơi ngôn ngữ. Đó là nội dung cơ bản của đạo đức học hậu hiện đại.

Bất kỳ đạo đức học nào của triết học phương Tây hiện đại cũng quay trở lại với quan điểm đạo đức học của I.Kant như một trong những bộ phận cấu thành có giá trị nhất trong toàn bộ tư tưởng của ông. Bản thân I.Kant cũng luôn tin tưởng đạo đức học có thể được xây dựng như một khoa học chính xác. Các chân lư đạo đức học cần phải được luận chứng một cách độc lập và không phụ thuộc vào chân lư của niềm tin. Và, khác với niềm tin tôn giáo, thứ niềm tin có thể tồn tại trong tính đa dạng, đạo đức học một khi có kỳ vọng trở thành khoa học về các chân lư đạo đức trong hiện thực cần phải mang tính phổ biến, mang giá trị chung cho toàn nhân loại Nhưng ở đây, giá trị chung cho toàn nhân loại mà đạo đức học mang lại phải đồng thời đảm bảo được "sự tự trị của cá nhân" nhờ dựa trên khả năng duy tŕ sự thống nhất của cái Tôi riêng có của một thực thể lư tính; nói cách khác, cá nhân có thể duy tŕ định hướng ư chí của ḿnh khi tuân thủ mệnh lệnh tuyệt đối: chỉ hành động theo quy tắc mà khi tuân thủ nó, chúng ta có thể khiến nó trở thành quy tắc chung (2). Rơ ràng, ở đây, tự do đă bắt đầu được trao cho vị thế của cái có khả năng trở thành hiện thực trong lĩnh vực đạo đức học. Đến chủ nghĩa hiện sinh - một trào lưu triết học về đời sống nội tâm của cá nhân và nhân cách độc đáo, tự do đă được coi là tính thứ nhất của hiện sinh lực và hơn nữa, c̣n xác định thái độ đối với nguyên tắc này là trách nhiệm - trách nhiệm đối với tự do. Chẳng hạn như K.Jaspers đă viết: "Tự do là tài sản quư giá nhất; tự do không bao giờ tự đơn và cũng không tự động mất đi. Con người chỉ có thể giữ ǵn tự do ở nơi mà nó được ư thức và con người cảm thấy có trách nhiệm đối với nó" (3). Trách nhiệm ở đây không phải là bổn phận trước một lực lượng xa lạ, Chúa, nhà cầm quyền và thậm chí, cả các chuẩn đạo đức xa lạ. Đơn giản, con người chịu trách nhiệm về bản thân ḿnh, trách nhiệm đối với tự do như là cơ cấu của tồn tại người. Như vậy, cho tới triết thuyết gần với chủ nghĩa hậu hiện đại về mặt lịch đại là chủ nghĩa hiện sinh th́ đạo đức học của văn hoá phương Tây hiện đại là đạo đức học cá nhân. Cho tới thời điểm này, các giá trị phổ biến, đạo đức học đám đông, dư luận, truyền thống dường như đă không c̣n có thể chấp nhận được trong xă hội phương Tây.

Trở lại với đạo đức học hậu hiện đại chủ nghĩa, trách nhiệm không phải trước tiên gắn với tự do, mà gắn với các quy tắc của tṛ chơi ngôn ngữ. Việc đặt con người vào các tṛ chơi ngôn ngữ đă làm sáng tỏ bối cảnh văn hoá của chủ nghĩa hậu hiện đại. Khoa học và công nghệ thông tin, truyền thông đă phát triển và thâm nhập vào đời sống con người mạnh mẽ tới nỗi, tồn tại cùng với thông tin, tri thức đă trở thành điểm chính yếu của con người hiện đại. Khi đă ư thức được sự tồn tại của ḿnh nằm trong các tṛ chơi ngôn ngữ, cá nhân phải nắm rơ trách nhiệm của ḿnh trong việc kiểm soát, tuân thủ và sáng tạo các quy tắc tṛ chơi. Cần lưu ư rằng, các tṛ chơi ngôn ngữ không những có quy tắc trong bản thân chúng, mà c̣n có luật giữa những người chơi. Và, hệ chuẩn đa nguyên của văn hóa hậu hiện đại cho phép chúng ta nói rằng, cùng một tṛ chơi nhưng ở những địa phương khác nhau, nhóm người khác nhau sẽ tạo ra những "nước đi" khác nhau. Lyotard cũng hướng đến tính chất cạnh tranh, tranh đua của tṛ chơi, đến mục đích thắng của người chơi, mặc dù ông coi nó không phải là cứu cánh, mà chỉ như một mục đích tự thân của tṛ chơi. Đây cũng là một trong những tư tưởng đạo đức học hậu hiện đại - sự thầm kín trong các tṛ chơi cùng với tính cao thượng của nó. Trong tṛ chơi ngôn ngữ, nguyên tắc ứng xử công bằng là cái rất được coi trọng và về nguyên tắc, xă hội cần phải tôn trọng những tṛ chơi khác nhau và không được quy giảm chúng vào nhau. Với chủ nghĩa hậu hiện đại, sự đồng thuận là một giá trị rất đáng ngờ, bởi ngôn ngữ là dị biệt và cũng do vậy, không thể có được sự đồng thuận về đạo đức một cách phổ quát.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 01-25-2010, 02:17 PM
HuyVu's Avatar
HuyVu HuyVu is offline
Member
 
Join Date: Aug 2008
Posts: 51
Với những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại, đạo đức không phải những quy tắc có giá trị lâu dài, mà là cảm hứng sáng tạo. Họ không quan tâm đến việc cảm hứng sáng tạo đó sẽ đưa ḿnh tới đâu, mà quan trọng hơn là thoát khỏi dư luận. Đối với họ, đạo đức không phải là cái đă có sẵn một hệ toạ độ được xác định trước bởi bổn phận hay lương tâm, trong những cảnh huống cụ thể, luôn đ̣i hỏi con người phải hành động như thế nào. Từ bỏ con đường đă vạch sẵn, những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại đặt ḿnh trước những khả năng mở, chưa từng xuất hiện trong cuộc đời họ và khi đó, với họ, trách nhiệm trở nên nặng nề hơn bao giờ hết. Trong sự chọn lựa ấy, mỗi cá nhân đều phái tuân thủ các khái niệm về sụ không tương dung, sự gián đoạn của quá tŕnh tiến hoá và về tính đa dạng, tính cục bộ, tính khả thể, tính phân đoạn, tính ngẫu nhiên, tính bất định, tính nội tại, tính cao thượng, tính toàn vẹn của những bộ phận riêng lẻ.

Về thực chất, đạo đức học hậu hiện đại chính là đạo đức trong hoàn cảnh đầy ắp tri thức của xă hội hiện đại. Song, liệu sự hiểu biết có làm cho con người sống thiện hơn không? Tranh luận về vấn đề này, Lyotard cho rằng, một mặt, tri thức khoa học không phải là toàn bộ tri thức, bản thân nó luôn xung đột với "tri thức tự sự"; mặt khác, tri thức ngày càng phải hứng chịu sụ tha hóa trong quan hệ với người biết tri thức này. Do vậy, vấn đề hợp thức hóa phải được coi là một tiến tŕnh để qua đó các nhà lập pháp có thể ban bố điều luật này như một quy phạm, c̣n mọi phát ngôn khoa học th́ đều phải tuân theo nguyên tắc là thỏa măn một tập hợp các điều kiện để sao cho có thể được coi như một phát ngôn khoa học và người diễn ngôn có thể đưa ra các điều kiện đó. Với quan điểm này, chủ nghĩa hậu hiện đại đă phê phán các "đại tự sự" của chủ nghĩa hiện đại và coi đó chỉ là những câu chuyện mang tính chất thần thoại của một nền văn hóa tự kể về niềm tin và hành động thực tiễn của ḿnh và do vậy, dễ bị lạm dụng để che đậy những sự đối lập và bất ổn đối với mọi liên kết xă hội cũng như trong thực tiễn hành động. Bối cảnh văn hóa mới h́nh thành buộc con người phải chấp nhận những thách thức của nền công nghiệp tư bản, của phương tiện thông tin đại chúng và cũng sẽ buộc phải tham gia vào quá tŕnh sáng tạo ra những thực tại mới. Bởi lẽ, các "cơ chế siêu tự sự" đă trở nên già cỗi trong việc hợp thức hóa và do vậy, các "đại tự sự" buộc phải tan ra thành các mảng yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự trong khi vẫn c̣n mang trong ḿnh tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả và mỗi thứ này đều chở theo ḿnh những “tri số dụng hành" đặc thù.

Nhân loại chúng ta đang sống ở ngă tư đường, nơi giao nhau của nhiều yếu tố đó, do vậy, chúng ta không nhất thiết phải tạo nên những kết hợp ngôn ngữ có sự ổn định về thuộc tính và những kết hợp ngôn ngữ mà chúng ta tạo nên cũng không nhất thiết phải có sự tương thông với nhau. Trong bối cảnh đó, mỗi cá nhân đều có thể tham gia vào rất nhiều tṛ chơi, nhiều lần chơi trong cuộc đời ḿnh. C̣n tâm thức hậu hiện đại th́ được h́nh thành như một nỗ lực mới nhằm thúc tỉnh con người trước những nguy cơ có thể xảy ra để tiếp tục suy tưởng và kiến tạo những h́nh thức mới, phù hợp hơn nhằm bảo vệ những giá trị đích thực của thời hiện đại: tự do và khai phóng cá nhân. Với quan điểm này, Lyotard đă nhiều lần nhấn mạnh rằng, hậu hiện đại không phải là một thời kỳ mới, mà là thời kỳ "viết lại" một số đặc điểm của thời hiện đại, nhất là tham vọng của nó trong việc đặt cơ sở hợp thức hóa phương thức giải phóng toàn bộ nhân loại bằng khoa học và kỹ thuật.

Một số triết gia theo chủ nghĩa hậu hiện đại đă cố gắng đưa ra những giải pháp cho đạo đức học hậu hiện đại. Trong số này, có thể kể đến Zygmunt Bauman với tác phẩm Đạo đức học hậu hiện đại (Postmodern Ethics, Backwell, Oxford 1993). Trong tác phẩm này, Bauman đă phản đối việc đặt đạo đức học trên nền tảng của mọi luật lệ, bởi theo ông, nó sẽ dẫn đến việc giới hạn trách nhiệm đạo đức, khi các luật lệ này trở thành cái mách bảo con người phải làm những ǵ và làm khi nào, bắt đầu từ đâu và khi nào kết thúc, thậm chí chúng c̣n cho phép con người có thể dừng lại mỗi khi mà mọi thứ phải thực hiện đă được thục hiện (4). Đối với ông, con đường đạo đức là phi lư; tác nhân đạo đức là cái không thể bị kiểm soát hay bị ép buộc trong đời sống đạo đức; đạo đức là cái ǵ đó thầm kín, không thể giải thích được và nhất là không bao giờ biến thành những luật định phổ quát. Với quan điểm này, khi tŕnh bày cơ sở đạo đức học của ḿnh, Bauman đă tiến gần với triết gia người Pháp - Levinas, người tŕnh bày quan điểm đạo đức sống v́ người khác. Ông cho rằng, sống v́ người khác làm cho trách nhiệm trở nên vô hạn, v́ người khác không phải là đối tượng có giới hạn được dành cho mục đích của một ai đó, mà là một chủ thể vô hạn, tự do, vô điều kiện. Trách nhiệm này vượt qua những ǵ người đó đă có thể hoặc không thể làm cho người khác. Nó cũng vượt qua bất cứ hành vi nào mà người đó có thể hoặc không thể phạm phải, giống như thể người đó đă hy sinh v́ người khác trước khi hy sinh v́ bản thân ḿnh. Điều này cho thấy Bauman không thừa nhận bất kỳ luận cứ chặt chẽ, khoa học nào cho con đường thực hiện đạo đức. Với ông, đó dường như là một điều phi lư mà ở đó, chúng ta phải thực hiện những cam kết đạo đức nghiêm ngặt nhất của ḿnh.

Đạo đức học hậu hiện đại không đặt ra vấn đề nguồn gốc xuất thân, giới tính, tuổi tác,…Với nó không c̣n các đại tự sự, thay vào đó là các tiểu tự sự mà chủ nhân của chúng là những cá nhân nhỏ bé, yếu đuối nhưng không đơn độc. Những chủ nhân này luôn được đặt trong một mạng lưới các quan hệ phức tạp hơn và năng động hơn bao giờ hết, bởi "dù trẻ hay già, giàu hay nghèo, đàn ông hay đàn bà, con người đều bị đặt vào điểm nút của mạch truyền thông". Sự công bằng luôn tồn tại ở mọi điểm nút của quá tŕnh truyền thông mà trong đó, tính đa dạng không chỉ được phép tồn tại, mà c̣n được bảo vệ, được cổ suư để rồi liên tục phá vỡ sụ đồng thuận tạm thời. Việc phá hủy này sẽ tạo ra những thực tại mới, với điều kiện là những thực tại ấy không được phép quy về thế giới các vật thể và tiền bạc. Điều này cho thấy đạo đúc học hậu hiện đại không rũ bỏ hoàn toàn những vấn đề của chủ nghĩa hiện đại. Nó cũng phê phán thứ đạo đức của chủ nghĩa sùng bái hàng hoá - tiền tệ, phê phán quan niệm coi "đồng tiền là kẻ thống trị thế giới". Những vấn đề đạo đức nảy sinh do sự tha hoá của con người trong xă hội hiện đại, cùng với những tín điều đạo đức truyền thống cũng đă được chủ nghĩa hậu hiện đại xem xét. Mục đích tối cao mà đạo đức học hậu hiện đại đặt ra là xây dựng cơ sở nền tảng cho một nền đạo đức học mới, nền đạo đức học có thể đáp ứng được những thách thức của thời đại, bổ sung vào đời sống con người những khát vọng và lư tưởng đặc thù - cái Cao thượng mà nhân loại cần hướng tới.

Chú thích:
(1) Tác phẩm này đă được Nhà xuất bản Tri thức dịch ra tiếng Việt, năm 2007 (người dịch: Ngân Xuyên, người hiệu đính và giới thiệu: Bùi Văn Nam Sơn)
(2) Xem: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn. Đại cương lịch sử triết học phương Tây. Nxb Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh.
(3) K.Jaspers. Mục đích và sứ mệnh của lịch sử. N.Y., 1990, tr.100.
(4) Xem: Zygmunt Bauman. Đạo đức học hậu hiện đại. Backwell, Oxford, 1993, tr.13.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 08:14 PM.

A vBSkinworks Design