| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
Nếu biết rơ đức Phật vẫn xử dụng các từ ngữ thông dụng đương thời, thuộc các tôn giáo khác, như "Phạm Thiên", "Bà La Môn" v.v... để mọi người đương thời đều hiểu, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Huỳnh Phú Sổ thường xử dụng những từ ngữ b́nh dân trong dân gian, không có trong từ ngữ Phật học, như"Thượng đế", "Hạ giới", "Sắc lịnh" v.v... để dễ dàng truyền bá Phật pháp cho giới b́nh dân thôn quê. Theo các nhân chứng thời đó kể lại th́ ông đă tận tâm tận lực b́nh đẳng thuyết giảng Phật Pháp cho mọi người đến nghe đạo hay trị bịnh, không phân biệt sang, hèn, giàu, nghèo, thân, sơ. Nhiều khi ông đă liên tục thuyết pháp cả ngày lẫn đêm v́ thính giả thập phương đến nghe đông đảo. Theo ông Nguyễn Văn Hầu, trong cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm th́: "Với một giọng nói thanh tao, êm dịu, khi bỗng lúc trầm, lưu loát mà rơ ràng, khi cao siêu, khi giản dị, Ngài giảng giải cho quần chúng nghe giáo lư nhà Phật và phương pháp tu hành. Ngài thuyết pháp không ngưng, không vấp... Một nhà báo ở Sài Thành (ông Hiền Sĩ) nói về đức Huỳnh Giáo Chủ trong hơn 30 bài báo, có phê b́nh tài hùng biện và khoa ngôn ngữ của Ngài bằng câu "thao thao bất tuyệt" và cho rằng Ngài "chiếm giải quán quân về phương diện diễn thuyết". Nhà lănh tụ nhóm "Tranh đấu" là Tạ Thu Thâu chưa chắc có thể so sánh với đức Thầy về môn diễn thuyết và nói trước công chúng được. Lại nữa, lời văn của đức Thầy c̣n có mănh lực hấp dẫn quần chúng một cách phi thường nên thính giả nhiều khi mủi ḷng rơi lệ, liền phát bồ đề tâm, quy y đầu Phật. Nhiều nho sĩ văn gia, nhiều trí thức tân học đỗ cao (cử nhơn, tấn sĩ) đều bái phục đức Thầy v́ tài ba, v́ đức hạnh. Thật Ngài là một bực thượng trí anh tài, một bực sinh nhi tri vậy". Thính giả đến nghe giảng ngày càng đông và ngôi nhà của thân sinh ông trở thành một đạo tràng thuyết pháp, một ngôi chùa lúc nào cũng đông đảo thiện nam tín nữ từ khắp nơi về và bị nhà chức trách ḍm ngó. Nên ông đă có lần nhờ thân sinh lên quận xin phép đổi cái nhà của ông thành một ngôi chùa, lấy tên là Kim Sơn Tự. Tuy chỉ xuất hiện trên đời 27 năm, ông đă để lại một khối lượng kinh sách đáng kể, tổng cộng khoảng 150.000 chữ, bằng văn xuôi và văn vần, phần lớn đều là ứng khẩu và đại đa số là văn vần, nghĩa là thơ, dưới các h́nh thức thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cù, trường thiên thất ngôn, ngũ ngôn. Như các vị Giáo chủ thời xưa, những bài giảng của ông phần lớn đều ứng khẩu thuyết giảng cho đệ tử, tín đồ nghe và những người này ghi chép lại. Một phần khác th́ do ông đích thân viết và theo các nhân chứng thuật lại, th́ ông viết rất tự nhiên, không suy nghĩ, không gạch xóa sửa chửa và viết một mạch không ngừng cho đến khi hoàn tất. đặc điểm của thơ văn Huỳnh Phú sổ là ngôn từ rất giản dị, rơ ràng, dễ nhớ, ai đọc cũng hiểu nhưng rất hàm súc và hoàn toàn phù hợp với kinh sách Phật Giáo. Nhờ đó ngay cả những người dân quê không biết chữ vẫn có thể hiểu và học thuộc ḷng hàng trăm câu thơ khuyến tu, truyền đạo của ông. Không những đặc biệt trong việc truyền giảng Phật Pháp, là giảng bằng thơ và thơ hết sức b́nh dân, mà việc phổ biến các tác phẩm Phật Học này cũng rất đặc biệt: là một số tín đồ có giọng tốt học thuộc ḷng và đi diễn ngâm khắp đồng bằng Nam Bộ và những tín đồ khác, có hoa tay, th́ lại chép các bài thơ sấm giảng này thành 100 bản, 200 bản và luân chuyền khắp nơi, với vài trăm người như thề hàng trăm ngàn ấn bản có thể phổ biến dễ dàng và sâu rộng (sau này nhờ một tín đồ có quốc tịch Pháp là bà Trần Văn Tâm đứng xin giấy phép xuất bản nên ấn bản đầu tiên của Sấm Giảng Phật Giáo Ḥa Hỏa mới được in). Cho đến năm 1965, khoảng 800.000 ấn bản các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ đă được in và đến năm 1975 th́ trên một triệu quyển đă được in ra. Không một tác giả Phật Giáo nào, và có lẽ ít có một tác giả Việt Nam nào, cho đến nay, có được một số lượng tác phẩm được phát hành lớn lao như thế. Qua phương pháp trị bịnh thần diệu và truyền giảng Phật Pháp một cách giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, chỉ trong một thời gian ngắn ngay trong năm 1939, "Câu Tư Ḥa Hảo" tức thanh niên 20 tuổi Huỳnh Phú Sổ, đă được dân chúng tôn sùng, quy ngưỡng như một vị giáo chủ và ngôi nhà của ông tại làng Ḥa Hảo trở thành thánh địa. Nông dân đă đáp ứng một cách nồng nhiệt bằng cách quy y nhập đạo, ngày càng đông đảo, giới điền chủ, trí thức nghi ngờ, dè dặt và nhiều người đă thử thách đến viết những bài thơ chữ Hán, là thứ chữ Huỳnh Phú Sổ chưa bao giờ học, để thử tài ông. ông đă họa lại và khiến các nhà nho này khâm phục. Như Thầy Bảy Tốt ở Long Xuyên đến so tài làm thơ bằng chữ Hán, có hôm làm không kịp với Huỳnh Phú Sổ, ông phải rút trọn một câu trong sách thuốc Thọ Thế đưa vào bài thơ, bị Huỳnh Phú Sổ vừa cười vừa chọc: "ông hết chữ rồi nên mới rút tới câu đó". Một hôm khác nhân đọc câu "Trần Di ngủ say câu thành tựu" trong bài Diệu Pháp Quang Minh của Huỳnh Phú Sổ, ông bèn hỏi: "Bạch Ngài, tôi e chữ thành tựu chưa có ai dùng. Phải chăng Ngài đă lẫn lộn? "Huỳnh Phú Sổ trả lời về xem lại bộ Tứ Thơ th́ sẽ thấy. ông về tra lại nhưng không thấy, đến hỏi, được Huỳnh Phú Sổ cho biết là chữ thành tựu được lấy ra từ hàng chữ cháu con "nhứt nhứt thành tựu". Một nhà nho khác là ông Huỳnh Hiệp Ḥa ở Long Xuyên đến đưa một bài thơ bằng chữ Nho, Huỳnh PHú Sổ đă viết liền không suy nghĩ một bài thơ họa lại cũng bằng chữ Nho, bài "Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương". Hay ông Nguyễn Kỳ đức cũng ở Long Xuyên đến tŕnh một bài thơ chữ Nho, hỏi Huỳnh Phú Sổ về vận nước ngă nghiêng, th́ ông đă ngay lập tức họa lại một bài thơ chữ Nho để đối đáp lại, bài "Thiên kư Lạc Hồng đắc ngũ niên". Hay ông Ba Thận ở Tân Châu làm hai bài để thử tài và chất vấn Huỳnh Phú Sổ nhưng đă được Huỳnh Phú Sổ trả lời ngay những điều ông muốn hỏi dù ông chưa kịp xuất tŕnh hai bài thơ đó. Không những biết chữ Hán rất uyên thâm, ông đọc kinh bằng 18 thứ tiếng khác nhau. Các nhà Tân Học th́ lại thử thách Huỳnh Phú Sổ bằng cách đặt những câu hỏi hóc búa liên quan đến kiến thức mới hay đến t́nh h́nh. Như Bác sĩ Trần Lũy ở Rạch Giá hỏi: "ông có thể cho tôi biết quan niệm của ông về thuyết Darwinisme? ". Huỳnh Phú Sổ ung dung trả lời: "Phải ông muốn hỏi tôi về vấn đề ông Darwin cho rằng thỉ tổ của loài người là khỉ chăng?... Nếu quả thật khỉ là thỉ tổ của loài người th́ từ mấy chục ngàn năm nay nó đă thành người hết rồi, trong rừng sẽ không c̣n con khỉ nào. C̣n như nói người là biến thân của khỉ cũng như con ếch là biến thân của con ṇng nọc, th́ khi sanh ra loài người phải có đuôi như khỉ, đến lớn lên cái đuôi đó rụng như đuôi ṇng nọc mới phải chớ". Chỉ học tới tiểu học (lớp năm) mà Huỳnh Phú Sổ bác thuyết tiến hóa của Darwin như thế th́ cũng khác chính xác, hợp lư. Chớ nếu hỏi "Darwinisme là ǵ với "các ông đạo" ở miền Tây th́ các ổng chắc chắn sẽ... á khẩu. ông bác vật (thời đó kỹ sư ở miền Tây được gọi là bác vật) Nguyễn Văn Thời, gốc Rạch Giá hỏi: "Giáo chủ nói chuyện độc lập, vậy khi người Phái đi khỏi xứ này rồi, ai sẽ giúp ta thiếp lập hệ thống đường xá cầu cống để phát triển kinh tế? Làm sao ta có đủ kỹ thuật, nhân tài, vật lực để làm những việc hệ trọng đó?". Huỳnh Phú Sổ trả lời: "Sau khi Thực Dân Pháp ra đi sẽ có các nước văn minh khác trên thế giới giúp Việt Nam giải quyết vấn đề đó". Thật là gọn, nhưng đây cũng là lời tiên tri. Một trí thức tân học khác yêu cầu giải thích một cách khoa học về hiện tượng ông đọc được tư tưởng của người khác. Huỳnh Phú Sổ trả lời như sau: "Tôi là một cái máy thâu thanh nhạy và mạnh hơn máy thâu thanh của người thường. Những ư nghĩ trong trí ông thể hiện thành những làn sóng, người thường như cái máy thâu thanh yếu không thể bắt được những làn sóng đó, c̣n tôi nhờ có máy thâu thanh mạnh hơn nên bắt được làn sóng của ông. Có người kêu là lục thông, giác quan thứ sáu". Giải thích như thế là rất khoa học (tuy nhiên "lục thông" không phải là giác quan thứ sáu, có lẽ chỉ là một cáh nói b́nh dân cho mọi người hiểu). Có người lại hỏi một vấn đế khá tế nhị: "Tại sạo đi đâu ông cũng ở nhà những người giàu có, chớ không thấy ở nhà kẻ nghèo hèn? ". Huỳnh Phú Sổ ung dung trả lời: "Nhà giàu như cáo g̣, nhà nghèo như cái hố. Tôi ở nhà giàu cũng là để ban cái g̣n xuống cho cái hố nhờ cậy". Thật là tuyệt và đúng tinh thần xă hội Phật Giáo, khác hẳn với tinh thần của chủ nghĩa xă hội Mác Xít, nghĩa là không cưỡng bức, sắt máu, chỉ đánh thức từ tâm của họ để họ phát tâm từ bi cứu khổ, giúp nghèo. Quan niệm Phật giáo về giàu, nghèo là do ở nguồn gốc thiện nghiệp hay ác nghiệp trong quá khứ. Người giàu có là nhờ làm việc việc phước đức từ đời trước và ngày nay nếu họ giàu có hay có dư dă th́ phải nên cúng dường, trao tặng cho người nghèo khó, giống những cành cây sây trái quá nặng, nếu không hái bớt th́ sẽ dễ dàng bị găy. C̣n "ban cái g̣ xuống cho cái hố nhờ cậy" cũng được ông cụ thể hóa trong tuyên ngôn và chương tŕnh của Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng, tức là tiết chế tư bản và bảo vệ quyền lợi của tầng lớp lao động. Cách ứng xử của ông rất linh động, uyển chuyển, chớ không hẳn là chỉ gần gủi giới giàu có: khi ông quận trưởng Tân Châu Nguyễn Văn Lễ đem xe hơi đến rước th́ Huỳnh Phú Sổ đă từ chối và đi thuyền của một tín đồ dân thường, ông nói: "Tôi đâu có thể thiên vị kẻ giàu mà phụ bạc kẻ nghèo". Nhân tiện ông giảng dạo cho ông Chủ Quận: "Song thân ông có tu nhơn tích đức nên nay ông mới được chức trọng quyền cao. Vậy ông nên lập công bồi đức nếu ông muốn hưởng phước được lâu dài". Lời khuyên này hoàn toàn phù hợp với quan niệm phước đức, nhân quả của Phật giáo. |
| ||||
| C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày. Số tín đồ và ảnh hưởng của Huỳnh Phú Sổ càng ngày càng gia tăng trong chưa đầy một năm kể từ ngày khai đạo và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ, rộng lớn làm cho Thực Dân Pháp phải lo ngại. Ngày 18/8/1940 nhân viên công lực tỉnh Châu đốc đến làng Ḥa Hảo bắt buộc Huỳnh Phú Sổ phải lập tức theo họ về ṭa hành chánh tỉnh Châu đốc, ông không kịp thay áo quần và khi ra đi chỉ kịp cầm theo tấm "giấy thuế thân" (Thời Pháp Thuộc mỗi người dân phải đóng một thứ thuế trên chính con người của ḿnh để trở thành một người dân nô lệ "hợp pháp", gọi là "thuế thân", không đóng "thuế thân"sẽ bị đi ở tù). Tại đây sau vài giờ làm thủ tục, ông giao chuyển qua cho C̣ mật thám (trưởng công an) Bazin của tỉnh Sa đéc (sau trở thành giám đốc sở Mật Thám Nam Kỳ). Tên này tra hỏi có phải ông là tác giả mấy quyển Sấm Giảng không? ông nhận là do chính ông viết. Bazin không tin một thanh niên vừa đúng 20 tuổi, học hành dang dỡ lại có thể sáng tác nổi nên hỏi: "Nếu thật ông viết th́ ông thử viết cho tôi coi". Huỳnh Phú Sổ liền sáng tác và viết ngay bài thơ Sa đéc sau đây: "Muốn lập đạo có câu thành bại, Sự truân chuyên cú Khách Thiền Môn. Khắp sáu châu nức tiếng người đồn, Ta Chịu Khổ, Khổ Cho Bá Tánh. Tiếng Gọi đời Sông Mê Hăy Lánh, Chạm lợi quyền giàu có cạnh tranh. Bước chông gia đường đủ sỏi sành, đành tách gót ĺa quê hương dă. Ta cũng chẳng lấy chi buồn bă, Bởi sự thường của Bực Siêu Nhơn. Dẫn gian lao dạ sắt chẳng sờn, Miễn Sanh Chúng Thông đường Giải Thoát". Bài thơ này diễn tả tâm trạng, nguyện lực và nhân cách lớn của một đại Phật Tử, một bồ tát và phảng phất h́nh ảnh, không khí của các Thánh Tử đạo Phật Giáo, hay của Jesus Christ khi đang bị đóng đinh trên thập tự giá: "Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh", dù khi đó ông chỉ mới 20 tuổi. Nghe xong bài thơ này Bazin phải nhận Huỳnh Phú Sổ là một người xuất chúng, có tâm hồn tôn giáo nhiệt thành và tạm quản thúc ông ở nhà ông Phán đặng. Rồi chỉ hai tháng sau, ngày 23/5/1940, chuyển ông sang ở làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ, quản thúc ở nhà ông Hương Vơ Mậu Thạnh. Tại cả hai nơi này, quần chúng t́m đến đông đảo để nghe thuyết pháp và xin quy y nhập đạo Phật Giáo Ḥa Hảo. Cho nên chỉ hai tháng sau, ngày 28/7/1940, nhà cầm quyền Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ vào bịnh viện Cần Thơ và sau đó chuyển lên nhà thương điên Chợ Quán Sài G̣n. Cùng thời bên xứ Nga, Stalin cũng đă gán cho những người đối lập với ông ta là những người mắc bịnh tâm thần và đều quản thúc họ ở các nhà thương điên. Tại đây, chính người điều trị, quản thúc là y sĩ Trần Văn Tâm và cả người gác dan cũng quy y đạo Phật Giáo Ḥa Hảo và tôn thờ Huỳnh Phú Sổ như một vị giáo chủ. đặc biệt y sĩ Trần Văn Tâm là một trí thức tân học có nghiên cứu Phật Giáo, ông đă bị Huỳnh Phú sổ chinh phục và quy y v́ khâm phục kiến thức Phật Học uyên bác, sâu sắc và đạo đức của Huỳnh Phú Sổ. Không những có tài trị bịnh và thuyết pháp, Huỳnh Phú Sổ c̣n có khả năng biết những việc xẩy ra trong quá khứ, biết được tư tưởng của người khác, dù cách xa và tiên tri đúng những việc sẽ xẩy ra trong tương lai. Theo Trần Kim Thiện, con của y sĩ Trần Văn Tâm kể lại th́ "Bà kế mẫu của mẹ tôi, sau này trở thành kễ mẫu của ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống đệ nhất Cộng Ḥa) được đức Thầy trị cho hết bịnh đau nhức xương trên lưng mà bà đi bao nhiêu bác sĩ trị không dứt, cho nên bà đến xin đức Thầy cho bà "vài chai thuốc Phật" (tức là nước lă mà đức Thầy đă cho bà uống mà dứt bịnh). đức Thầy có trả lời rằng: "Thuốc Phật đâu mà bà xin nhiều đến vài chai? Sao bà không nhớ có lần người ta xin bà một chai nước mắm mà bà c̣n tiếc không cho, bây giờ lại xin tới vài chai thuốc Phật?". Bà kế mẫu nghe vậy kinh sợ vô cùng "v́ chuyện này đă thật sự có xẩy ra khi bà c̣n ở với ngưới chồng trước là ông Huyện Chơn ở Long Xuyên". Chuyện thứ nh́ là chuyện của chính tôi... ba má tôi xuống chúc Tết đức Thầy v́ là đầu xuân. đức Thầy có bảo má tôi nên trở về nhà v́ có tôi về nhà ăn tết. Má tôi nghe lời đức Thầy trở về nhà th́ quả nhiên có tôi ở nhà. Tôi đi lính đóng ở Bắc Việt, xin phép về Sài G̣n ăn tết, nhưng có ư không cho gia đ́nh hay, muốn dành cho ba mẹ tôi một điều bất ngời thích thú... Tại sao đức Thầy lại biết được dự định trong ư riêng của tôi trong khi tôi ở tuốt xa ngoài Bắc Việt?". (Thành Nam, Phật Giáo Ḥa Hảo Trong Ḍng Lịch Sử Dân Tộc, t 167-203) Hay theo lời kể của ông Trần Văn Soái, tự Năm Lửa, một thị giả của Huỳnh Giáo Chủ, th́ có một lần nhân rũ mền gối của đức Thầy, ông thấy một con rệp, ông liền giết chết, không ai hay biết. Nhưng đức Thầy vẫn biết và quở rằng: "Nó cắn tôi chứ đâu có cắn ông mà ông nở giết nó". Hôm sau cũng nhân rũ mền gối, ông Soái thấy một con rệp khác, ông liền lén bắt đem ra phơi nắng. thế nhưng đức Thầy cũng biết là la ông. Sau đó ít hôm, ông cũng thấy một con rệp khác trên giường của Huỳnh Phú Sổ, lần nầy ông lén bỏ vào miệng nuốt luôn xuống bụng, không ai hay biết cả. Thế những lần này đức Thầy cũng biết và cười bảo ông: "Hết giết bằng tay, bằng bỏ phơi nắng, bây giờ ông lại giết người ta bằng cách nuốt vào bụng". (Băng giảng Những Mẫu Chuyện Bên Thầy). Ngoài ra, trong dịp đi khuyến nông, ông làm bài thơ có câu "Thần chết đă tràn vào Trung, Bắc" vào khảng tháng 5 năm 1945 rồi nói với ông Lương Trọng Tường, thủa ấy là chánh thư kư Ban Trị Sự Trung Ương PGHH: "Bây giờ tôi viết Thần chết đă tràn vào Trung, Bắc mà ngày sau người ta sẽ đọc Thằng chệt đă tràn vào Trung, Bắc cho mà coi". Quả nhiên vài tháng sau, Nhật đầu hàng, theo hiệp ước Yalta của các cường quốc đồng Minh thắng trận, Trung Hoa Dân Quốc cử tướng Lư Hán kéo quân Tàu (người b́nh dân trong Nam Bộ gọi là Chệt) vào chiếm đóng miền Trung và miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở lên, và quân Anh chiếm đóng từ vĩ tuyết 16 trở xuống. Vào tháng 5/45, ngay cả những lănh tụ thế giới như thủ tướng Anh Churchill, tổng thống HOa Kỳ Roosevelt, tổng bí thư Cộng đảng Liên Sô Stalin, kư vào hiệp ước Yalta, là hiệp ước phân chia thế giới tập trung vào cục diện Ấu Châu, th́ họ có lẽ cũng không để ư có điều khoản liên quan đến Việt Nam. Bằng tuệ giác nào mà Huỳnh Phú Sổ đă tiên tri quân Tàu sẽ vào Trung, Bắc? Huỳnh Phú Sổ bị quản thúc ở nhà thương Chợ Quán cho đến ngày 5/6/1941. Sau đó ông bị giải qua bót Catinat thẩm vấn 8 ngày và rồi Thực Dân Pháp lưu đày ông đến tỉnh Bạc Liêu, một tỉnh miền Tây xa nhất Sài G̣n, giáp vịnh Xiêm La. ở đây ông bị quản thúc ở nhà ông Vơ Văn Giỏi và chịu sự quy định: không được trị bịnh, không được thuyết pháp và ngày thứ hai mỗi tuần phải đến tŕnh diện tại ty công an. Tuy nhiên việc di chuyển ông đi ở nhiều tỉnh khác nhau đă là một cơ hội quư giá cho ông truyền đạo, thu nhận thêm nhiều tín đồ và đưa Phật Giáo Ḥa Hảo lan rộng khắp đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn bị cưỡng bức dời cư, ông đă viết những vần thơ tự tại: "Càng đi càng biết nhiều nơi. Càng đem chân lư tuyệt vời phổ thông... Ta cũng thương, thương tṛ liệu điệu, nhưng cũng mừng được dịp phổ thông...". ở bất cứ nơi nào bị lưu đày, Huỳnh Phú Sổ đều mở mang phát triển Phật Giáo Ḥa Hảo và niềm tin tôn giáo mănh liệt đă thắng những sự kềm kẹp, hạn chế của nhà cầm quyền. Nên cuối cùng Thực Dân Pháp dự định lưu đày ông qua Ai Lao. Ấm mưu này bị khám phá và một số tín đồ PGHH cùng với sự giúp đỡ của hiến binh Nhựt đă giải thoát ông và đưa ông về Sài G̣n. Pḥng T́nh Báo Quân Sự Pháp viết như sau: "Bạc Liêu đă trở thành nơi hành hương của tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo. Họ tới thăm Thầy, khi về nhận chỉ thị miệng và sấm giảng, giấu diếm đem phổ biến khắp nơi. đó là những tài liệu, những thông điệp chống Pháp rơ rệt. Cho nên đầu năm 1942, nhà cầm quyền địa phương đề nghị đưa ông Huỳnh Phú Sổ trở về sinh quán. Nhưng Phủ Toàn Quyền quyết định đưa ông đi đày ở Ai Lao. Chỉ vài ngày trước khi thi hành quyết định này, một số tín đồ PGHH vớisự tiếp tay của hiến binh Nhật đă tổ chức giải cứu ông đưa về Sài G̣n. Những nhân vật có dính líu trong vụ này gồm có Lương Trọng Tường, Bùi Văn Trung, Cả Vi, Hội đồng điều, trung sĩ hiến binh Nhựt Kimura và tài xế Trần Văn Sơn". Chi tiết đầy đủ, chính xác hơn được ông Lâm Ngọc Thạch, con ông Lâm Thơ Cưu, người chủ mưu vụ này cho biết như sau: "Việc Pháp khủng bố Cao đài, bắt đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đày đi Madagascar làm cho tín đồ PGHH lo ngại. Khoảng tháng 9 năm 1942 đức Thầy nói riêng cho Biện Hùm biết Pháp có ư định đưa Ngài đi đày xa, ở ngoại quốc, giống như đă đày Hộ Pháp Cao đài đi Madagascar. Biện Hùm về gặp cha tôi (Lâm Thơ Cưu) bàn tính kế hoạch đưa gấp đức Thầy đi nơi khác... Cha tôi liền đến sở hiến binh Nhựt tại Sài g̣n nhờ họ giúp... nhưng Kempeitai không cho mượn xe của sở hiến binh, họ t́m dùm chiếc xe hơi dân sự, giao viên thượng sĩ hiến binh Kishi cùng đi với cha tôi và tài xế Ba Xạ"... Như thế th́ rơ ràng việc giải cứu này lo do sáng kiến của t́n đồ PGHH và họ chủ động thực hiện, Nhật chỉ giúp một phần nhỏ. Thái độ của Huỳnh Phú Sổ đối với Nhật rất minh bạch, đó là thái độ thân hữu mà vẫn giữ tư thế độc lập và đường lói, chủ trương của ḿnh, v́ bằng tuệ giác, Huỳnh Phú Sổ đă tiên tri chính xác rằng: "Nhựt Bổn ăn không hết nửa con gà". Năm Ât Dậu, 1945 tức năm gà và Nhật đă đầu hàng đồng Minh ngày 6/8/1945 (Thành Nam, sđd, t 167-223). |
| ||||
| D/ Thời gian sống tại Sài G̣n và đi khuyến nông tại miền Tây. Từ tháng 10 năm 1942, sau khi thoát khỏi sự kềm tỏa của Pháp và tạm trú an b́nh ở Sài G̣n, với sự bảo vệ của Nhật, Huỳnh Phú Sổ và PGHH bắt đầu một giai đoạn hoạt động mới: phát triển, củng cố hàng ngũ tín đồ xây dựng hạ tầng cơ sở và cơ cấu điều hành, huấn luyện cán bộ, liên kết với giới trí thức yêu nước, chuẩn bị đấu tranh cứu quốc, một tổ chức quân sự, phong trào Bảo An Phật Giáo Ḥa Hảo, cũng được thành lập. Chỉ trong ba năm ngắn ngủi, từ 1939 đến 1942, Huỳnh Phú Sổ đă có hàng trăm ngàn tín đồ và chỉ thêm ba năm sau đó, đến năm 1945, khi đất nước vỡ bùng trong những biến động chính trị lớn lao, th́ Phật Giáo Ḥa Hảo đă trở thành một tôn giáo có trên, dưới một triệu tín đồ, được đoàn ngũ hóa, có tổ chức, có kỹ luật, có lănh đạo. Trên thật tế, PGHH, chỉ với 6 năm lịch sử, và tuy chỉ giới hạn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đă mạnh hơn, và có những đóng góp lớn lao hơn cả toàn khối Phật Giáo cổ truyền có gần 2.000 năm lịch sử trong giai đoạn sôi động 1945-1947. Năm 1945 nạn đói khủng khiếp đă xẩy ra ở miền Bắc đưa đếm một thảm cảnh bi đát trong lịch sử cận đại VN: gần hai triệu người Việt bị chết đói. Huỳnh Phú Sổ sáng tác bài Khuyến Nông và đi du thuyết tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây trong suốt hai tháng, từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, để kêu gọi nông dân tăng gia sản xuất hầu có dư thêm lúa gạo cứu trợ đồng bào miền Bắc. Có nơi ông nói chuyện trước 10.000 người, ít lắm cũng một, hai ngàn người và có ngày ông diễn thuyết trước cả 5,6 chỗ khác nhau. Đây là dịp ông trở lại miền Tây và gặp lại tín đồ sau hai năm xa cách nên các tín đồ PGHH đă vô cùng vui mừng, tiếp dón vô cùng trang nghiêm, long trọng, họ dựng các khải hoàn môn, bày các hương án dọc hai bên đường để bày tỏ ḷng tôn kính, các tín đồ nam phụ lăo ấu đứng chờ cả buổi, cả ngày hai bên đường để mong được gặp vị Giáo Chủ đáng yêu đáng kính của họ. Có người ghi nhận là ông được đón tiếp "c̣n hơn cuộc tiếp rước quan Toàn Quyền đi kinh lư". Dịp này số tín đồ quy y, gia nhập PGHH gia tăng mạnh mẽ và một không khí yêu nước, yêu đồng bào, tích cực sản xuất và chuẩn bị hành động cứu quốc lan tràn sôi nổi khắp miền Tây. Tinh thần này đă tỏa ra sôi sục từ bài Khuyến Nông của ông: "Kẻ phu tá cũng là trọng trách, Cứu giống ṇi quét sạch non sông. Một phen vác cuốc ra đồng, Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai. Mưa nắng ấy đâu nài thân xác, Chí hy sinh dầu thác cũng cam." Lời hịch khuyến nông này cũng là lời hịch kêu gọi tín đồ sẵn sàng đứng lên như ông Lê Minh điều tự thuật: "Tôi là người làm ruộng ở Sa đéc và có tham gia phong trào Bản An PGHH. Khi nghe được bài Khuyến Nông của đức Thầy, chúng tôi thảo luận với nhau và đồng ư rằng thời cuộc đă đến lúc xoay chuyển, cho nên đức Thầy mượn cơ hội khuyến nông để kêu gọi tín đồ hăy sẵn sàng để hy sinh cho đất nước". (TN, sđd, t 211). Chẳng bao lâu sau, như dự kiến của Huỳnh Phú Sổ, Nhật Bản bị liên tiếp thảm bại, bị Hoa Kỳ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai phố Hiroshima và Nagasaki và đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15/8/1945. Một vận hội mới mở ra cho dân tộc Việt Nam. Huỳnh Phú Sổ, trong giai đoạn này, đă sáng tác một bài thơ tuyệt với... "Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha, đền xong nợ nước thù nhà. Thiền môn trở gót Phật đà Nam Mô". ông Việt Nam c̣n hơn cả những người Việt Nam nhất, ông là Phật Giáo hơn cả những người Phật Giáo nhất. ông là một đại Phật Tử, đại thiền sư, đại bồ tát. Qua ba câu thơ này, và qua cuộc đời ông, đă gói trọn, một cách viên măn, đă kết tinh, một cách rực rỡ, đă hiển sinh, một cách chói lọi, truyền thống yêu nước, truyền thống hành động của Dân Tộc Việt Nam và của Phật Giáo Việt Nam. Trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này, dù chỉ mới 25 tuổi, Huỳnh Phú Sổ đă thành lập hay tham gia, và đóng góp ở vai tṛ lănh đạo các tổ chức cách mạng yêu nước sau đây: Năm 1945: - Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội; - Việt Nam Vận động độc Lập Hội; - Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất; - đệ Tứ Sư đoàn Dân Quân; Năm 1946: - Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp (Chủ Tịch); - Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng (Lănh tụ và linh hồn); năm 1947: - Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ (Ủy Viên đặc Biệt); - Mặt Trận Toàn Quốc. Cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm đă tŕnh bày khá chi tiết cuộc hành tŕnh khuyến nông tại miền Tây của Huỳnh Phú Sổ: "khởi hành tại Sài G̣n nơi căn nhà số 38 đường Miche ngày 10-5-1945, đức Thầy và ông Lương Trọng Tường cùng vài đệ tử thân tín xuống Cần Thơ rồi qua Cái Răng, Sóc Trăng, Băi Xào. Sau khi khuyến nông thuyết pháp, đức Thầy đến Bác Liêu khuyến nông và thuyết pháp tại đ́nh Tân Hưng, thính giả đông nghẹt... Tỉnh trưởng, thẩm phán và nhiều nhà trí thức trong tỉnh lỵ có đến dự thính. Sau hai giờ chăm chú xem, nghe, mọi người đều thán phục tài hùng biện của đức Thầy. Bữa sau, đức Thầy đi khuyến nông tại Vĩnh Châu, chiều lại, Ngài thuyết pháp ở Sóc đồn. Ngày kế đến, đức Thầy đi ghe vô chùa Linh Quang Tự. Chính đức Thầy đă đặt tên cho ngôi chùa này và có làm hai câu liễn như vầy: a. Phật pháp khai thông, khổ hải trùng trùng tâm bất khiếp, trần duyên bế tắt, liên đài điệp điệp đạo vô cùng. b. Phật pháp hoằng khia, chuẩn tế thương sinh đăng giác ngạn, trần tâm tịnh tận, siêu thăng cực lạc tọa liên đài. Khi đức Thầy vừa đến th́ trong chùa nổi trống sấm, gióng đại hồng chung, và gơ mơ tiếp nghinh trọng thể. Thấy vậy, đức Thầy hỏi ông giáo thọ có biết chuyện tích về chuông mơ chăng? Thấy ông lúng túng, đức Thầy liền tiếp: "Thôi, để lát nữa Thầy sẽ nói cho mà nghe". Thế rồi trong khi thuyết pháp, đức Thầy có nhắc lại chuyện tích cái chuông, cái chày kinh (có h́nh con cá ḱnh) và cái mơ có chạm h́nh con cá ngạc... Trước khi rời khỏi Bạc Liêu, đức Thầy có đi khuyến nông ở Ḥa B́nh, Giá Rai và Cà Mâu... Ngày 12 tháng 5 năm Ât Dậu, đức Thầy từ giă Bạc Liêu đi qua Vị Thanh, Giồng Riềng... kinh xáng Cái Sắn... Tân Hội... rồi Ngài trở về Rạch Giá ở đó ngày 19 và 20. Bữa sau có na nô đưa đức Thầy đi Sốc Xoài và Ba Ḥn... Cũng tại Rạch Giá, đức Thầy đă trả lời trôi chảy nhiều câu hỏi về tôn giáo, chánh trị và khoa học huyền bí do các bậc trí thức đưa ra, làm cho họ tấm tắc ngợi khen... Từ giă Ba Ḥn (Rạch Giá), đức Thầy đi thẳng Hà Tiên, Châu đốc... đức Thầy đến thuyết pháp khuyến nông tại sân vận động. Buổi diễn thuyết hôm ấy có nhiều nhà trí thức đến dự thính, như: tỉnh trưởng Hồ Tần Khoa, đốc Công Trần Văn Dương, Y sĩ Phạm Văn Tiếc... Trưa lại, đức Thầy đi B́nh Di thuộc quận Châu Phú thượng bây giờ là quận An Phú đến tối mới về tới Châu đốc. Cũng trong dịp này, vài ông săi ở Khánh An có nằm mộng thấy Phật về thôn họ. Nhưng khi đức Thầy đến nhằm lúc dùng cơm, mấy ông săi vẫn tiếp tục bữa cơm và không đứng lên thi lễ. đức Thầy mỉm cười nói với ông Hồ Văn Lang: "Người ta trông Phật, nhưng khi gặp, lại chẳng biết nh́n". Bữa sau, đức Thầy đi Tịnh Biên. Bận về có ghé Tri Tôn, Thới Sơn và Nhà Bàng. Khi về tới núi Sam, đức Thầy lại viếng mộ Phật Thầy. Hôm sau, cuộc khuyến nông thuyết pháp cử hành tại chợ Cái Dầu... Bữa sau, đức Thầy quan Tân Châu khuyến nông tại sân vận động rồi đi thẳng Hồng Ngự khuyến thuyết... Chiều lại, đức Thầy về tới Ḥa Hảo ngày 26.6 Ât Dậu. Đêm đó, anh em tín đồ tựu lại quá đông. Anh em ấy ngồi sắp hàng ngoài lộ, từ nhà đức ông lên tới chợ Mỹ Lương (Cái Tắc). Đức Thầy phải ra đường đi lên đi xuống, ngó qua ngó lại cho anh em thấy mặt Ngài nhờ anh sáng của chiếc đèn măng sông do một người cầm theo. Sáng bữa sau (27.5), đức Thầy lên diễn đài tại chợ Vàm (sân vận động)... chiều ngày 27 đức Thầy thuyết pháp khuyến nông tại đ́nh Ḥa Hảo. Ngày 30.5 đức Thầy đem lư hương từ Tổ đ́nh xuống chùa An Ḥa Tự (Ḥa Hảo). Ngày mùng 1 tháng 6, đức Thầy qua Năng Gù. Ban Trị Sự PGHH tỉnh Long Xuyên đón Ngài tại đó và rước Ngài về Long Xuyên... Ngày 2.6, đức Thầy đi Vĩnh Trạch và núi Sập. Ngày 3.6, đức Thầy đi Chợ Mới, ngày 4.6, Ngài đi Mỹ Luông, ngày 5.6, Ngài đi đốc Vàng (Tân Thạnh). Chiều lại, Ngài về Mỹ Hội đông. Sáng bữa sau, đức Thầy thuyết pháp tại sân vận động thôn Mỹ Hội đông rồi về Long Xuyên. Bữa sau đức Thầy đi Thốt Nốt rồi trở về Long Xuyên. Rồi 11 giờ tối ngày ấy, đức Thầy đi luôn xuống Cần Thơ. Diễn đài ở Cần Thơ là sân vận động của tỉnh thành. Không cần phải nói, chư độc giả cũng dư biết rằng số thính giả ở Tây đô phải nhiều hơn các chỗ. Bữa sau, đức Thầy đi Xà No thăm gia quyến ông Hương Bộ Thạnh rồi thuyết pháp ở Cái Tắc. Bữa sau nữa, đức Thầy khuyếnnông tại Phụng Hiệp và Cái Răng. Trong các ngày kế đó, đức Thầy thuyết pháp tại Trà Mơn, ô Môn, Cờ đỏ. Có điều kỳ lại là trong khi đức Thầy khuyến nông tại Phụng Hiệp, trời chuyển mưa, mây đen ḱn kịt rồi mưa tuôn xối xả ở tại chợ, cách đó chừng 100 thước. Nói tóm lại là chung quanh đều mưa to, duy có vùng đức Thầy đang thuyết pháp không có mưa. Sau Cần Thơ là đến lượt Sa đéc, Cao Lănh, Vĩnh Long, Tam B́nh, An Trường, Trà Vinh, Càng Long, Bến Tre tiếp rước đức Thầy. Chính tại Sa đéc, trong dịp đi khuyến nông này, đức Thầy đă viết bài "Phụ Nữ Ca Diêu". Ngày 28-7-1945, đức Thầy đến Vĩnh Long. Sáng bữa sau, đức Thầy thuyết khuyến tại sân vận động tỉnh thành. Trưa lại, anh em Thanh Niên Tiền Phong và anh em tín đồ ở các thôn tụ họp lại để mong đức Thầy thuyết nữa. Lúc đó, gương mặt đức Thầy thật là khả ái. Toàn thể thính giả đều quỳ để nghe, trong lúc trời lâm râm rớt hột..." (trang 247-257). Có thể nói, cho đến năm 1945, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, chưa có một nhân vật Phật giáo nào vừa đi thuyết pháp, vừa đi khuyến nông, ở một quy mô lớn lao và được tiếp đón trang nghiêm, long trọng như thế. Chỉ có thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, tức đại thiền sư Trúc Lâm của thế kỷ 14, trong thời kỳ vàng son nhất cửa PGVN, may ra mới có những cuộc viễn du thuyết pháp qua các làng mạc, tỉnh thành và được nghênh đón như cách cảm động như thế. Sau này, trong thập niên 60 của thế kỷ 20 này, thiền sư Trí Quang và các vị danh tăng khác được đông đảo quần chúng Phật tử đón tiếp một cách kính cẩn, cuồng nhiệt c̣n hơn thế nữa. Tuy nhiên các vị này đă xuất hiện trong một không khí và thời cuộc Phật giáo đă chuyển ḿnh thức dậy, sau 500 ngủ say, tiếng thở như sấm và suy đồi tận gốc. Tác giả Thất Sơn Mầu Nhiệm kết thúc đoạn viết về chuyến khuyến nông và hoằng pháp bằng bài thơ sau đây của Huỳnh Phú Sổ: 'Trên đường về Sài G̣n, ngồi trong xe với đức Thầy có thi sĩ Việt Châu mà Ngài vừa mới thâu phục tại Sa đéc... đức Thầy bảo ông Việt Châu thử làm một bài thơ tả cảnh ngồi trong xe trên đường về Sài G̣n. Thấy ông ta nặn óc măi mà chẳng ra thơ, đức Thầy liền ứng khẩu ngâm bài thơ dưới đây". Last edited by MatNgoc; 06-09-2009 at 05:55 PM. |
| ||||
|
đây là một trong những bài thơ hay nhất, tuyệt tác và độc đáo, trong đó là một đoạn tóm lược đại nguyện bồ tác của tác giả: "Tăng Sĩ Quyết; Chùa, Am Bế Cửa, Tuốt Gươm Vàng Lên Ngựa Xông Pha. đền Xong Nợ Nước Thù Nhà, Thiền Môn Trở Gót Phật đà Nam Mô. Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật, Bụi hồng trần dứt sạch cửa Không. Chuông linh ngân tiếng đại đồng, Ta bà thế giới sắc không một màu. Sài G̣n đến trống lầu đă trở, đề huề nhau cửa mở xuống xe. Khuyến nông chấm dứt mùa hè..." Chỉ một tháng sau đó, Nhật Bản đầu hàng đồng Minh, Huỳnh Phú Sổ tuốt gươm vàng xông pha giữa trời quê hương rực cháy trong khởi nghĩa và chiến tranh. E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến. Trong năm 1945 nhiều biến cố quan trọng đă xẩy ra và đưa toàn dân VN một cơ hội giành lại độc lập sau 80 năm bị Thực Dân pháp thống trị. Ngày 9/9/1945 Nhật đảo chánh lật đổ chính quyền Pháp ở đông Dương và đặt sự cai trị lên trên ba nước Việt, Miên, Lào. Lực lượng Thực Dân Pháp, trong thế yếu, bằng ḷng đặt dưới sự điều động của quân đội Nhật. ngày 12/3/1945 vua Bảo đại ra tuyên cáo hủy bỏ tất cả hiệp ước bất b́nh đẳng mà nhà cầm quyền VN đă kư với pháp ngày 6/6/1862 và ngày 15/8/1884. Ngày 18/3/1945 một cuộc biểu t́nh lớn, quỵ 50.000 người tham gia gồm tất cả đảng phái. Ngày 17/4/1945 chính phủ Trần Trọng Kim ra đời với khẩu hiệu "Dân Vi Quư". Tháng 5/1945 nạn đói khủng khiếp hoành hành miền Bắc, hàng triệu người chết đói, nguyên do quân đội Nhật bắt dân phá đồng ruộng, trồng cây kỹ nghệ phục vụ chiến tranh, thay v́ trồng lúa, và một phần khác do t́nh trạng chiến tranh, máy bay đồng Minh dội bom phá hủy cầu cống nên gạo trong Nam không chở ra Bắc được. Ngày 12/6/1956 Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức thanh niên yêu nước, ra mắt đồng bào và biểu t́nh tại Sài G̣n. đệ Nhị Thế Chiến đi vào giai đoạn kết thúc, ngày 6 và ngày 8 tháng tám, Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Ngày 14/8/1945 Huỳnh Phú Sổ cùng những lănh tụ quốc gia tại Sài G̣n như Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Thạch... đă thành công liên kết tất cả đảng phái và thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất. Một ngày sau, Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngày 21/8/1945 Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tổ chức một cuộc biểu t́nh vĩ đại với trên 200.000 người tham dự, nhưng những người lănh đạo đă không tuyên bố Việt Nam độc lập và cũng không cướp chính quyền. Một ngày sau, ngày 22/8/1945 Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội sau một cuộc biểu t́nh trước nhà hát lớn Hà Nội, cuộc biểu t́nh này không do Việt Minh đứng tổ chức, họ chỉ xuất hiện vào phút cuối, căng một số biểu ngữ và hướng cuộc biểu t́nh tiến chiếm dinh Khâm Sai. Chỉ một ngày sau, ngày 23/8/1945 vua Bảo đại tuyên bố thoái vị và trao quyền lănh đạo cho Việt Minh. Ngày 24/8/1945 Tổng Bộ Việt Minh phái vào Nam Hoàng Quốc Việt (tức Hà Bá Cang) và Cao Hồng Lănh. Lúc bấy giờ, ảnh hưởng Việt Minh, cũng như ảnh hưởng của đảng Cộng Sản đông Dương, hầu như không có ǵ đáng kể tại miền Nam. Ngày 25/8/1945 vua Bảo đại trao quyền và trao ấn, kiếm của Nhà Nguyễn cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu. Việt Minh, tức Việt Nam độc Lập đồng Minh Hội, là một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản đông Dương, do đảng này trực tiếp thành lập và chủ động lănh đạo. Quyết định vội vàng này đă để lại những hậu quả tai hại nghiêm trọng cho dân tộc Việt Nam suốt trong nửa phần c̣n lại của thế kỷ 20 này: nó vô t́nh tiếp tay, một phần không nhỏ, trong việc tàn sát những người yêu nước trong giai đoạn tranh quyền xẩy ra ngay sau đó, làm cuộc tranh đấu giành độc lập của nhân dân Việt Nam thêm khó khăn và tốn rất nhiều xương máu, đưa đến sự chia cắt đất nước, chiến tranh khốc liệt, cả đất nước bị tàn phá và dân tộc bị phân hóa cùng cực. đáng lư ra, trong giai đoạn này và trước sự kiện chính phủ Trần Trọng Kim từ chức, vua Bảo đại nên tuyên bố Việt Nam là một nước Quân Chủ Lập Hiến, do vua đứng đầu làm biểu tượng và đất nước được cai trị bởi một hiến pháp. Vua chỉ định người đứng đầu Việt Minh là Hồ Chí Minh thành lập chính phủ như đă chỉ định Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Và đây phải là chính phủ đại đoàn kết dân tộc và chỉ có tính cách lâm thời. đồng thời chỉ định một ủy ban soạn thảo hiến pháp và xúc tiến việc bầu cử thành lập một quốc hội. Chính đảng nào có đa số tại quốc hội sẽ được quyền thành lập chính phủ, lạnh đạo hành pháp. Hoặc giải pháp cấp tiến hơn là vua Bảo đại tuyên bố Việt Nam là một nước Cộng Ḥa và vua là quốc trưởng và quốc trưởng bổ nhiệm Hồ Chí Minh làm thủ tướng thành lập chính phủ. (đây cũng chính là đề nghị ông Hồ Chí Minh đưa ra cho ông Bảo đại khi ông bị những khó khăn đối ngoại và đối nội tràn ngập). Việc vua Bảo đại từ chức thoái vị, giải tán chính phủ đương nhiệm và giải tán luôn cả triều đại của ḿnh, trao toàn quyền cho Hồ Chí Minh, và Việt minh, trên thực tế là trao toàn quyền chính thống cho đảng Cộng Sản đông Dương, một "chi bộ" của Cộng Sản Quốc Tế, là nhân vật và tổ chức mà chính vua Bảo đại và toàn dân Việt Nam chưa biết rơ, th́ đó là một thái độ thiếu chính trị và thiếu trách nhiệm. đúng như Lenin đă nói: "nhiệt t́nh cộng với dốt nát bằng phá hoại". Không kể những hậu quả tai hại không lường sau đó, kết quả tại hại trực tiếp mà mọi người đềm cảm thấy là Việt Minh đă tàn sát không gớm tay tất cả những người yêu nước có uy tín khác, bất chấp nhu cầu đại đoàn kết dân tộc, bất chấp khát vọng ưu tiên của nhân dân Việt Nam là tự do, độc lập, thống nhất quốc gia và thống nhất ḷng người. Huỳnh Phú Sổ, một nhật vật yêu nước, có uy tín lớn lao tại miền Nam lúc đó, đă cùng với nhiều người yêu nước không Cộng Sản khác, đă trở thành nạn nhân của Cộng Sản đệ Tam. Ngày 25/8/1945 Việt Minh tại miền Nam tổ chức một cuộc biểu t́nh và cướp chính quyền tại Sài G̣n bằng cách tuyên bố danh sách Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ gồm 8 ủy viên trong đó Cộng Sản là 5 người và Trần Văn Giàu tự phong làm chủ tịch Ủy Ban. Ngày 2/9/1945 Hà Nội và Sài G̣n đều biểu t́nh, Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn độc Lập và ra mắt đồng bào tại hội trường Ba đ́nh. Ngày 7/9/1945 các đảng phái quốc gia và Cộng Sản đệ Tứ phản đối đả đảo Lâm Ủy Hành Chánh, Trần Văn Giàu, Cộng Sản đệ Tam, nhượng bộ, mở rộng thành phần và Phạm Văn Bạch được bầu làm chủ tịch Ủy Ban. Ngày hôm sau, ngày 8/9/1945 một biến cố quan trọng xẩy ra tại miền Tây: Phật Giáo Ḥa Hảo biểu t́nh tại Cần Thơ và đây là lần đầu tiên trong lịch sử chính trị VN, đă có một cuộc biểu t́nh chống độc tài, cũng có nghĩa là chống chính sách độc tôn của Cộng Sản. đây là lần đầu tiên tại VN, việc chống độc tài và cổ vơ dân chủ được công khai bày tỏ với sự tham dự của quần chúng. Cuộc vận động cho tự do dân chủ tại Việt Nam hiện nay, và có lẽ sẽ kéo dài qua thế kỷ 21 sắp tới, được bắt đầu từ ngày hôm đó tại Cần Thơ, ngày 8/9/1945. Và biến cố này đă được thai nghén từ chủ trương xây dựng dân chủ, chống độc tài dưới mọi h́nh thức của Huỳnh Phú Sổ. Sau cuộc biểu t́nh chống Thực Dân, chống độc tài quy tụ khoảng 20.000 người, những người cầm đầu là Huỳnh Thạnh Mậu, em ruột của Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Hoành, trưởng nam ông Trần Văn Soái, Nguyễn Xuân Thiếp, đại diện PGHH được phái ra Hà Nội tiếp xúc với Tổng Bộ Việt Minh, bị gán cho tội "âm mưu cướp chính quyền và chiếm tỉnh Cần Thơ" và đều bị bắt giam và bị đưa ra xử tử h́nh tại vận động trường Cần Thơ ngày 7/10/1945, dù rằng cuộc biểu t́nh ngày ban tổ chức đă thông báo và có xin phép, và được Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh cho phép biểu t́nh. Ngoài ra, sau vụ này, hàng ngàn tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo bị Việt Minh giam cầm và tàn sát. Ngày 9/9/1945 Việt Minh bao vây trụ sở Phật Giáo Ḥa Hảo ở số 8 đường Sohier, gốc đường Miche để bắt Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ nhưng không bắt được. Sau biến cố này, ông phải cải trang, trốn tránh và lưu lạc ra vùng hẻo lánh ở ngoại ô và các tỉnh lân cận. Ngày 13/9/ công an Việt Minh t́m bắt các lănh tụ quốc gia gần gủi với Huỳnh Phú Sổ như Vũ Tam Anh, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Lương Trọng Tường và lănh tụ đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu. Ngày 13/9 quân đội Anh do tướng Douglas Gracey chỉ huy đổ bộ xuống Sài G̣n giải giới quân Nhật từ vĩ tuyết 16 trở xuống. Ngày 15/9 quân đội Trung Hoa Dân Quốc do tướng Lư Hán chỉ huy kéo xuống Hà Nội giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyết 16 trở lên. Cả Anh và Trung Hoa Dân Quốc đều không thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 16/9 quân Pháp đổ bộ Sài G̣n. Tướng Gracey phóng thích và vơ trang các phạm nhân Pháp. Ngày 23/9 quân Pháp tấn công và chiếm đóng các cơ sở hành chánh tại Sài G̣n. Ngày 24/9 bốn sư đoàn dân quân cách mạng nhất tề đứng dậy chống Pháp. Cuộc Kháng Chiến Nam Bộ bắt đầu. Các lực lượng Việt Minh rút chạy, chỉ có các lực lượng dân tộc liều chết chống quân Pháp. Ngày 27/9 một số lănh tụ dân tộc nhóm họp ở Chợ Lớn thành lập Chánh Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Quốc để tổ chức kháng chiến. Ngày 28/9 đại tá Pháp Cedille đề nghị ngưng chiến, nên sau một ngày thương thuyết, hai bên Việt-Pháp đồng ư hưu chiến kể từ ngày 1/10. Nhân dịp hưu chiến, bộ máy công an Việt Minh đă bao vây bắt giữ tất cả các lănh tụ quốc gia như Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, Trần Quang Vinh, Bùi Quang Chiêu, có người bị sát hại ngay, đặc biết là Việt Minh đă bắt giữ và tán sát gần một trăm nhân vật Cộng Sản đệ Tứ, tất cả đều bị chôn sống ở sông Ḷng Sông, trong đó có những nhân vật tên tuổi, đă có thành tích đấu tranh chống Pháp như Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch... |
| ||||
|
Ngoài ra, ông Tạ Thu Thâu, 39 tuổi, lănh tụ nhiều uy tín, tài ba, đức độ, can trường của Cộng Sản đệ Tứ khuynh hướng Trotsky, và một nhà ái quốc tên tuổi, suốt đời hy sinh chống Pháp, đă từng bị Thực Dân tù đày, tra tấn đến tàn phế thân thể, cũng đă bị những người Cộng Sản đệ Tam, khuynh hướng Stalin, sát hại, thủ tiêu tại cánh đồng Dương Liễu trên bờ biển Mỹ Khê vào tháng 9/1945. điều đáng nói là chính Trần Văn Giàu đă hạ lịnh thủ tiêu Tạ Thu Thâu, dù Thâu là thầy dạy học của Giàu, đă tận t́nh giúp đỡ Giàu c̣n du học bên Pháp và coi Giàu như nghĩa đệ. Hay Hồ Văn Ngà, lănh tụ đảng Việt Nam Quốc Gia độc Lập, cũng như hầu hết mọi người yêu nước đương thời, tuyên bố "sẵn sàng phục vụ bất cứ ai có tài cứu quốc", đă cùng các lănh tụ quốc gia khác như Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm thành lập Ủy Ban Phong Tỏa đô Thành Sài G̣n-Chợ Lớn để ngăn cản bước tiến quân của Thực Dân Pháp, và Ủy Ban làm việc khác hữu hiệu, trong khi các cán bộ lănh đạo Việt Minh đă bỏ chạy, thế nhưng ông nửa đêm bị công an Việt Minh tới bắt đem đi mất tích, sau đó ông bị đâm chết ở Kim Quy đá Bạc (Rạch Giá) thi hài thả trôi dưới sông. Trong thời gian này, hàng ngàn nhân vật quốc gia, các đảng viên đảng phải quốc gia và nhiều tăng sĩ Phật Giáo, chức sắc Cao đài, tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo cũng đều bị Việt Minh sát hại dưói nhiều h́nh thức rất dă man. Không những Việt Minh sát hại những lănh tụ quốc gia, không đồng chính kiến với Cộng Sản, mà c̣n giết hại nhiều người yêu nước và vô tội khác để giành độc quyền lănh đạo và gieo rắc sự khủng bố, sợ hăi trong dân chúng. Tại Sài G̣n cũng như tại Hà Nội, Việt Minh đă ḥa hoản với Thực Dân Pháp, với quân anh, với quân Trung Hoa để rảnh tay tiêu diệt những người yêu nước đang kháng chiến chống Pháp. Dưới các chiêu bài "tố cáo bọn phản quốc", "truy lùng Việt Gian", Việt Minh, tức Cộng Sản, đă tàn sát rất nhiều người yêu nước. Phong trào truy lùng, xử án, thảm sát "Việt Gian" này khởi đầu ở miền Nam sau lan ra khắp nơi. Ai bị gán tội Việt gian th́ khó thoát chết và thường đều bị giết dưới h́nh thức chặt đầu, chặt làm ba khúc, mỗ bụng, chôn sống... Thời đó chính quyền kháng chiến ở trong tay Việt Minh nên họ the hồ chụp mũ gán ghép cho những người đối lập, bất đồng chính kiến hay cả nhữngngười đang kháng chiến trong hàng ngũ Việt Minh nhưng có uy tín trong quần chúng cái mũ "Việt Gian", "Phản động" để dễ dàng sát hại và bôi đen, triệt hạ uy tín các nạn nhân của họ. Trong khi các lực lượng kháng chiến yêu nước do những người không Cộng Sản lănh đạo liều chết chống quân xâm lăng, th́ người đứng đầu Cộng Sản tại Sài G̣n lúc đó là Trần Văn Giàu tập trung lực lượng Việt Minh đi giết hại những người yêu nước và sau đó trốn chạy qua tuốc bên Thái Lan và theo hồi kư của Trịnh Hưng Ngẫu th́: Trần Văn Giàu, chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ (của Việt Minh), chạy thoát sang Bangkok và gặp tôi ngày 13/6/1946. Trần Văn Giàu thú nhận rằng chính hắn ra lịnh thủ tiêu gần 2.500 cán bộ quốc gia trong mấy tháng nắm chính quyền". (Thành Nam, trang 364). Những sự giết hại tàn bạo, quy mô này của những phần tử sắt máu cầm đầu Việt Minh (tức Cộng Sản đệ Tam, do Hồ Chí Minh lănh đạo) chưa từng có trong lịch sử chính trị Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đứng trong giai đoạn sinh tử, dầu sôi lửa bỏng, đă tạo nên một bước ngoặc bi thảm trong lịch sử, trong chính trị và trong sinh mệnh dân tộc: dân tộc bị một ư hệ cuồng tín, một chính đảng sắt máu nắm quyền lănh đạo, chặt nát, phân đôi quốc dân, gây nội chiến, hận thù, phân hóa cùng cực trong ḷng dân tộc với những hậu quả tai hại khủng khiếp không thể lường được, tai hại hơn sự thống trị 80 năm của Thực Dân Pháp. đảng Cộng Sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát trong năm 1945, 1946, 1947 và những thảm họa mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu trong suốt 50 năm qua. Tài liệu mới đây của lănh tụ công đoàn Nguyễn Hộ cũng thú nhận Cộng Sản đă sát hại rất nhiều chức sắc, tín đồ Cao đài trong thời gian này. Hay tài liệu gần nhất đây của Ḥa Thượng Quảng độ cũng tố cáo những người Cộng Sản cuồng sát "ngay sau ngày Cách mạng thành công, ngày 19/8/1945, sư phụ tôi là ḥa thượng Thích đức Hải, trụ tŕ chùa Linh Quang, tỉnh Hà đông, bị Cộng Sản giết hồi 10 giờ sáng v́ bị gán cho tội "Việt gian bán nước", sư bá của tôi là ḥa thượng Thích đại hải trụ tŕ chùa Pháp Vân, tức chùa Dâu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, đă bị Cộng Sản bắt vào năm 1946, sau đó đă chết... " Không những thế sư tổ của H.T. Quảng độ là ḥa thượng Thích Thanh Quyết, trụ tŕ chùa Trà Lung Trung, tỉnh Nam định, cũng bị bức tử chết trong vụ đấu tố ruộng đất hồi năm 1954. Chỉ riêng sự phụ, sư bá, sư tổ của H.T. Quảng độ mà đều bị giết hại hết th́ khắp cả nước, trong suốt thời gian từ 1945 đến nay, nghĩa là từ khi Cộng Sản nắm quyền, biết bao nhiêu tăng sĩ và cư sĩ Phật tử đă bị Cộng Sản sát hại? Có thể nói trong giai đoạn này, cũng như trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Phật giáo đă bị tàn sát, bức hại một cách quy mô và vô cùng rộng lớn. Trong khi Thiên Chúa giáo được tập trung thành từng vùng, tuy cô lập nhưng đông đảo, đồng nhất, dễ dàng tự bảo vệ, nên ít bị bắn giết, đàn áp. Trong khi Phật giáo trăi rộng khắp trong nước và thường có những nhân vật, hoặc tăng sĩ hoặc cư sĩ, là những người có uy tín nhất trong địa phương và thường tham gia, ủng hộ các đoàn thể dân tộc chống Pháp đương thời nên rất dễ bị Việt Minh chụp mũ là Việt gian, phản động để giết hại. Một vị cao tăng như Ḥa Thượng Thích đại Hải, trụ tŕ một tổ đ́nh lâu đời và lớn vào bậc nhất trong nước, là chùa Dâu, mà c̣n bị Việt Minh giam cầm, bức tử, v́ Ngài đă tham gia, hổ trợ cho Việt Nam Quốc Dân đảng, th́ những nhân vật Phật giáo yêu nước khác, ít tên tuổi hơn, lại càng dễ bị thủ tiêu, sát hại. Riêng Phật Giáo Ḥa Hảo th́ chỉ trong năm 1945, sau vụ biểu t́nh chống độc tài ngày 8/9 ở Cần Thơ, trên dưới 10.000 cán bộ và tín đồ đă bị sát hại. Nếu kể luôn cả thời kỳ tàn sát quy mô, sau khi Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ bị ám hại, th́ con số tín đồ PGHH bị Việt Minh Cộng Sản giết có thể lên đến trên 25.000 người. điều lạ lùng là trong khi một tôn giáo cộng tác chặt chẽ và làm tay sai trung thành cho Thực Dân suốt 80 năm, là Thiên Chúa Giáo, th́ lại không bị thiệt hai bao nhiêu trong thời kỳ này, khi Thực Dân bị lật đổ và chưa kịp phục hồi sự thống trị của chúng. Trong khi đó những tôn giáo thuần túy dân tộc, yêu nước chân thành và tích cực đóng góp cho việc kháng chiến cứu quốc, từ Phật Giáo, Cao đài, đến Phật Giáo Ḥa Hảo, th́ lại bị bắn giết, thủ tiêu hàng loạt và vô cùng tàn nhẫn. Bởi chính những người nhân dân tộc tộc, kháng chiến, giải phóng, cứu quốc, cách mạng, dân chủ mới... Ngày 4/10/1945 tướng Pháp Leclerc đến Sài G̣n với một quân lực hùng hậu và tuyên bố tái lập trật tự trên toàn Nam Kỳ trong ṿng ba tháng và sau khi chiếm tất cả các nơi, cuối cùng, ngày 4/2/1946, quân Pháp chiếm tỉnh lỵ Cà Mâu, tỉnh cực Nam của miền Nam. Trước cuộc tái xâm lăng của Thực Dân Pháp, những người Cộng Sản đứng đầu Lâm Ủy Hành Chánh, được cải tổ thành Ủy Ban Nhân Dân Nam Bộ do Việt Minh lănh đạo, theo nguyên tắc, đă cướp được chính quyền trên toàn miền Nam, đă bỏ chạy tứ tán, kẻ chạy tuốt ra miền Bắc như Dương Bạch Mai, Huỳnh Thiện Nghệ, kẻ chủ chốt là Trần Văn Giàu chạy tuốt qua Thái Lan. Trong khi đó các lực lượng không Cộng Sản liều chết chống quân giặc. Trước sự tan ră thảm hại của Việt Minh (Nguyễn Thành Phương) vào Nam xây dựng kháng chiến Nam Bộ theo đường lối lănh đạo của đảng Cộng Sản đông Dương. F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc. Cuộc đại tàn sát năm 1945 và việc kư kết Hiệp định Sơ Bộ ngày 6/3/1946 giữa Hồ Chí Minh và Pháp, cho phép quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc làm cho giới kháng chiến quốc gia phải xét lại toàn bộ vấn đề và họ quyết định phải phối hợp hành động và nắm lấy thế chủ động, không để cho Cộng Sản đệ Tam thao túng kháng chiến. Bởi vậy, Vũ Tam Anh, tư lịnh đệ nhị sư đoàn dân quốc cách mạng, đă triệu tập một hội nghị chịnh trị - quân sự bao gồm tất cả các lực lượng đang kháng chiến chống Pháp tại miền Nam, kể cả Việt Minh. Hội nghị này đă quy tụ đại diện các tôn giáo, đặc biệt Cao đài và Phật Giáo Ḥa Hảo, của Việt Nam Quốc Dân đảng, Tổng Công đoàn và Kỳ Bộ Việt Minh, Việt Nam quốc Gia độc Lập đảng, đảng Huỳnh Long và đại diện tất cả các lực lượng vơ trang kể cả các lực lượng vơ trang của Việt Minh (Vệ Quốc đoàn), B́nh Xuyên, Phật Giáo Ḥa Hảo, Cao đài. Huỳnh Phú Sổ đă có vai tṛ quan trọng trong hội nghị này và uy tín ông, dù khi đó chỉ 26 tuổi, bao trùm tất cả, nên sau ba ngày thảo luận sôi nổi, các đại biểu đă quyết định thành lập một tổ chức chung tên là Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp với mục tiêu đoàn kết toàn dân chống Pháp và bầu Hoành Anh, bí danh của Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ PGHH, làm chủ tịch mặt trận. Các thành phần lănh đạo mặt trận và bộ phận vơ trang của nó, là Ủy Ban Quân Sự Tối Cao, phản ứng đúng thực trạng kháng chiến lúc đó tại Nam Bộ: đại đa số là không Cộng Sản, Cộng Sản đệ Tam chỉ là thiểu số. Tuy là Giáo Chủ một tôn giáo và chủ tịnh của Mặt Trận, nhưng Huỳnh Phú Sổ, trong giai đoạn kháng chiến gian nan này, đă sống chung với các dân quân, cùng họ xông pha lằn tên mũi đạn. Một hôm ngủ với các chiến sĩ của Trung đoàn 25, sáng dậy có một thanh niên thấy chân ḿnh đang gát lên bụng của ông, anh ta vội rút chân chửa thẹn: "Thưa Giáo Chủ, đêm qua tôi mơ thấy có đám mây nhỏ dám che khuất mặt trời", ông cười đáp: "Có sao. đó là sự tuần hoàn của tạo hóa". (TN, t 383-397). Mặt khác, tuy em ruột của Huỳnh Phú Sổ và nhiều đệ tử, tín đồ ruột thịt bị Việt Minh sát hại, nhưng v́ đại nghĩa, v́ việc kháng chiến chống ngoại xâm, ông bỏ qua, không thù oán ǵ Việt Minh mà c̣n đem hết ḷng thành ra hợp tác, trong tinh thần xóa bỏ hận thù, đoàn kết toàn dân chống giặc, ông đă nhận lời, ngày 14/11/1946, tham gia Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ (do Việt Minh và Cộng Sản đệ Tam lănh đạo) với chức vụ Ủy Viên đặc Biệt (Ủy Viên Quân Sự của Ủy Ban này là trung tướng Nguyễn B́nh). Tham gia Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến, ở cương vị khiếm tốn là ủy viên đặc biệt, là một hy sinh v́ đại nghĩa chống Pháp, v́ lư tưởng ḥa giải, đoàn kết dân tộc và nói lên tinh thần từ bi hỹ xă, không hận thù, không coi ai là kẻ thù của ông, cũng như thể hiện lập trường bất di bất dịch của Phật giáo là mong ước mọi người Việt Nam, không phân biệt chủ nghĩa, chính kiến, tôn giáo, địa phương, giai cấp, quá khứ, cùng sống chung ḥa b́nh với nhau, cùng nắm tay nhau để cứu nước dựng nước. Huỳnh Phú Sổ tuyên bố về sự tham chính này như sau: - để tỏ cho quốc dân và chánh phủ Việt Minh thấy rơ ông chủ trương thống nhất lănh thổ và độc lập quốc gia; - để biểu dương tinh thần đoàn kết của dân tộc hầu mau đem lại thắng lợi cuối cùng; - để tỏ cho các đảng phái thấy rằng ông không khi nào có những tham vọng cao sang vương bá hay v́ hiềm riêng mà hờ hững với phận sự cứu quốc. (Dật Sĩ & Nguyễn Văn Hầu, sđd, t 272). |
| ||||
|
Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ và một số trí thức khuynh hướng dân tộc, dân chủ, công bố việc thành lập chính đảng mang tên Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng, gọi tắt là Dân Xă đảng. ông chính là linh hồn, lành lănh tụ tối cao của chính đảng cách mạng này. Và ông đă truyền một thông điệp sau đây cho toàn thể tín đồ PGHH: "1/ Việt Minh tranh đấu chánh trị, nếu Thầy đem đạo (PGHH) ra tranh đấu th́ không thích hợp. V́ đạo lo tu hành chơn chất. Nên Thầy phải tổ chức đảng chánh trị, mới thích ứng nhu cầu t́nh thế nước nhà; 2/ Các nhà ái quốc chơn chánh trong nước mặc dầu nhận Thầy là một nhà ái quốc, nhưng không hề cùng hiệp chung với Thầy dưới danh Nghĩa PGHH để lo việc quốc gia, bởi lẽ anh em ấy không tu hành như ḿnh, hoặc giả đă có đạo rồi th́ không thể bỏ đạo quy y PGHH. V́ vậy Thầy phải tổ chức chánh đảng để anh em ấy có điều kiện tham gia. Họ chỉ phải giữ kỷ luật của đảng mà thôi, c̣n tôn giáo th́ riêng ai nấy giữ; 3/ Vậy tất cả tín đồ anh em, nếu thấy ḿnh c̣n nặng nợ với Non Sông Tổ Quốc, thương nước thương dân, hăy tham gia đảng VNDCXHđ mà tranh đấu. đây là phương tiện để anh em hành xử Tứ Ấn". (Thành Nam, sđd, t 405). Thật là rơ ràng minh bạch. Và chỉ thông điệp ngắn ngủi này của Giáo Chủ PGHH Huỳnh Phú Sổ trong tức thời Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng đă có hàng vạn đảng viên: hầu hết t́n đồ PGHH đều đáp ứng lời kêu gọi này và gia nhập "đảng của đức Thầy". Tuy hầu như tất cả đảng viên là tín đồ PGHH, nhưng đặc biệt hơn nữa, là Huỳnh Phú Sổ đă mời những nhà ái quốc, những nhà trí thức dân tộc không phải là tín đồ PGHH tham gia trong vai tṛ lănh đăo đảng như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Trần Văn Ấn, Nguyễn Văn Sâm, Lê Văn Thu... Khi tín đồ lo ngại việc đem giao trọn quyền lănh đạo đảng cho các nhân sĩ ngoài đạo, Huỳnh Phú Sổ giải thích: "Phàm đă hợp tác th́ nên thành thật. đă tín nhiệm th́ phải giao phó nhiệm vụ, đặt để đúng chỗ, xứng với tài năng. Việc cứu nước là việc ḿnh nên ủng hộ người ta làm, chớ đừng tỵ hiềm, tranh giành địa vị mà hư việc lớn. Ḿnh nên thực tâm đem khối quần chúng hùng hậu của PGHH mà ủng hộ các chiến sĩ cách mạng tranh đấu cho đất nước" (Thành Nam, sđd, t 417). Thật là một cái nh́n sáng suốt, cao cả của một nhân cách lớn và một nhà ái quốc lớn. Các tăng sĩ Phật Giáo dính dự vào chính trị trong thập niên 60, 70 sau này đă thiếu cái sáng suốt, cao cả này, cái nhân cách lớn và tấm ḷng yêu nước vĩ đại này. đặc điểm khác nữa là ngay từ giữa thập niên 40, Huỳnh PHú Sổ và VNDCXHđ đă khẳng định trong Tuyên Ngôn lập đảng rằng: "VNDCXHđ là một đảng Dân Chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chỉa nghĩa dân chủ: Chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân. đă chủ trương toàn dân chánh trị nên đảng chống độc tài bất cứ dưới h́nh thức nào. VNDCXHđ là một đảng cách mạng xă hội... " (Tuyên Ngôn 21/9/1946). V́ chủ trương dân chủ, chống độc tài nên số phận của VNDCXHđ và những người lănh đạo thật là thảm khốc khi đất nước bị những chế độc độc tài thống trị: Người sáng lập và linh hồn là Huỳnh Phú Sổ cùng các ủy viên trung ương Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Tâm đều bị Việt Minh và Việt gian ám hại và tổng bí thư Nguyễn Bảo Toàn bị chế độ Ngô đ́nh Diệm thủ tiêu bằng cách bắt bỏ vào bao bố, siết cổ bằng giây thừng và ném xác xuống sông Nhà Bè và vị tư lịnh Quân lực Ḥa Hảo, tướng Lê Quang Vinh bị chế độ độc tài Diệm-Nhu xử tử h́nh và đem xác dấu mất biệt, không cho thân nhân chôn cất thờ cúng. Sau 1975, hai vị Tổng Bí thư VNDCXHđ là Tŕnh Quốc Khánh và Phan Bá Cầm đều chết trong lao tù Cộng Sản và hàng ngàn, hàng vạn các bộ, chiến sĩ Dân Xă hết bị Tây giết, lại bị Cộng Sản giết, sau đó lại bị Cần Lao Thiên Chúa Giáo giết. Thật là một sự hy sinh tột cùng, vô bờ bến mà Huỳnh Phú Sổ và các đệ tử, tín đồ, cán bộ, đảng viên và chiến hữu của ông đă dâng hiến cho Tổ Quốc Việt Nam suốt 50 năm qua. đây mới thật là Tứ Ấn, đây mới thật là hạnh nguyện Bồ Tát, mới thật là đại thiền sư, đại Phật tử... Lúc đầu Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp với hai nhân vật đầu năo là chủ tịch Hoàng Anh (Huỳnh Phú Sổ) và ủy viên tuyên huấn Lê Trung Nghĩa đă mạo hiểm về đặt cơ sở lănh đạo tại Chợ Lớn, trong ṿng kiểm soát của Thực Dân. ở đây ông giả trang làm một người Hoa kiều. Một thiếu nữ đă tỏ t́nh yêu ông và ông đă làm một bài thơ t́nh tuyệt diệu để cảnh tỉnh giai nhân, đây là một giao thoại lư thú giữa Giáo chủ, Lănh Tụ và giai nhân. Nhan đề của bài thơ là T́nh Yêu, và có rất nhiều chữ yêu, chữ t́nh, nhưng đây là t́nh yêu của bồ tát, của bậc siêu phàm và giai nhân là một chúng sanh đang được khai ngộ, cứu độ khỏi bể t́nh hạn hẹp, đau khổ để vươn tới biển t́nh nhân loại bao la, cao đẹp. Có lẽ đây là bài thơ về t́nh yêu tuyệt vời nhất trong lịch sử thi ca thế giới: Yêu đời, yêu lẫn cả non sông. T́nh yêu chan chứa trên hoàn vũ, Không thể yêu riêng khách má hồng. Nếu khách má hồng muốn được yêu, Th́ trong tâm trí hăy xoay chiều. Hướng về phụng sự cho nhơn loại, Sẽ gặp t́nh ta trong khối yêu. Ta đă đa mang một khối t́nh, Dường như thệ hải với sơn minh.
T́nh yêu mà chẳng riêng ai cả, Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh." Những tháng cuối năm 1946, ông di chuyển về Hậu Giang và gởi ông Nguyễn Bảo Toàn sang Trung Hoa và Hồng Kông, tiếp xúc với các đảng phái quốc gia, từ đó đưa đến việc h́nh thành Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc ngày 27/2/1947 tại Nam Ninh với Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách Mạng đồng Minh Hội) làm chủ tịch, Nguyễn Tường Tam, (Việt Nam Quốc Dân đảng, nguyên là bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp) ủy viên ngoại giao. Tổng thư kư là Nguyễn Bảo Toàn thuộc Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng và đại diện cho Phật Giáo Ḥa Hảo và Cao đài. Nguyễn Văn Sâm, thuộc Việt Nam Dân Chủ Xă Hội đảng, là đại diện trong nước. (TN, sđd, t 407-423). đây là lần đầu tiên các tổ chức do Huỳnh Phú Sổ thành lập đă có những sinh hoạt vượt ra ngoài Việt Nam để đi ra hải ngoại, trước đó, vào đầu năm 1945, ông cũng đă gởi một đại diện tháp tùng xứ bộ Nam Kỳ của Việt Minh để đi dự hội nghị Tân Trào của Mặt Trận Việt Minh. Chính Mặt Trận Toàn Quốc này đă là lực lượng nồng cốt đưa đến việc h́nh thành giải pháp Bảo đại, làm tiền đề cho một "Miền Nam Quốc Gia" về sau. Tuy nhiên, khi đó, tất cả những nhà cách mạng dân tộc đă góp máu xương cho sự h́nh thành một Miền Nam Tự Do th́ đều đă bị sát hại và kẻ thừa hưởng sự hy sinh của bao chiến sĩ quốc gia lại là những người không đổ xương máu ǵ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đó là tập đoàn Ngô đ́nh Diệm. Không những thế, sau khi nắm quyền nhờ dựa vào ngoại bang, họ c̣n tàn sát khốc liệt những nhà ái quốc c̣n sống sót đă hy sinh tất cả cho đại cuộc kháng chiến chống Thực Dân và đấu tranh chống độc tài Cộng Sản, Vũ Tam Anh, tư lịnh đệ tam sư đoàn và tổng thư kư Mặt Trận Thống Nhứt Quốc Gia, Nguyễn Bảo Toàn, tổng bí thư Dân Xă đảng đều bị chế độ Diệm-Nhu thủ tiêu, sát hại là những bằng chứng của tội ác tiêu diệt các lănh tụ quốc gia của chế độ "quốc gia" giả hiệu và chế độ độc tài phát xít chính cống này. đầu năm 1947, Huỳnh Phú Sổ và các chiến hữu của ông tiến hành việc tái bố trí các lực lượng quân sự kháng chiến chống Pháp bao gồm các đơn vị vơ trang của Cao đài, Phật Giáo Ḥa Hảo, đại Việt, B́nh Xuyên, theo "chiến thuật liên khu miền Tây", nhằm chiếm đồng Tháp Mười nhưng đă bị Thực Dân Pháp oanh kích liên tục bằng máy bay và trên bộ bị các đơn vị quân sự của Việt Minh phục kích đánh phá, nên chỉ có các lực lượng thuộc Phật Giáo Ḥa Hảo và đại Việt rút được về đồng Tháp Mười (TN, sđd, ch 10). |
| ||||
| G/ Những ngày hoạt động cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ. Tại miền Tây, sự xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Ḥa Hảo gia tăng, tạo một không khí căng thẳng, nghiêm trọng trong hàng ngũ những người chống Pháp, nên Huỳnh Phú Sổ đă đồng ư tham dự một phiên họp ḥa giải với đại diện Việt Minh tại Tân Phú, đồng Tháp Mười và đêm 16/4/1947. Tại đây ông bị Việt Minh ám hại. Toàn bộ kế hoạch giành thế chủ động kháng chiến miền Nam cho các lực lượng dân tộc bị găy đổ và từ đó, tại đồng bằng miền Nam cũng như trên khắp toàn quốc Việt Minh độc quyền lănh đạo kháng chiến chống Thực Dân Pháp. Và cũng từ đó trên chính trường Việt Nam, chỉ c̣n hai thế lực đối đầu: Cộng Sản và toàn khối dân tộc kháng chiến chống ngoại xâm đối đầu với Thực Dân Pháp và những thế lục tay sai. Các phần tử kháng chiến không Cộng Sản bị kẹp cứng và bị nghiền nát trong một cạm bẫy lịch sự khắc nghiệt, đau đớn: ở ngoài bưng kháng chiến th́ bị Cộng Sản ám hại, về thành th́ bị coi như đầu hàng giặc Pháp. V́ thất bại không chủ động lănh đạo kháng chiến nên các lực lượng dân tộc bị gạt ra ngoài ḍng vận hành chính của lịch sử. Lịch sử từ đó trở đi chỉ c̣n là sự thư hùng của hai thế lực Cộng Sản bản xứ do Cộng Sản Quốc Tế chỉ đạo và chống Cộng do các phần tử tay sai ngoại bang lănh đạo. đa số nhân dân không có con đường nào khác hơn là ủng hộ, tham gia kháng chiến chống ngoại xâm theo truyền thống anh hùng của dân tộc. Kết cục là dân tộc và Việt Minh đă thắng, đất nước bị chia đôi do cục diện chiến tranh lạnh và sự can thiệp của các cường quốc. Cộng Sản thống trị miền Bắc, từ 1954, một cách chuyên chính và sắt máu. Tại miền Nam, Pháp thua trận ra đi, Hoa Kỳ thay thế và đưa Ngô đ́nh Diệm về cai trị bằng một chế độ độc tài phát xít gia đ́nh trị và Thiên Chúa Giáo trị. Quốc dân Việt Nam và các lực lượng dân tộc, dân chủ bị nghiền nát thành tro bụi giữa hai chế độ phi dân tộc và phản dân chủ. Huỳnh Phú Sổ và biết bao nhà ái quốc vĩ đại khác đă ra đi không trở lại và nhân dân Việt Nam bị đánh đắm và chết đuối giữa đại dương độc tài, chiến tranh, nô lệ, chậm tiến và hận thù, phân hóa cùng cực... Hăy khóc lên đi hỡi quê hương yêu dấu... Cuốn Phật Giáo Ḥa Hảo Trong Ḍng Lịch Sử Dân Tộc của ông Thành Nam cho biết một bối cảnh rộng lớn hơn và những nguyên nhân sâu xa hơn đưa đến việc Huỳnh Phú Sổ bị ám hại. đó là việc toàn thể các lực lượng kháng chiến không Cộng Sản tại miền Nam, được kết hợp trong Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp, mà chủ tịch, hay người lănh đạo tối cao, là Hoàng anh, tức Huỳnh Phú Sổ, quyết định kháng chiến độc lập, ngoài sự lănh đạo của Việt Minh và muốn đoạt thế chủ động kháng chiến tại miền Hậu Giang, bằng chiến lược rút lực lượng quân sự về miền Tây, tức chiến khu 8 đồng Tháp và chiến khu 9 U Minh, tạm bỏ chiến khu 7 cho tướng Nguyễn B́nh của Việt Minh tunh hoành. Ngoài ra trên mặt chính trị và ngoại giao, kết hợp với các lănh tụ đảng phái quốc gia tại miền Bắc, đă bị Việt Minh đánh bật ra khỏi Hà Nội và đang lưu vong ở Trung Hoa, thành một mặt trận rộng lớn hơn là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc. đây là nổ lực đe dọa sự độc quyền lănh đạo kháng chiến của Việt Minh và đương nhiên là đảng Cộng Sản, chính đảng lănh đạo Việt Minh, với quan niệm chính trị theo kiểu Stalin, tất nhiên đă có kế hoạch để ngăn chận và phá hoại ư đồ này. Cho nên việc ám hại Huỳnh Phú Sổ, một ủy viên của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, tức chính quyền Việt Minh tại miền Nam, không hẳn là quyết định tùy hứng của một cấp tỉnh ủy viên, mà có lẽ xuất phát từ giới lănh đạo cao cấp của Việt Minh. Số phận Huỳnh Phú Sổ đă gắn liền với sinh mệnh của phong trào kháng chiến thuần túy ái quốc và dân tộc tại miền Nam. Tác giả Thành Nam đă đánh giá đúng t́nh h́nh khi viết: "Nhưng đại sự đă bị ngừng trệ và mục tiêu chiến lược nói trên của các tổ chức đấu tranh quốc gia miền Nam đă không thực hiện được nữa. Biến cố xẩy ra đêm 16/4/1947 đă làm thay đổi tất cả: Việt Minh Cộng Sản ám hại vị lănh đạo Phật Giáo Ḥa Hảo trong một phiên họp tại địa điểm Tân Phú, đồng Tháp Mười. Toàn bộ kế hoạch tiến chiếm giành thế chủ động, mà một số chiến sĩ quốc gia đương thời hay gọi là "chiến thuật liên khu miền Tây" tiếp theo là biến cố 16/4/1947 kể trên, đă đưa cuộc diện miền Nam vào một khúc quanh quan trọng, tạo thay đổi lớn lao từ đó về sau"(trang 395). Những nổ lực của Huỳnh Phú Sổ và các lực lượng kháng chiến dân tộc đă không thay đổi được t́nh thế, là Việt Minh, dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, đă nắm được chính nghĩa kháng chiến, đă giành được chính quyền trên toàn quốc, từ Nam chí Bắc ngay từ mùa thu năm 1945. đă quy tụ được đại đa số những người yêu nước, đă nhận được sự hổ trợ, hy sinh vô tận của nhân dân và lănh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng những nổ lực ám hại Huỳnh Phú Sổ và những nhân vật ái quốc tên tuổi khác của những người lănh đạo Việt Minh cũng đă không thay đổi được t́nh thế, là Việt Nam bị phân làm hai, đất nước bị chia cắt, và phải mất 15 năm núi xương sông máu với năm triệu người chết và những hy sinh, tốn thất lớn lao, vô bờ bến, không thể tưởng tượng nổi của cả dân tộc, để tái lập sự thống nhất. Sự ra di của những nhà ái quốc chân chính, như Huỳnh Phú Sổ, chỉ có lợi cho những kẻ yêu nước giả dối và những nhà "quốc gia" giả mạo. Sự bất khoan dung của những người Cộng Sản giáo điều và t́nh h́nh lưỡng cực của thế giới sau đệ nhị thế chiến đă đưa đến việc thành lập một chính quyền không Cộng Sản tại miền Nam với những thành phần lănh đạo là những con cờ của ngoại bang. Năm 1954, 1955 nếu Huỳnh Phú Sổ vẫn c̣n th́ cục diện Việt Nam sẽ đi về đâu? Cuốn "Thất Sơn Mầu Nhiệm"của Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu cho biết những chi tiết về việc Huỳnh Phú Sổ bị ám hại như sau: "V́ trong bưng địch quân (quân Pháp) đốt phá nên vào lúc 9 gị tối ngày 23/3/1947 đức Thầy chuẩn bị cuộc di binh khởi hành tại Vàm Vè. đến 6 giờ sáng bữa sau, đoàn binh đến thôn Thủy đông. Chiều bữa đó, đoàn binh di chuyển đến thôn Thuận Nghĩa Ḥa (chiến khu 8) vào lúc 9 giờ tối. Lúc đó chi đội 4 và 25 của B́nh Xuyên đóng tại Sông Soài và Vịnh Sao. đức Thầy ở gần Bộ đội Lưu động số 2 đóng tại Cái Cỏ. Ngày 5/4/1947 vào lúc 2 giờ chiều, đức Thầy đi từ giă anh em trong Chi đội 4 và 25. đến 5 giờ chiều đức Thầy di binh về miền Tây. Vào lúc 1 giờ khuya đêm đó, đức Thầy đến trạm gác của Chi đội 18 (Việt Minh). đến 6 giờ sáng, đoàn binh đă Găy (kinh Găy). Vào lúc 8 giờ sáng, đức Thầy đến chợ Tháp Mười, 1 giờ trưa Ngài đến chợ Cái bào, 2 giờ chiều đến Ba Sao, 5 giờ chiều đến vàm kinh Phong Mỹ, 3 giờ rưỡi khuya đến ngọ Ba Răng... để cứu văn t́nh thế, đức Thầy đă từ giả chiến khu 7 (Miền đông) trở về chiến khu 9 (Miền Tây) v́ Ban Ḥa Giải (sự xung đột giữa Việt Minh và PGHH) gồm có ông Hoàng Du Khương (Việt Minh) Linh Mục Nguyễn Bá Luật (Công Giáo) ông Mai Văn Dậu (PGHH) đă trở thành vô hiệu. đức Thầy đặt văn pḥng gần ngọc rạch Ba Răng, thôn Phú Thành (Long Xuyên), tại nhà ông Bí Thơ (Dân Xă đảng) Ban Chấp Hành thôn ấy, nghĩa là kế cận Chi đội 30 Vệ Quốc đoàn Việt Nam do ông Nguyễn Giác Ngộ chỉ huy và Bộ đội Lưu động số 2 so ông Trần Văn Soái chỉ huy. Cách mấy bữa sau, đức Thầy có được thư mời dự hội nghị của Trần Văn Nguyên, đặc phái viên kiêm thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ. đức Thầy nhận lời. Thế là ngày 15/4/1947 lối 7 giờ sáng, đức Thầy xuống ghe đi với ba người chèo, bốn cận vệ quân, ông đại đội trưởng đại đội 2 chi đội 30 và ông Huỳnh Hữu Thiện (thư kư văn pḥng đức Thầy). Kể luôn đức Thầy th́ trong ghe có tất cả 10 người, vơ trang 4 mi tray dết, 3 súng lục. Lối 8 giờ sáng, ghé tới chợ Ba Răng, Trần Văn Nguyên xuống bến chợ đón rước đức Thầy. Mười lăm phút sau, đức Thầy đứng lên diễn thuyết tại chở này. Trước một số thính giả khá đông, Ngài kêu gọi hai bên Việt Minh và Dân Xă nên gát bỏ thù hiềm cá nhân để chung lo vận mạng của nước nhà. Trần Văn Nguyên đứng lên nối lời đức Thầy và cũng kêu gọi đoàn kết. Bữa ấy, đức Thầy dùng cơm trưa với Trần Văn Nguyên trong một căn phố gần đó. Lối 12 giờ trưa, Trần Văn Nguyên và một người thư kư xuống ghe đi chung với đức Thầy đến văn pḥng ủy ban hành chánh tỉnh Long Xuyên đóng tại ngọc rạch đốc Vàng Hạ (thôn Tân Phú). Tại đây, đức thầy và Trần Văn Nguyên có thảo ra nhiều tờ hiệu triệu kêu gọi hai bên đừng xô xát nhau và bố cáo cho dân chúng biết rằng hiện giờ các vị chỉ huy cao cấp hai bên đang bắt tay nhau lo việc ḥa giải. Sau khi dùng cơm chiều tại đây xong, đức Thầy xuống ghe lại nhà một tín đồ ở gần đó chừng 300 thước để nghỉ. Bữa sau, nghĩa là ngày 16/4/1947, lối 7 giờ sáng, đức Thầy trở lại chỗ cũ hội đàm với Trần Văn Nguyên và giàn xếp nhiều vụ xung đột. ông Ngô Trung Hưng, đại đội trưởng đại đội 2.30 và một nhân vật của Trần Văn Nguyên được phái đi các thôn trong tỉnh Long Xuyên để ḥa giải đôi bên. Sau khi dùng cơm trưa tại đây xong, đức Thầy xuống ghe nghỉ. ông Huỳnh Hữu Thiện vẫn c̣n ở trên văn pḥng với Trần Văn Nguyên. Vào khoảng 12 giờ trưa, đại đội 66 chi đội 22 do Bửu Vinh (ủy viên quân sự Việt Minh tại Long Xuyên) chỉ huy kéo binh kích xung quanh văn pḥng và trao cho ông Thiện một bức thơ gởi đức Thầy, yêu cầu Ngài cho yết kiến. Xem thơ xong, đức Thầy bước lên văn pḥng (ở trọn trong vùng binh của Bửu Vinh). Bốn tự vệ quân của đức Thầy cầm súng đứng bốn góc văn pḥng. Khi hầu chuyện với đức Thầy, Bửu Vinh có cử chỉ rơ rệt cừu thị. Măi đến 3 giờ chiều , Bửu Vinh đưa ra một bản phúc tŕnh báo cáo rằng ở Lấp Ṿ, Vàm Cống (Long Xuyên), Dân Xă giết Việt Minh nhiều lắm nên y yêu cầu đức Thầy đến tận nơi giàn xếp, đức Thầy trả lời: "để rồi tôi sẽ phái người đến đó". Bửu Vinh nhứt quyết buộc đức Thầy phải đi. đến đây cuộc bàn căi trở nên sôi nổi. Mặc dù biết ḿnh đang ở trong ṿng vây, đức Thầy cũng không tỏ vẻ khiếp đảm. Trái lại, Ngài biện luận hùng hồn làm cho đối phương nhiều phen im lặng. Sau rốt, Bửu Vinh cũng nhứt định yêu cầu đức Thầy phải đi. Thấy thế, đức Thầy ưng thuận đi nhưng với điều kiện là Bửu Vinh phải cùng đi với đức Thầy. Bưu Vinh từ khước và trả lời: "Nếu một nhân viên cao cấp của chánh phủ đi với những người trong đoàn thể Ḥa Hảo th́ cần phải có bộ đội Vệ Quốc đoàn vơ trang theo ủng hộ". đức Thầy trả lời với giọng đanh thép: "Nếu quư ông nói vậy, tại sao tôi có một ít người, không bộ đội ủng hộ mà dám đi vào sào huyệt của quư ông? Như thế là quư ông không thành thật". Bửu Vinh trả lời không được nên chịu đi và mời đức Thầy tới văn pḥng của y rồi sẽ đi luôn thể. đức Thầy hứa chịu. Bửu Vinh rút binh ra đóng căn cứ phía ngoài vàm. Liền khi đó, Trần Văn Nguyên trao cho đức Thầy một mảnh giấy và nói rằng: "Tôi vừa tiếp được tin điện của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ gởi xuống mời ông và tôi lập tức trở về miền đông dự phiên họp bất thường". Sau khi xem, đức Thầy nói: "Tôi không thể trở về miền đông dự phiên nhóm này v́ cần phải ở lại đây giải quyết cho ổn thỏa những vụ xung đột". Trần Văn Nguyên cho biết y phải đi 6 giờ chiều ngày đó mới kịp th́ giờ. |
| ||||
| Trời sẫm tối, Trần Văn Nguyên từ giă đức Thầy. Y lời hẹn, đức Thầy xuống he ra văn pḥng Bửu Vinh, có một liên lạc của Ủy Ban Hành Chánh dẫn đường. Trời tối như mực. đi một đỗi xa xa bỗng trên bờ có tiếng la: "Ghe ai đó? Tại sao giờ này đă thiết quân luật mà c̣n dám đi?". - "đi ra văn pḥng ông Bửu Vinh" người liên lạc trả lời. - "Ghe ghé lại". Một tiếng khác tiếp theo. đèn chóa rọi xuống ghe và có người ra lịnh tŕnh giấy tờ. ông Thiện lật đật chạy lên cho coi giấy. Th́ ra người hỏi đó là Bửu Vinh. Y hỏi ông Thiện: "ông Ủy Viên đặc Biệt có dưới ghe không? ". - "Có" đức Thầy ở dưới ghe vội vă trả lời. Bửu Vinh mời đức Thầy lên văn pḥng. Ngài liền đi với bốn tự vệ quân. Văn pḥng này đặt trong một ngôi nhà ngói. đức Thầy ngồi bàn giữa tiếp chuyện với Bửu Vinh, c̣n bốn tự vệ quân th́ cầm súng đứng hai bên cửa, cách đức Thầy một thước tây. Mười phút sau, lối 7 giờ rưỡi tối, bọn Việt Minh ở ngoài đi vô 8 người chia ra cặp nách bốn tự vệ quân của đức Thầy và đâm chết ba người. Người thứ tư, anh Phan Văn Tỷ, tức Mười Tỷ nhờ vơ giỏi và trí lanh nên thoát khỏi, chạy ra ngoài có bắn một loạt mi tray dết. Lúc anh Mười Tỷ né khỏi mũi dao găm của một trong hai chiến sĩ Việt Minh cặp nách anh th́ người chiến sĩ kia bị đồng chí của ḿnh đâm trúng té quị. Vừa lúc đó th́ đức Thầy, tù trước đến giờ vẫn t́nh tĩnh, lẹ làng thổi tắt đèn. Trong văn pḥng tối thui, không ai biết đức Thầy đi đâu cả. Tiếng súng nổ dữ dội... ông Thiện nhảy xuống rạch tẩu thoát. Ba anh chèo ghe chạy trước về báo tin cho các tướng lănh hay. Tiếng tù và nổi lên liên hồi, làm chấn động một gốc trời Tây. đoàn dân quân cương quyết đi báo thù. Nhưng vào lúc 12 giờ khuya, một người tín đồ PGHH ở gần chỗ xẩy ra cuộc bạo hành, chạy ngựa mang đến Phú Thành một bức thơ chính của đức Thầy trao tận tay ông ta. Bức thư ấy như vầy: "ông Trần Văn soái và ông Nguyễn Giác Ngộ. Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh bỗng có sự biến cố xẩy ra, tôi và ông Bửu Vinh suưt chết, chưa rơ nguyên nhân, c̣n điều tra, trong mấy anh em pḥng vệ không biết chết hay chạy đi, nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát th́ các ông đừng tin và đừng náo động. Cấm chỉ đồn đăi, cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu, hăy đóng quân tại chỗ. Sáng ngày tôi sẽ cùng ông Bửu Vinh điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ về sau. Phải triệt để tuân lịnh. Ngày 16/4/1947, 9 giờ đêm. (có kư tên) V́ bởi có lịnh của đức Thầy nên anh em sĩ binh Dân Xă cùng Ban Chỉ Huy các bộ đội phải triệt để tuân lịnh. Thế là từ ngày 16/4/1947 đến nay không ai biết đức Thầy lưu trú phương nào". (trang 275-181). (ở đây có bức thư, thủ bút của đức thầy trang 100) Những chi tiết khá đầy đủ, chính xác như trên đặt ra một số vấn đề. 4 Thứ nhất, về chuyện "Ḥa Hảo giết Việt Minh". Khi đó, trước khi Huỳnh Phú Sổ bị ám hại, cũng như từ cuộc tổng khởi nghĩa vào mùa thu năm 1945, chính quyền trên toàn quốc rơi vào tay của Việt Minh và từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1947, chính quyền Việt Minh đă có đủ th́ giờ để xây dựng lực lượng công an, bộ đội và guồng máy công quyền, tuy chưa đầy đủ, hùng mạnh nhưng đủ để triệt hạ các thành phần khác và làm chủ t́nh thế. Việc em ruột của Huỳnh Phú Sổ và các nhân vật lănh đạo khác của PGHH bị xử tử công khai vào cuối năm 1945 tại sân vận động Cần Thơ, sau cuộc buổi t́nh chống Việt Minh vào tháng 8 cùng năm, là một bằng chứng. Nên chính quyền Việt Minh giết hại các thành phần bất đồng chính kiến khác th́ có, và có bằng chứng rất nhiều, chớ có ai, lực lượng nào dám và có đủ lực lượng để đối đầu với Việt Minh? Nên sự cáo buộc trên không hẳn đúng sự thật. Trong một cuộc hội nghị vào cuối năm 1946, giáo sư Phạm Thiều, biệt hiệu Trường Phong, ủy viên tuyên huấn Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ (Việt Minh) có chỉ trích hành vi của tín đồ Ḥa Hảo ở miền Hậu Giang, đức Thầy trả lời: "đứng về mặt tôn giáo, tôi lấy đức hiếu sinh của nhà Phật làm tiêu chuẩn, song tôi đă ra làm chánh trị th́ những sự xô xát thương tâm do bên Việt Minh gây ra, tín đồ PGHH chỉ đứng về phương diện tự vệ mà thôi". Sự giải thích này đúng sự thật hơn (nhưng những ǵ xẩy ra sau khi Huỳnh Phú Sổ bị ám hại và một phần lực lượng quân sự-chính trị PGHH ra cộng tác với Pháp để chống lại Việt Minh th́ đó là chuyện khác và việc này vượt quá thẩm quyền của Huỳnh Phú Sổ, cũng như những vấn đề liên hệ đến PGHH sau khi Huỳnh Phú Sổ ra đi không được đề cập đến trong quyển sách này. Việc khác, việc hàng ngàn chiến sĩ PGHH đă mù quáng tuân lịnh đức Thầy án binh bất động trong đêm 16/4/1947 đă chứng minh đây là một đoàn thể có kỹ luật cao độ. Huỳnh Phú Sổ đă kêu gọi ḥa giải, xóa bỏ hận thù để cùng nhau đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp, lời kêu gọi này chắc chắn được tín đồ của ông triệt để tuân lịnh. Những sự xung đột đẫm máu giữa PGHH và Việt Minh sau này thuộc về trách nhiệm của những người ám hại Huỳnh Phú Sổ, chớ không phải thuộc về trách nhiệm của người đă bị ám hại trong bóng tối bởi những kẻ tiểu nhân. 4 Thứ hai, lá thư ở trên có phải thật là của Huỳnh Phú Sổ hay không? Nếu là thật, th́ ông ông đă viết tự ư hay viết khi bị bắt và bị cưỡng bức? Nếu không có lá thư này th́ việc thường t́nh, hiển nhiên ai cũng biết sẽ xẩy ra là hằng ngàn chiến sĩ PGHH sẽ kéo đến bao vây và trả đủa Bửu Vinh, khi đó trong tay chỉ có khoảng một trăm người. Từ một số dữ kiện trên, ta có thể đưa ra một số giả thuyết là: - Huỳnh Phú Sổ đă bị Bửu Vinh ám hại ngay trong đêm 16/4/1947, sau đó Bửu Vinh giả chữ viết và chữ kư của Huỳnh Phú Sổ để viết lá thư trên rồi giao cho một tín đồ PGHH (đă quy thuận Việt Minh) cầm lá thư này trao cho các ông Trần Văn Soái và Nguyễn Giác Ngộ và nói dối rằng chính đức Thầy đă đưa lá thư này cho anh ta. Bửu Vinh đă sắp đặt 8 người để ám hại các cận vệ của Huỳnh Phú Sổ, th́ việc kiếm một người viết chữ khéo, giả chữ viết của Huỳnh Phú Sổ và kiếm một tín đồ PGHH để đưa thư, là hai việc Bửu Vinh có thể làm không khó khăn ǵ. - Một giả thuyết khác là Huỳnh Phú Sổ thoát chết lúc bị ám sát, vào lúc 7 giờ 30 tối 16/4/1947. Nhưng sao đó ông đă bị bắt và bị bắt buộc hay bị thuyết phục viết lá thư trên. Dù là người tu hành chân chính, có tinh thần từ bi hỷ xă cao độ nhưng trước âm mưu sát nhân của Bửu Vinh, đă làm ba tín đồ của ông bị giết trước mắt ông và bản thân ông suưt chết th́ không cách ǵ ông có thể tự viết về Bửu Vinh, kẻ sát nhân trực tiếp, một cách vô tư, như người ngoài cuộc, hay c̣n như là nạn nhân giống như chính ông (tôi và ông Bửu Vinh suưt chết, chưa rơ nguyên nhân, c̣n điều tra.). Kẻ bàng quan cũng biết Bửu Vinh đạo diễn cuộc mưu sát chính trị này, do tự ư anh ta chủ mưu hay do mệnh lệnh của những nhân vật Việt Minh cao cấp hơn. Chính đó là một trong những nguyên nhân chính đưa đến cuộc nội chiến đầy màu và nước mắt suốt 30 năm giữa người Việt với nhau tại miền Tây. Nếu được trốn thoát và không bị kiềm tỏa, Huỳnh PHú Sổ đă không viết một bức thư chỉ có mục đích duy nhất là nói cho các tín đồ của ông đừng tin vào những ǵ mà người cận vệ thoát chết của ông đă tận mắt chứng kiến và sẽ kể lại cho các vị chỉ huy lực lượng quân sự PGHH ("... nếu có ai chạy về báo cáo rằng tôi bị bắt hay là mưu sát th́ các ông đừng tin và đừng náo động"). Thật là lạ lùng, một cuộc mưu sát rơ ràng, được một người cận vệ đứng cách Huỳnh Phú Sổ 1 thước và chính anh ta cũng bị đâm suưt chết, cùng với ba đồng đội đă bị đâm chết, chạy thoát về kể lại, mà bị ngay chính Huỳnh Phú Sổ phản bác và bảo đừng có tin nhân chứng này. Giả thuyết tạm đặt ra là sau khi đâm chết ba hộ vệ của Huỳnh Phú Sổ và làm bị thương một người trong phe ḿnh, Bửu Vinh vẫn c̣n 7 vệ sĩ, cùng với một đại đội trong tay, nhóm này đă bắt được Huỳnh Phú Sổ và họ định giết hại ông ngay, nhưng v́ có một cận vệ của ông đă trốn thoát được và họ biết rằng anh ta sẽ chạy về báo cho hai ông Nguyễn Giác Ngộ và Trần Văn Soái đang đóng quân gần đó đến trả thù và họ sẽ khó thoát chết. Nên họ đă cưỡng bức hay thuyết phục Huỳnh Phú Sổ viết lá thư này, lúc 9 giờ tối. Sau đó, họ cũng giàn xếp để Huỳnh Phú Sổ trao tận tay lá thứ này cho một tín đồ PGHH. Ngay khi lá thư này được gởi đi, Huỳnh Phú Sổ bị họ giết hại. - Giả thuyết khác là Huỳnh Phú Sổ đă thoát được cuộc mưu sát này và ẩn trú ở một chỗ an toàn không ai biết. Biết rơ là sau khi có tiếng súng nổ, tiếng tù và nổi lên báo động một gốc trời, các lực lượng quân sự PGHH sẽ hay biết việc ông bị mưu sát và họ sẽ kéo quân đến tấn công Bửu Vinh. V́ ḷng từ bi, không muốn thêm nhiều người Việt Nam nữa bị sát hại nên ông đă viết lá thư này, sau đó v́ một số lư nào đó, ông ra đi, không trở về nữa. Giả thuyết này nêu lên nghi vấn là tại sao ông phải viết lá thư này khi ông c̣n sống, không bị ai kềm tỏa? Thay v́ viết thư, ông chỉ cần trở về văn pḥng của ông hay về bộ chỉ huy của ông Nguyễn Giác Ngộ hay ông Trần Văn Soái là xong và giải tỏa mọi nghi vấn. Nếu ra đi dài hạn, trong một hoàn cảnh sôi bỏng như thế, th́ người lănh đạo có ḷng nhân từ và tinh thần trách nhiệm, phải chuẩn bị, sắp xếp đâu vào đó trước khi ra đi. Kể từ đêm 16/4/1947, khi ông không trở về, mọi người tin là ông bị Việt Minh ám hại (dù rằng nhiều tín đồ PGHH vẫn tin rằng ông c̣n sống và sẽ trở về) và ngọn lửa thù hận giữa Việt Minh và PGHH đă bốc cháy khủng khiếp, kinh hoàng, hoàn toàn trái với đức từ bi hiếu sinh bao la và tinh thần ḥa giải, đoàn kết cao độ của ông. Nếu ông c̣n sống th́ ông có trách nhiệm xuất hiện, hay dù không xuất hiện, ít nhất cũng đưa ra lời kêu gọi mọi người dập tắt sự thù hận, bắn giết tương tàn này mà trong đó hàng triệu tín đồ của ông và hàng triệu đồng bào yêu nước của ông, đang tham gia hay ủng hộ Việt Minh kháng chiến chống Pháp, là những nạn nhân đau đớn, tội nghiệp nhất. |
| ||||
|
Tuy nhiên, trước đó, ngày 9/9/1945 ông bị Trần Văn Giàu ám hại. Thoát chết, ông vẫn giữ im lặng, mai danh ẩn tích, cải trang lưu lạc không ai biết rơ ở đâu trong suốt nhiều tháng trời. Chớ tuyệt đối không hề xuất hiện, tuyệt đối không hề lên tiếng tố cáo âm mưu sát nhân của đối thủ, hay lên tiếng thanh minh, giải oan. Và cũng tuyệt đối không hề có một hành động nào để phản công, trả đủa, gây thiệt hại cho kẻ thù nghịch, dù rằng khi đó ông cũng đă có một lực lượng tín đồ hàng trăm ngàn người. Im lặng, ra đi và không hề tạo sự tranh cải hay sự đổ máu giữa người Việt Nam, dù bị oan ức, bị bôi đen, bị ám hại. Phong thái này thể heiẹn ḷng khoan dung, từ bi, độ lượng, siêu thoát cố hữu của ông. Biết đâu ông đă vượt thoát cuộc ám hại đêm 16/4/1947 và như lần trước, ông đă im lặng ra đi. Về cuộc đổ máu giữa tín đồ PGHH và Việt Minh phải chăng đó là duyên nghiệp máu xương từ nhiều đời, nhiều kiếp trước, mà tuy biết trước, và tuy nổ lực ḥa giải, nhưng ông biết rơ là không thể nào hóa giải nổi những ân oán hận thù có tính cách nghiệp lực nầy? Tác giả cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm, cũng như nhiều người PGHH khác tin rằng Huỳnh Phú Sổ đă thoát thân một cách dễ dàng như lần bị ám hại trước đêm 9/9/1945 bị Trần Văn Giàu ch công an đến ám hại) và ông sẽ trở về... Sự tin tưởng này vẫn c̣n cho đến ngày nay, 48 năm sau đêm 16/4/1947. Nếu c̣n ẩn, Huỳnh Phú Sổ năm 1995 này vừa tṛn 75 tuổi, cùng tuổi với John Pail II, đương kim Giáo Hoàng Thiên Chúa Giáo La Mă và cùng trang lứa với các Ḥa Thượng Trí Quang, Huyền Quang, Thanh Từ, Nhất Hạnh... Lư do có sự tin tưởng này, theo cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm, là: "1/ Trước khi xẩy ra tai nạn, đức Thầy có hỏi một nhân viên hầu cận Ngài bữa nay ngày mấy âm lịch. Nhân viên này có trả lời là ngày 25 tháng 2 nhuần. đức Thầy bèn chép miệng than rằng: "Ngày nay là ngày đau khổ nhứt. ôi, sao mà khổ quá vậy". 2/ Chính đức Thầy có hỏi ông Mười Tỷ biết hướng nào về Phú Thành chăng. Khi anh này chỉ hưóng th́ đức Thầy nói: Phải. Th́ ra chính anh Mười Tỷ là người sống sót để chạy về báo tin, c̣n ba tự vệ quân kia đều bị giết hết. 3/ đức Thầy có nói với ông Ngô Thành Bá tức Biện đài trong dịp dẫn ông đài đi núi Tà Lơn rằng sau này Ngài xa vắng bổn đạo trong một thời gian, và trong khi đó không một người tín đồ nào biết Ngài ở đâu. Ngài cũng nói với nhiều tín đồ câu ấy. 4/ Trong sấm giảng của Ngài, đức Thầy cũng có nói: "Rán nghe lời dạy của Thầy, để chừng đến việc kiếm Thầy không ra". Và: "Tu kíp kíp nếu không quá trễ, Chừng đối đầu khó kiếm điên Khùng". Bốn khoản trên đây chứng minh một cách hùng biện rằng đức Thầy biết trước những nạn tai mà Ngài sắp phải gánh vác" (trang 282-283). Có những nghiệp lực, tích lũy từ nhiều đời trước, bùng nổ trong đời này, mà ngay cả những người đă giác ngộ, như đức Phật Thích Ca, cũng không thể nào tránh khỏi, dù biết trước. Như trường hợp chính gịng họ đức Phật bị tàn sát khi Phật c̣n tại thế. Tạm kết về việc Huỳnh Phú Sổ bị ám hại trong đêm 16/4/1947: Theo một số báo chí đương thời th́ ông bị Việt Minh bắt, bị đem ra xử án và bị hành quyết. Theo báo Phục Hưng ngày 16/4/1949, viết hai năm sau đó, được trích lại trong cuốn Thất Sơn Mầu Nhiệm th́ Huỳnh Phú Sổ bị bắt. "Trần Văn Nguyên đă tranh cải kịch liệt với Bửu Vinh về số phận của Huỳnh Phú Sổ. Trần Văn Nguyên nói "đồng chí không có quyền xử đoán một Uỷ Viên đặc Biệt của Nam Bộ trong khi đồng chí chỉ là ủy viên tỉnh". Bửu Vinh trả lời: "Cái đó thuộc về một việc xẩy ra ở địa phương tôi, vả lại t́nh thế đang nguy ngập". Rốt cuộc Trần Van Nguyên phải nhượng bộ v́ trong tay không có binh lực. Nguyên đổ trách nhiệm: "Có chuyện ǵ sau này với Nam Bộ, trách nhiệm về đồng chí hết"... Sau đó Bửu Vinh ra lịch cho ba người hành quyết Huỳnh Phú Sổ, nhưng ba người này đă được Huỳnh Phú Sổ thuyết phục, cảm hóa, cuối cùng họ nói: "Thưa ông Tư, chúng tôi đă hiểu rồi. Xin ông đi đi, đi ngay bây giờ... ông hăy đi cho thoát và độ tŕ cho ba chúng tôi". Thế rồi vị Giáo Chủ họ Huỳnh lại khoan thai lên đường và đi hút lẩn vào bóng tối. Và cũng đêm ấy, tại chỗ ấy có một người bị chặt làm ba, liệng xuống hố vùi đất lên...". Một số nguồn tin khác th́ quả quyết ông đă bị Việt Minh giết chết, chặt làm nhiều khúc và bị đem đi chôn dấu ở nhiều nơi. Tuy nhiên, theo quan niệm Phật Giáo, th́ việc Huỳnh Phú Sổ dù mất hay c̣n sống nhiều năm nữa sau đêm 16/4/1947 không phải là chuyện chính yếu. Nếu ông không mất khi 27 tuổi, và sống đến ngày nay, thọ 75 tuổi th́ 5, 10 năm nữa ông cũng sẽ chết như mọi người đă sinh trên thế giới này. Và dù sống thêm 50 năm nữa, ông cũng khó ḷng thay đổi được hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, bị chế ngự bởi các thế lực quốc tế và bị điều động bởi cộng nghiệp nhiều đời của cả dân tộc. điều chính yếu là những thông điệp của ông có được hiểu và áp dụng hay không? Thông điệp của ông là ḷng từ bi, là t́nh yêu thương không giới hạn, là sự tha thứ, ḥa giải, đoàn kết giữa mọi người Việt Nam với nhau, là quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, dân chủ, công bằng và nhân bản, là nổ lực thực hiện hạnh tứ ân và tinh tấn học Phật, tu Nhân. Huỳnh Phú Sổ c̣n sống trong mọi tín đồ PGHH và mọi người Việt Nam biết áp dụng những thông điệp cao đẹp này của ông. Tôi tin ông là một Bồ Tát hóa thân. ông, là một Bồ Tát ở một thế giới có mức độ tâm linh cao hơn thế giới này, v́ thương Việt Nam, ông đă đầu thai làm Huỳnh Phú Sổ tại làng Ḥa Hảo vào năm 1920, v́ duyên nghiệp đến năm 1947 là hết nên ông đă ra đi và, với ḷng yêu thương Việt Nam một cách sôi nổi, với hạnh nguyện cứu khổ vĩ đại, ông đă trở về, hóa hiện làm người Việt Nam, và hiện ông vẫn c̣n sống và thầm lặng thi hành hạnh Bồ Tát nhập thế cứu đời dưới một h́nh tướng nào đó. Giống hệt như các vị Hóa Thân của Phật giáo Tây Tạng. So với đạt Lai Lạt Ma, cũng là một vị Hóa Thân, th́ tŕnh độ chứng đắc của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ cao hơn các vị Hóa Thân này. Khi tôi ngồi viết quyển sách này, nh́n xuống vịnh San Francisco xanh ngát chảy ra biển Thái B́nh gió lộng, tôi thấy rơ Huỳnh Phú Sổ vẫn c̣n sống, trong tôi, trong quyển sách này, trong mọi người Việt Nam hiểu rơ và làm đúng lời dạy của ông. ông vẫn c̣n sống bên gịng sông Cửu Long thân thương, tŕu mến, trên đồng bằng Nam Bộ hiền ḥa nhân ái, trong mỗi tiếng ḥ trữ t́nh, trong mỗi nụ cười đôn hậu, trong mọi đời sống hồn nhiên, đạo đức của mọi người dân Việt Nam. Huỳnh Phú Sổ tự nhận ḿnh là một đệ tử trung thành của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. đức Phật dạy hăy lấy t́nh thương xóa bỏ hận thù. đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cũng dạy "Ta thứ người, người thứ ta". Tôi tha thiết mong quư vị độc giả và mọi người Việt Nam hăy áp dụng lời dạy này của đức Phật Thích Ca và của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ để tha thứ nhau, ḥa giải nhau và thương yêu nhau. đối với những người Việt Nam đă phạm những sai lầm, tội lỗi với những đồng bào của họ trong suốt hơn nửa thế kỷ nay, tôi trân trọng mong họ hăy suy gẫm kỹ và thực hành ngay lời dạy sau đây của đức Phật: "Có hai hạng người đáng tán dương ca ngợi. Hạng thứ nhất là những người không bao giờ sai lầm, phạm tội. Hạng thứ hai là những người đă sai lầm, phạm tội, nhưng nay biết thành tâm ăn năn, hối cải". Lịch sử là chính chúng ta. Quê hương và thế giới cũng là chính chúng ta. Tâm b́nh, thế giới b́nh, tâm tịnh, quốc độ tịnh. Cách hay nhất để thay đổi đất nước và thay đổi thế giới là thay đổi chính ḿnh trước. Làm cho ḿnh b́nh an, tươi đẹp, hạnh phúc, độ lượng, nhân từ chính là làm cho thế giới và quê hương b́nh an, tươi đẹp, an lạc, độ lượng và nhân ái. Không thể có một quê hương Tịnh độ, an vui, hiền lương, đạo đức khi những công dân của xứ sở đó vẫn c̣n mang tâm hận thù, đen tối, cuồng tín, quá khích. Và đặc biệt, trước tham vọng và hiểm họa khủng khiếp của đế quốc Trung Hoa, người Việt yêu nước chân chính nghĩ sao để sống c̣n...? Giai đoạn lịch sử bi thảm vừa qua đă làm cho mọi con dân Việt đau ḷng, nên xem đây là điều tai nạn cho dân tộc, nhất định sẽ không bao giờ tái diễn, để người Việt là một khối đoàn kết cùng nhau bảo vệ, xây dựng và quang hưng đất nước Việt Nam. Tôi cầu mong quê hương của chúng ta sẽ vượt thoát những chướng ngại tai hại của hận thù, bất khoan dung và bạo động, và các thế hệ con cháu của chúng ta sẽ trở về truyền thống từ bi, nhu ḥa, độ lượng của Tổ Tiên, cha ông cũng như của thế giới tỉnh thức hôm nay. Dân tộc chúng ta, sau bao lầm lẫn và đau thương, đang vượt thoát thời đại của bản năng và thù hận để bước và kỷ nguyên của Trí Tuệ và Từ Bi. Của khoan dung và tha thứ. Chúng ta phải chiêm nghiệm lịch sử, với tất cả sự thật phủ phàng, đau đớn của nó, để học hỏi, để khoan dung, độ lượng, để trưởng thành khôn lớn, chớ không phải để đào sâu những hận thù và khơi dậy những vết thương. Tất cả đă qua đi. Tất cả đang ra đi. Và tất cả sẽ biến mất. Thế hệ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Hồ Chí Minh nay c̣n ai? Thế hệ Huỳnh Phú Sổ nay cón mấy người? Và thế hệ chúng ta sẽ c̣n sống được bao lâu? 75-95 đă trôi qua nhanh như một chuyến tàu lửa tốc hành. Chỉ thêm một ṿng 20 năm nữa, 1995-2015, là hầu như tất cả mọi người của thế hệ Cách Mạng Mùa Thu, thế hệ Kháng Chiến, sẽ chẳng c̣n ai hiện hữu trên trái đất này. Tất cả đều chết và phải từ bỏ tất cả. Trừ những vĩ nhân. Di sản của họ không mất đi, trái lại, càng ngày càng rực rỡ. |