| ||||
| (tiếp theo) Thật ra, trong sinh hoạt hằng ngày chúng ta thường xuyên có thể thấy được sự nhắc nhở đối với tương lai, chỉ bất quá con người không quan tâm đến. Chúng ta sử dụng mỗi ngày tờ giấy bạc một đô la ở mặt sau cũng có một dự ngôn giống nhau, mời tham khảo:http://www.greatseal.com/. Trong đó có một ấn chương (seal) là h́nh Kim Tự Tháp, Kim tự Tháp này có 13 tầng, trên ngọn cuối của tầng 13 Kim Tự Tháp có một trí tuệ chi nhăn tỏa ra ánh sáng rực rỡ, ở đây đă dự báo sự tỉnh giác của nhân loại sau khi đi hết 13 cái Baktun. Nghĩa của Annuite Coeptis là : Thần đang quan tâm đến những ǵ chúng ta đă làm; Novus Ordo Seclorum có nghĩa là: Thứ tự mới của Tân Thế Kỷ. ![]() Hiện giờ chúng ta sinh hoạt ở thời đại tôn sùng vật chất, người thời nay chủ yếu quan tâm là tiền bạc, người đẹp, dục vọng, hưởng lạc, thành tựu, quyền lực và địa vị. Những người không có hứng thú đối với những thứ này cũng chỉ có thể đành phải vẫy vùng khổ cực trong đời sống ô trọc này. Do vậy mà dẫn đến băng hoại của thế giới tinh thần cho con người đă trở nên tầm thường, đối với tà ác, tàn bạo, chiến tranh, thiên tai, ôn dịch, nghèo đói, chủ nghĩa khủng bố và điên cuồng của hiện tượng hỗn loạn xă hội cũng dần dần tê liệt. Rất ít người có thể ư thức được nhân loại xă hội đă đang đi hướng tới con đường tự hủy diệt. Với xă hội ham muốn thể xác lẫn vật chất như vậy, lực lượng nào có thể tịnh hóa địa cầu được? Khẳng định không phải nhờ vào sự cưỡng ép quản chế của luật pháp và chính phủ, tại v́ luật pháp do người đặt ra, là có sơ hở, những kẻ trái pháp có thể nhờ vào địa vị, quan hệ và tiền bạc mà lẫn trốn sự trừng phạt. Ngoài ra, luật pháp chỉ có thể chế tài hành vi trông thấy được của con người, nhưng không thể nào ràng buộc nội tâm không thấy được của con người. Đương nhiên càng không thể nào nhờ vào cái gọi là đột phá của khoa học, tại v́ chính là khoa học khiến nhân loại càng ngày càng theo đuổi hưởng thụ vật chất và xa rời lương tâm đạo đức. Thứ lực lượng khiến Đạo đức của nhân loại thăng lên trở về chỉ có thể đến từ tỉnh giác của nhân loại, cũng có thể nói nhân loại cần phải phản tỉnh, mà c̣n nhất định phải có số lượng tương đối nhiều. Nhưng mà tại một xă hội đầy dẫy cám dỗ mê hoặc và áp lực sinh tồn như vậy, nhân loại phản tỉnh đâu có dễ dàng! Càng không thể nào nhiều người cùng nhau tham dự phản tỉnh! Tại v́ nếu như có riêng cá nhân muốn phản tỉnh, sự ảnh hưởng đă tạo thành đối với xă hội cũng là tương đối có hạn. Có lẽ có thể tịnh hóa cá nhân, trên căn bản không thể nào gây nên tác dụng “Tịnh hóa địa cầu”. Căn cứ vào lịch Pháp Mayan. Năm 1992 là năm thứ nhất của cái 20 năm cuối cùng (20 năm là một cái unial, lịch pháp Mayan gọi 20 năm cuối cùng này là “Thời kỳ canh tân địa cầu”) của cái Baktun cuối cùng (cái thứ 13). Quan sát việc lớn gần 10 năm nay (1992 – 2001),duy nhất chỉ có Thầy Lư Hồng Chí đă đề xướng chỉ đạo lấy tinh thần vũ trụ “Chân Thiện Nhẫn” là nguyên tắc tu luyện của Pháp Luân Đại Pháp được công nhận là đang gây nên tác dụng tịnh hóa địa cầu. Sau này tôi lại phát hiện thêm hai con số có ư nghĩa, năm 1992 chính là năm đầu tiên mà Thầy Lư Hồng Chí công khai truyền Pháp Luân Đại Pháp trong xă hội, ngày sinh nhật của Thầy Lư Hồng Chí là ngày 13 tháng 5 (lại là một cái 13). Từ năm 1992 đến năm 1999 trong thời gian 7 năm ngắn ngủi, người tu luyện tại Trung Quốc đă đến gần 100 triệu. Thầy Lư Hồng Chí đă khiến rất nhiều người tu luyện từ tham lam tiền bạc dục vọng trong ṿng bế tắc của xă hội mà bước ra, người tu luyện đă học được phản tỉnh, lấy lời của người tu luyện mà nói là “hướng nội t́m”. Tại Trung Quốc với một chính quyền nghiêm ngặc “trừng trị thiện, ca tụng ác” này, trăm triệu người ta tu tâm hướng thiện nên có thể khẳng định là một minh chứng “tịnh hóa địa cầu”. Vào tháng 7 năm 1999, tập đoàn Giang thị bắt đầu đàn áp Pháp Luân Đại Pháp, sự việc đột phát này xem h́nh như ngẫu nhiên, nhưng từ khía cạnh lịch sử mà xem, lại phải là tất nhiên. Thứ nhất, xảy ra sự việc này đă chứng thực dự ngôn của Nostradamus. Dự ngôn “thế kỷ” của Nostradamus rằng, tháng 7 năm 1999 sẽ xảy ra một sự việc trọng đại. Sự việc này là một kư hiệu quan trọng, từ nay đă mở màn cuộc giao chiến giữa Chính Tà. Hầu như đa số dự ngôn của Nostradamus đều mơ hồ trên thời gian, nhưng lần này lại khác thường, lần đầu tiên rơ ràng ghi xuống tháng 7 năm 1999, thời gian chính xác như vậy, khiến người không c̣n cách nghi ngờ (tường tận giải thích có thể t́m đọc “dự ngôn tham khảo” của Thầy Lư Hồng Chí). Thứ hai, Pháp Luân Công từ nay bị đưa đẩy lên diễn đàn của thế giới, không c̣n là một cục bộ và hành vi tu luyện của một số người. Tại v́ một nguồn lực lượng tịnh hóa và canh tân địa cầu nhất định phải đối diện thế giới, nhất định phải hội đủ uy lực truyền bá “Chân Thiện Nhẫn” và uy lực khử trừ tà ác. “Pháp chính càn khôn” của Pháp Luân Công thật ra là cách nói càng toàn diện của “tịnh hóa địa cầu”. Loại ảnh hưởng có tính cách toàn cầu này cuối cùng cũng sẽ dẫn đến mọi nhà đều nghe và hiểu rơ, khiến mỗi một người trên địa cầu này đều có cơ hội (có lẽ không những một lần) phản tỉnh đối với sự việc này, rồi đưa ra phán xét và định đoạt. Mấy ngàn năm trước người Mayan đă căn cứ vào thiên tượng mà ghi ra dự ngôn, con người tỉnh giác sẽ phải hoàn thành sứ mạng thần thánh “tịnh hóa địa cầu”,vào ngày 21 tháng 12 năm 2012, nhân loại sẽ đi hướng về nền văn minh hoàn toàn mới. Tham khảo văn hiến: 1.The Mayan Factor–Path Beyond Technology. Jose Arguelles Bear & Company, Santa Fe, New Mexico, 1996. 2. Maya Cosmogenesis 2012. John Major Jenkins Bear & Company, Santa Fe, New Mexico, 1998. 3. King of Terror 1999: Century 10 Quatrain 72. Nostradamus. Tạm dịch từ Hán văn: http://zhengjian.org/zj/articles/2001/9/4/11559.html |
| ||||
| Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây Lời dịch giả: Lịch sử Trung Quốc trải qua nhiều triều đại vua chúa, mỗi một triều đại đều có người tu Đạo, nên đă có một số dự ngôn để lại đời sau, như bài thơ dự ngôn của Bộ Khư Đại Sư đời nhà Từ, “Bài đẩy lưng” của Lư Thuần Phong và Viên Thiên Cang đời nhà Đường (bên cạnh Lư Thái Dân). “Mă tiền khóa” của Khổng Minh thời kỳ chiến quốc. “Mai hoa thơ” củaThiện Ung đời nhà Tống. Bài “Bánh Chiên Ca” của Lưu Bá Ôn đời nhà Minh (bên cạnh Chu Nguyên Chương). Đến hôm nay th́ tất cả dự ngôn ấy đă có người giải ra rất chính xác với chuyện đă xảy ra trong quá khứ. Người tu Đạo không cầu danh lợi nên những ǵ họ để lại đời sau chắc chắn không phải khoe tài, có lẽ chỉ nhằm mục đích cảnh tỉnh đời sau là sự việc trên đời đều đă có sự sắp xếp của Trời. Tất cả bài đều nhắc đến cùng một việc là đừng nên bỏ lỡ việc lớn nhứt ở trên đời sẽ xảy ra. Hôm nay có lẽ tất cả những Thần ấy đều có mặt tại đây để nắm giữ cơ hội cuối cùng này. Bài dưới đây là một bài khác của Lưu Bá Ôn đă phát hiện ở trên bia đá, tạm dịch nghĩa nên chắc chắn không chính xác, chỉ để hiểu sơ đại ư bài thơ. Thiên có nhăn, Địa có nhăn, người người cũng có một đôi nhăn. Thiên cũng lật, Địa cũng lật, tiêu diêu tự tại lạc vô biên. Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba. Giàu nghèo nếu không hồi tâm chuyển, nh́n xem ngày chết ở nhăn tiền (trước mắt). B́nh địa không có ngũ cốc trồng. Cẩn pḥng tứ phương tuyệt khói người. Nếu hỏi ôn dịch hà thời hiện, nên xem giữa tháng 9 tháng 10 mùa đông. Người làm việc thiện th́ được thấy, người làm việc ác không được xem. Trên đời có người hành đại thiện, lây bởi kiếp này thật không đáng. C̣n có mười sầu ở trước mắt. Nhứt sầu thiên hạ loạn khắp nơi. Nhị sầu đông tây người đói chết. Tam sầu hồ rộng bị đại nạn. Tứ sầu các tỉnh khởi lang khói. Ngũ sầu nhân dân không an nhiên. Lục sầu mùa đông giữa tháng chín tháng mười. Thất sầu có cơm không người ăn. Bát sầu có người không áo mặc. Cửu sầu thi thể không người liệm. Thập sầu khó qua năm heo chuột. Nếu được qua khỏi đại kiếp niên, mới tính là thế gian bất lăo tiên. Dù cho là thiết La Hán làm bằng đồng, khó qua mùng mười ba tháng bảy. Cho dù bạn là Kim Cang Thiết La Hán, trừ phi thiện mới được bảo tồn. Cẩn pḥng người người khó khăn qua. Ngăi qua thiên phiên năm Rồng Rắn (2012-2013??). Ấu nhi giống như Chu Hồng Vơ, Tứ Xuyên c̣n khổ hơn Hán Trung. Sư tử gầm như Lôi, hơn hẳn trăm cọp hung. Tây giác hiện ra đuôi, b́nh địa gặp mănh dược. Nếu hỏi thái b́nh niên, dựng cầu nghinh tân chủ. Thượng nguyên giáp tử đến, Người người ha ha tiếu. Hỏi bạn cười cái ǵ? Nghinh tiếp tân địa chủ. Trên quản đất ba tất, tối không nạn trộm cướp. Tuy là mưu v́ chủ, chủ ngồi thổ trung ương. Nhân dân gọi chân chủ, tiền bạc là cái bửu, nh́n thấu dùng không được, nếu thật là cái bửu, ḷng đất nứt không ngă. Bảy người nhứt lộ tẩu, dụ dỗ đă vào khẩu. Ba chấm cộng một mốc (Chữ Hán ghép lại là chữ Tâm), Bát Vương nhị thập khẩu (Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện). Người người đều hỷ cười, ai ai cũng b́nh an. Tạm dịch từ Hán văn : http://zhengjian.org/zj/articles/2003/6/17/22117.html |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Bài tiên tri «Bách Tự Minh»: nói về Đại Pháp hồng truyền [Chính Kiến] Trong lịch sử Trung Quốc có khá nhiều tiên tri về sự truyền xuất của Pháp Luân Đại Pháp; ví dụ: Liên Hoa Kinh, Mai Hoa Thi, Bộ Hư Đại Sư Thi Văn, v.v. Nhưng Bách Tự Minh (bài minh một trăm chữ) là minh xác nhất, rất chi tiết và chuyên nhất. Dưới đây là nguyên văn bài Bách Tự Minh cùng cách đọc. ![]() h́nh 1 ![]() h́nh 2
Cần đọc xoáy từ ngoài vào trong như h́nh 2: từ chữ đại qua chữ đạo lấy sáu chữ làm thành một câu (đại đạo bản vô nhai tế). Mượn chữ thị nằm trong chữ tế vốn là chữ cuối của câu thứ nhất để làm chữ đầu cho câu thứ hai, rồi lấy tiếp các chữ nữa cho thành một câu sáu chữ (thị nhân dũ hảo dũ kỳ). Mượn chữ khả nằm trong chữ kỳ vốn là chữ cuối của câu thứ hai để làm chữ đầu cho câu thứ ba, rồi lấy tiếp các chữ nữa cho thành một câu sáu chữ (khả tri kim đan cửu chuyển). Mượn chữ chuyên nằm trong chữ chuyển vốn là chữ cuối của câu thứ ba để làm chữ đầu cho câu thứ tư, rồi lấy tiếp các chữ nữa để được một câu sáu chữ (chuyên vi lập tức huyền cơ). Cứ tiếp tục như thế cho đến cuối cùng là tiếu tiếu hỷ hỷ. Toàn văn bài giải ra được đọc là: ![]() h́nh 3
Bài Bách Tự Minh đă nói về t́nh huống Pháp Luân Đại Pháp xuất hiện và hưng thịnh. Ngữ ư của nó không hề ẩn giấu, [mà] rất thông tục. Nhất là hai câu đầu và cuối nói một cách rất thẳng thắn cho con người thế gian: Đại Đạo bản vô nhai tế (Đạo lớn vốn không ngằn mé), Nguyên nhân tiếu tiếu hỷ hỷ (con người ban đầu cười vui). Ư tưởng rất minh xác và khẳng định. Tuy nhiên đây là một sự kiện hết sức phi thường. Dẫu biết bài văn bia này đọc theo h́nh xoáy, nhưng nếu như quí vị chưa từng nghe Sư phụ Lư Hồng Chí giảng Pháp, chưa đọc cuốn Chuyển Pháp Luân th́ quư vị cũng rất khó mà hiểu ra bài này nói về điều ǵ. Ngoài ra văn bia này được khắc từ chữ viết tay, nói cách khác đọc thông ra nó cũng rất khó. Trong bài thơ có cả ngũ hành, bát quái, huyền học thi ngữ, vậy nên người đọc b́nh thường ngày hôm nay cũng khó giải cho được. | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||
| (tiếp theo) Giải thích ư của bài thơ: Cổ thi Trung Quốc có nội hàm phong phú, giải sâu được rất khó. Đại Đạo bản vô nhai tế, thị nhân dũ hảo dũ kỳ Đạo lớn vốn không có biên giới ngằn mé, thị hiện cho con người th́ quá tốt quá kỳ diệu — Đây là hai câu tán thán: Pháp Luân Đại Pháp này vốn là rất lớn, không có ngằn mé, siêu việt cả vũ trụ. Truyền cho con người thấy được, thế là quá kỳ diệu quá tốt; rất là khó có được vậy. Khả tri kim đan cửu chuyển, chuyên vi lập tức huyền cơ Có thể biết được đan vàng xuay chuyển chín [lần], chuyên v́ để cho cơ [chế] huyền [bí] — Hai câu này nói về đặc điểm Pháp Luân Đại Pháp: Pháp Luân lấp loáng ánh vàng kim, đặt tại đan điền, xuay chuyển mỗi chiều chín lần, vận chuyển liên đới với các khí cơ, cơ chế. Kỷ cá hội đồng hợp thượng, nhất tự bán tổng bất di [Trải qua] mấy lần hội, một chữ nửa điểm cũng không thay đổi — Hai câu nói về cuốn Chuyển Pháp Luân. Ghi âm các bài giảng của Sư phụ, sau đó hội tụ lại thành kinh sách. Đa thiểu dẫn chứng bằng cứ, xứ xứ hữu nhân thị duy Có biết bao nhiêu dẫn chứng bằng cớ, ở đâu cũng có người thị hiện — Có thể lư giải hai câu này nói về t́nh huống các nơi đều có người đắc Pháp luyện công học Pháp. Hệ thời lộng nhập khấu toán, củng lai Phật tử hoàn tây [Dự] toán thời gian, hai mươi năm Phật tử trở về tây — Đây là nói về sự an bài, thời kỳ hai mươi năm. Tứ diện bát phương trước nhăn, cấn ly khôn đoài chuyển tế Đặt mắt xét cả bốn mặt tám phương, chuyển đến cấn ly khôn đoài — Nói giản lược tức là nói về việc người tu luyện đông đảo truyền rộng. Từ đông bắc cho đến Quảng Đông, phía nam, đến tây nam, rồi cho đến toàn thế giới. Tức là ‘cấn ly khôn đoài’ truyền cho thế nhân. Tề khẩu cấp cấp mạc cải, văn nhân dă bả đao đề Các cái miệng đều sốt sắng nhưng không thay đổi, văn nhân cũng rút đao ra — Đây là nói về t́nh h́nh hiện nay ở Trung Quốc: đài tuyền h́nh, đài truyền thanh, báo chí, tin tức, hết thảy đều sốt sắng cả lên bôi nhọ Sư phụ và Đại Pháp. Cách làm ấy chính là văn sỹ rút [ng̣i bút] làm đao tàn hại chúng sinh. Người tu và nhân dân thế giới cần chú ư. Thị năi hoàn bích quy Triệu, tẩu trước dương liễu thuỳ đê Rồi th́ cũng trả ngọc bích về Triệu, đi đến bờ đê có hàng dương liễu rủ bóng — Nói hoàn bích quy Triệu là dẫn điển cố ra làm ví dụ. Thời Xuân Thu Chiến Quốc nước Tề mạnh hơn nước Triệu, đă cưỡng đoạt bảo bối ngọc bích của Triệu nhưng về sau lại bị thua. Ngụ ư rằng cuối cùng th́ Pháp Luân Đại Pháp sẽ được trả lại chính nghĩa và thanh bạch, các đệ tử Đại Pháp sẽ được giải oan. Gió xuân tái hiện, Sư phụ lại về cố quốc. Thổ mộc kim thuỷ hợp hoả, bát bát cửu cửu quy tề (không cần diễn nghĩa) — Đây là nói về sự kiện Pháp Chính càn khôn. Ngũ hành, thế giới bát phương, cửu cửu càn khôn thiên thể là nói khái quát cho tất cả người, Thần, Phật, vũ trụ nói chung. Quy tề có nghĩa là quy chính. Hữu kết hồng thệ đại nguyện, nguyên nhân tiếu tiếu hỷ hỷ Đại thệ nguyện lớn đă kết, con người nguyên lai cười vui — Viên măn kết thúc. Người truyền Pháp, người đắc Pháp thệ nguyện đă xong. Mọi người đều vui vẻ, khai thuỷ kỷ nguyên mới. Các đệ tử Đại Pháp đều đă từng có hồng thệ đại nguyện trong lịch sử, rằng sẽ hỗ trợ Sư phụ Chính Pháp. Nguyên nhân (con người nguyên lai) là nói về những người hiện đang sống tại xă hội hiện nay có nhiều người vốn đă luân hồi rất nhiều đời, chịu đựng bao nhọc nhằn, hiện nay hội tụ nơi Đại Pháp. Tác giả của bài thơ này chỉ dùng 101 chữ mà đă khái quát được một quá tŕnh thiên tượng biến hoá thật phi thường. Mà lại dưới h́nh thức thi thơ như vậy, quả là xuất thần nhập hoá! Trong bài có viết hệ thời lộng nhập khấu toán, củng lai Phật tử hoàn tây đă nói rất minh xác rằng Đại Pháp sẽ hồng truyền trong hai mươi năm, con người hôm nay đọc đến đây cũng phải giật ḿnh sửng sốt. Bởi v́ hiện nay là thời tái tạo càn khôn; Đại Pháp khai thuỷ tử 1992 xuất phát từ Trung Quốc, chịu đựng ma nạn, Pháp Chính càn khôn; hồng truyền toàn thế giới, Pháp Chính nhân gian, huy hoàng cực tận. Trước sau tất cả hai mươi năm. Nhân loại sẽ tiến nhập vào lịch sử mới. Thực ra tiên tri của người Maya cũng nói về thời kỳ “tịnh hoá” từ 1992 đến 2012. Sự kiện này quan hệ đến tương lai của mỗi cá nhân. Câu tề khẩu cấp cấp mạc cải, văn nhân dă bả đao đề đă nói rất rơ ràng minh xác vào đúng sự kiện bôi nhọ Đại Pháp đang xảy ra hiện nay. Mong người dân Trung Quốc tỉnh ngộ. Bài thơ này tương truyền là do một đạo sỹ tên là Huyền Diệu Đạo viết. Ông lấy một tấm giấy hồng nhỏ bé ước khoảg 3 tấc, lấy bút viết theo lối chính khải chữ nhỏ mà viết ra. Sau đó được chép trong một cuốn sách nhỏ tên là Dị Kinh Thể Chú. Cuốn sách này trải qua nhiều đời lưu lạc nhân gian đă thiếu hụt rất nhiều. Bài [thơ] này đă xuất hiện trở lại đúng vào lúc này, tuyệt đối không ngẫu nhiên. Hy vọng mọi người lưu ư. * Chú thích của người dịch tiếng Anh:* * Nếu một người khác diễn dịch, có thể sẽ có ư kiến khác. Tiên tri vốn viết bằng văn cổ, khi diễn giải chắc chắn không tránh khỏi việc người dịch lồng suy nghĩ riêng của ḿnh vào đó. Do vậy sẽ có sự khác biệt ư kiến. Tôi thích bài tiên tri này bởi v́ nó làm người ta thấy thú vị bằng cách thể hiện trí huệ của người xưa với tiếng Hán cổ. Quư vị không thể viết được như vậy với tiếng Hán hiện đại. Hăy thưởng thức nó! Chú thích của người dịch tiếng Việt: Dịch từ Hán ra Việt có tham khảo bản tiếng Anh, với một chút rất nhỏ hiệu chỉnh. Bản tiếng Hán: Ô¤ÑÔÍø Bản tiếng Anh: http://www.pureinsight.org/sci/sci/e...t.asp?ID=14907 Chữ tổng ở ḍng thứ nhất cột thứ nhất của thư đồ; khi giải lúc th́ viết là tổng lúc th́ viết là điểm (nhất tự bán tổng|điểm bất di). Bản tiếng Anh cũng hệt như vậy lúc là tổng lúc là điểm. Người dịch không hiểu nguyên cớ, có thể v́ hai chữ viết gần giống nhau đọc gần giống nhau nên thay thế lẫn nhau? Tại đây tôn trọng nguyên tác và vẫn giữ nguyên. Theo nghĩa bản tiếng Anh diễn giải, th́ nghĩa là điểm. Tương tự như vậy với chữ xứ ở ḍng một cột tám, khi giải th́ chỗ viết là cứ chỗ viết là xứ. Chữ củng (trong câu củng lai Phật tử hoàn tây), được người giải nghĩa trong Hán bản là 20 năm. Từ Phật tử cũng trong câu đó được người giải nghĩa trong bản tiếng Anh là Phật (Buddha). Theo người dịch tiếng Việt, th́ Phật tử tức là nói về các đồ đệ của Phật (con Phật) chứ không phải là nói về Phật. Người Trung Quốc thường hiểu tây phương là cơi Phật, hoàn tây là trở về cơi Phật. |