| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Bây giờ đến lượt Việt Nam. Hẳn nhiên cộng đồng phật tử Việt Nam tại Mỹ thành h́nh và tăng trưởng qua các đợt di tản từ Việt Nam sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, nhưng sách báo Mỹ đều ghi nhận hai vị tiên phong của Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ là quư thầy Thích Thiên Ân và Thích Nhất Hạnh. Thầy Thích Thiên Ân đến Mỹ năm 1966 với tư cách giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học UCLA ở Los Angeles. Sinh viên ở đây cảm phục thầy nên thỉnh cầu thầy mở rộng phạm vi giảng dạy, đặc biệt là Thiền. Thầy sáng lập và làm viện chủ Thiện Viện Quốc Tế năm 1970 rời Viện Đại Học Đông Phương năm 1973. Năm 1975 thầy sáng lập Chùa Việt Nam ở Los Angeles và có cơ duyên giúp số đông Phật tử di tản định cư ở Nam California.Mấy năm kế tiếp thầy sáng lập và tham gia thành lập một số cơ sở và hội đoàn khác, quan trọng nhất là cùng thầy Thích Măn Giác mời các hội phật giáo Việt Nam thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 1978. Người Mỹ cũng xem thầy là một nhà văn khéo kết hợp Đông Tây và đă hướng dẫn một số trí thức Mỹ thành các nhân vật chính yếu của Trung Tâm Phật Giáo Hoa Kỳ. Thầy viên tịch năm 1980 và vị kế nhiệm là Thầy Thích Măn Giác, Hiện hàng năm các hàng giáo phẩm và phật tử đều cử hành lễ tưởng niệm để ghi nhớ công quả của thầy trong việc phát huy Phật giáo ở Mỹ. Thầy Thích Nhất Hạnh đến Mỹ năm 1961 để nghiên cứu tôn giáo tại Đại học Princeton và thuyết giảng phật giáo tại đại học Columbia, thầy trở về Việt Nam năm 1964 rồi sau định cư ở Pháp và chỉ viếng thăm chứ chưa bao giờ thường trú ở Mỹ. Người Mỹ bắt đầu quư mến thầy từ giữa thập niên 1960 qua cuốn "Lotus in the Sea of Fire" (Đóa sen trong biển lửa) phản ảnh quan niệm của Phật giáo về chiến tranh và thể hiện ư nguyện của thầy về một giải pháp ḥa b́nh cho chiến cuộc Việt Nam bấy giờ. Những năm tiếp đó, người Mỹ lại đọc thêm hàng chục văn thi phẩm của thầy về phật giáo, hầu hết bằng anh ngữ, chỉ một ít nguyên tác Việt ngữ được chuyển dịch như "Đường Xưa Mây Trắng" (Old path white clouds, dịch giả từ nữ văn sĩ và đông y sĩ Mobil Ho) và "Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy" (Teachings on , dịch giả là Mobil Warren và Annabel Laity). Các sách nguyên tác anh ngữ tiêu biểu của thầy là Peace is Every Step về tỉnh thức trong cuộc sống thường nhật, in Action về cải thiện xă hội bằng t́nh thương và Zen Keys về thực tập Thiền. Qua các cuốn sách này thầy hướng dẫn hết sức tinh tế việc áo dụng giáo lư cao siêu của Đức Phật vào việc giải quyết các vấn đề tầm thường của từng cá nhân, gia đ́nh và xă hội Mỹ đương thời. Sự hướng dẫn này không chỉ được truyền đạt qua sách báo, lập tu viện. Dân chúng Âu Mỹ xưng tụng thầy là vị sư có ảnh hưởng và được trọng vọng nhất ở phương Tây chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma, cố mục sư Martin Luther King, Jr....nhà lănh đạo tranh đấu nhân quyền của người Mỹ gốc Phi Châu đă đề cử thầy lănh giải Ḥa B́nh Bobel. Công của thầy là vô lượng trong khi bài này là một tóm lược thô sơ nên chỉ xin kể thêm một công quả quan trọng khác của thầy là việc du nhập chủ thuyết phật giáo phải dấn thân giúp cải thiện nếp sống xă hội (Engaged Buddhism). Cuốn "Buddist Faith in America" liệt kê việc du nhập này vào mục các mốc lịch sử trọng đại của Phật giáo ở Mỹ với lời chú "Thập niên 1960: Vị sư Việt Nam Thích Nhất Hạnh du nhập vào phương Tây chủ thuyết phật giáo dấn thân". Tiêu biểu cho ảnh hưởng của chủ thuyết này là việc thành lập liên minh phật tử dấn thân đa quốc gia "Buddhist Alliance for Social Engagement" để thực hiện các chương tŕnh hỗ trợ công tác xă hội, trước tiên là ở Mỹ rồi sẽ đến Châu Mỹ La Tinh và Á Châu. Họ tuyển thiện nguyện viên, hướng dẫn, cung cấp phương tiện và gởi đến các nhà tù, bệnh viện, bệnh xá, lưu xá người vô gia cư, lưu xá người mắc bệnh nan y, dưỡng trí viện, dưỡng viện lăo niên, trại cải huấn thiếu niên phạm pháp tụ tập phật giáo để cải thiện bản thân hay hoàn cảnh. Dẫu sao, chủ lực của cộng đồng Phật giáo Việt Nam ở Mỹ chính là các thầy và hàng trăm ngàn phật tử di tản. Sự đóng góp của họ vào việc phát triển phật giáo ở Mỹ thật không thể tưởng tượng được. Chỉ 30 năm qua và chỉ riêng tại California, họ đă kiến lập trên 100 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, tu viện, tự viện, thiền viện, niệm phật đường, tổ đ́nh và đạo tràng (theo thống kê của chùa Pháp Vân, CA). Con số tại các tiểu bang khác là trên 150, cộng chung toàn nước Mỹ là trên 250. Tại các nơi đông đúc người Việt Nam đă đành nhưng cả các nơi xa xôi hẻo lánh như Alabama cũng có Chùa Giác Chánh, Indiana có Chùa An Lạc, Utah: Chùa Tam Bảo, New Hamshire: Chùa Phước Diện. Giới thẩm quyền tôn giáo ước lượng tổng số phật tử ở Mỹ hiện nay từ 4 đến 6 triệu, đa số thuộc các cộng đồng Trung Hoa, Nhật, Việt Nam, Thái Lan, Đại Hàn, Ấn Độ, Cam Bốt, Miến Điện và Lào. Phần cuối xin trở lại chút riêng tư: qua mấy tháng xem sách báo kể trên, một số h́nh ảnh đă làm tôi xúc động và sẽ không bao giờ quên như: Sự hiện diện của Phật Giáo Ḥa Hảo và Cao Đài ở Mỹ, cảnh mấy người Âu cao lênh khênh bước cạnh thầy Thích Nhất Hạnh để thực tập Thiền hành: tuần báo Times đề ngày 13/10/1997 với h́nh b́a và một thiên phóng sự đặc biệt về Phật giáo ở Mỹ (Times là tuần báo đông độc giả nhất phát hành trên 4 triệu số mỗi kỳ) ảnh một toán đông học sinh trẻ măng và toàn gốc Âu đang tập ngồi Thiền, mắt nhắm lại nhưng nụ cười tươi tắn, thanh thản. Tiếc không thể đi xa hơn v́ đây không phải là một bài biên thảo. Xin xem đây chỉ là lời quê góp nhặt, mong được lượng thứ nếu có sai lầm, để viết thêm về nước Mỹ, nơi mà chính sách tự do tôn giáo sáng tỏ như ánh mặt trời để trăm loài hoa biểu tượng tôn giáo cùng đua nở, trong đó có những đóa sen hồng đang độ. Linda Lee |