| ||||
|
I. Là một quốc gia đa-văn-hóa (multicultura) Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận một quốc giáo. Đầu thế kỷ XVI, những người đầu tiên đến Mỹ là những kẻ có óc phiêu lưu làm giầu. Sau đó là những làn sóng người tỵ nạn tôn giáo: Những người Puritams (Thanh giáo) và Quakers bị ngược đăi tại Anh quốc, những người Tin Lành như Lutherans, Calvinists bị Công giáo bách hại tại Âu châu. Cho đến khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập năm 1776, dân số Mỹ là 2 triệu rưỡi, 60% là người Anh – đa số theo tin lành, c̣n lại là Anh giáo – 12% là những người Tô Cách Lan, Ḥa Lan và Đức, đa số cũng theo Tin Lành – 28% c̣n lại là những người nô lệ da đen, không có quyền công dân. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều làn sóng di dân từ Đông và Nam Âu Châu sang Mỹ, đa số là Công giáo và Do Thái. Dân Mỹ Tin Lành phản đối bằng cách lập ra đảng khủng bố Ku-Klux-Klan nhắm vào Do Thái, Công giáo và người da đen. Nhiều nhà thờ Công giáo và Do Thái bị đốt, nhiều người da đen bị sát hại. Chính quyền trung ương chủ trương theo đuổi chính sách đa văn hóa nên đă áp dụng chính sách trấn áp đảng khủng bố Ku-Klux-Klan. Trong thập niên 1870, chính phủ Mỹ cho nhập cư rất nhiều dân các nước Ả Rập theo đạo Hồi và trong thập niên 1960 cho nhập cư ồ ạt các di dân thuộc Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, đa số theo đạo Hồi. Hiện nay, số tín đồ Hồi giáo tại Mỹ lên tới 7 triệu người. Trước đây, người Mỹ thường tự nhận nền văn minh của họ có truyền thống Do Thái – Ki-tô (Judeo – Christian tradition). Trong dịp lễ nhậm chức của tân tổng thống Bush vào đầu năm 2001, giáo sư Stephen Prothero thuộc Đại Học Boston đă đề nghị sửa lại cho đúng với thực tế là “Judeo-Christian – Islamic tradition” v́ công dân Mỹ theo đạo Hồi hiện nay đông hơn người Mỹ Do Thái giáo! Ngoài ra, nước Mỹ hiện có đủ các sắc dân trên thế giới với đủ mọi tôn giáo thuộc mọi nguồn gốc văn hóa. Do đặc tính đa chủng và đa văn hóa, xă hội Mỹ không thể có một sự đồng thuận để chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào là tôn giáo chính thức của quốc gia. Các giáo phái Tin Lành, mặc dầu đă chiếm đa số từ ngày lập quốc đến nay, vẫn chưa bao giờ và sẽ không bao giờ trở thành quốc giáo tại Hoa Kỳ. II. Chủ nghĩa nhân đạo thế tục (Secular Humanism) luôn luôn thống lănh đời sống văn hóa chính trị Hoa Kỳ. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ là những bộ óc sáng suốt thấu triệt những hậu quả tai hại của tôn giáo tại Âu châu. Do đó, ngay từ đầu họ đă theo đuổi chủ nghĩa nhân đạo thế tục mà yếu tố chủ chốt là sự phân chia rơ rệt giữa tôn giáo và nhà nước (Strict separation of religion and government). Đó chính là nguyên tắc bảo đảm không cho phép bất cứ một tôn giáo nào có thể áp đặt giáo điều của ḿnh lên đời sống toàn dân. Đó cũng là nguyên tắc chiến đấu cho con người được tự do sử dụng lư trí của ḿnh để hướng dẫn cuộc sống của chính ḿnh và chống lại bọn cuồng tín làm công cụ cho các thế lực thần quyền đen tối. Chính v́ vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền đă minh thị ngăn cấm chính quyền thiết lập một quốc giáo và ngăn cấm tôn giáo xen vào chính trị. Từ ngày lập quốc đến nay đă hơn hai thế kỷ, nước Mỹ vẫn luôn luôn trung thành với chủ nghĩa Nhân Đạo Thế Tục. Đó là chủ nghĩa coi trọng những lợi ích, ước vọng và giá trị của con người hơn là niềm tin tôn giáo. (Secular humanism = A philosophy that elevates human interests, desires and values over religious beliefs). Trong ư nghĩa đó, quyền tự do ngôn luận (Freedom of speech) và quyền tự do báo chí (Freedom of Press) được coi trọng hơn tự do tín ngưỡng (Religious Freedom) như ta thấy trong vụ phim The last Temptation of Christ (Cơn cám dỗ cuối cùng của chúa Ki-tô). Cuốn phim này được mô phỏng theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzaki, xuất bản năm 1951. Nhà đạo diễn Mỹ Martin Scarsese dựng thành phim năm 1988. Theo giáo lư Ki-tô th́ Jesus có hai bản tính: bản tính con người và bản tính Thiên Chúa. Tác giả cốt truyện cũng như nhà làm phim bỏ qua tính Thiên Chúa của Jesus để chỉ mô tả về tính “người” của Jusus mà thôi. Tất nhiên, với tư cách là con người, Jesus cũng có những đau khổ, những thèm muốn và cũng bị cám dỗ như mọi người chúng ta. Đó cũng là lẽ thường trong đời sống thật của Jesus. Tuy nhiên, những người cuồng tín Công giáo cũng như Tin Lành đều không muốn nh́n thấy sự thật v́ nó làm giảm đi sự kính trọng của họ đối với Jesus vốn đă được thần thánh hóa quá mức. Tài tử Willem Dafoe đóng vai Jesus. Cuốn phim đă làm cho những người Ki-tô giáo tức giận v́ đă mô tả giấc mơ của Jesus khi Ngài bị treo trên thập giá. Trong cơn đau đớn cùng cực, Jesus ước muốn được làm một người b́nh thường chứ không muốn làm đấng cứu thế. Jesus muốn trở về đời thường, cưới Mary Magdelene làm vợ và có con với nàng. Magdelene nguyên là một cô gái điếm nhưng đă tha thiết yêu Jesus từ lâu. Hầu như Jesus đi đâu cũng có mặt nàng ở đó. Nàng luôn luôn chăm sóc Jesus như một người vợ đảm đang yêu chồng. Trong cơn hấp hối, Jesus cảm thấy yêu nàng vô cùng. Jesus chẳng tha thiết ǵ với cái tṛ cứu chuộc và cũng chẳng màng tới việc trở về với Đức Chúa Cha như người ta gán ép. Niềm khát khao lớn nhất của Jesus là làm t́nh với Magdelene. Cuốn phim tŕnh bày cảnh Jesus làm t́nh với Magdelene như một cặp vợ chồng b́nh thường. Nhiều người Ki-tô giáo bảo thủ kịch liệt kết án cuốn phim là nhục mạ Thiên Chúa của họ. Các rạp chiếu bóng trên khắp nước Mỹ bị những người biểu t́nh bao vây ngăn chặn không cho khán giả vào rạp coi phim “The last Temptation of Christ”. Nhiều tổ chức Ki-tô giáo vận động với chính quyền tiểu bang hay thành phố ra lệnh cấm lưu hành cuốn phim này. Nội vụ được đưa lên Tối Cao Pháp Viện. Kết quả, Tối Cao Pháp Viện xác định quyền làm phim là quyền tự do phát biểu tư tưởng (freedom of expression), do đó mọi việc ngăn cản chiếu phim nói trên đều vi hiến. Tu chính án 14 c̣n đi xa hơn nữa: chính sách của chính phủ phải theo đuổi mục tiêu thế tục hoặc vô tôn giáo (a government policy must have a secular or non – religious purpose). Do đó, trong thập niên 1960, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đă cấm các trường công lập không được tổ chức đọc kinh cầu nguyện và không được đọc Thánh kinh trong trường. Ngoài ra, Tu Chính án 14 c̣n ngăn cấm các cơ quan chính quyền không được hỗ trợ một tôn giáo nào (A government policy must neither inhibit nor advance religion to any significant degree). Do những qui định của luật pháp và hiến pháp Hoa Kỳ rất chặt chẽ nhằm ngăn chặn mọi sự lạm dụng của tôn giáo, thiết tưởng những hoạt động truyền giáo Tin Lành hiện nay ở Việt Nam chỉ là những hoạt động tư nhân mà thôi. Nếu phát hiện có một cơ quan nào của chính phủ hỗ trợ cho các việc truyền giáo nói trên ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần lên tiếng tố cáo trước dư luận . Những cơ quan đó có thể bị truy tố v́ họ đă vi phạm Hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ. III. Ư nghĩa đích thực của phương châm “IN GOD WE TRUST” Năm 1814, Francis Scott Key sáng tác bài thơ “The Star-sprangled Banner”. Câu thứ tư của bài thơ này là: “In God is our trust”. Năm 1864, Bộ Trưởng Ngân Khố Salmon P. Chase sửa lại thành IN GOD WE TRUST và xin chính phủ cho phép in câu này trên các đồng coins (tiền kẽm). Chính phủ chấp thuận nên câu này được in trên các đồng coins từ đó. Năm 1956, Quốc hội Mỹ công nhận câu “IN GOD WE TRUST” là phương châm chính thức của nước Mỹ (the US Motto) và phương châm này được in trên các đồng tiền giấy cũng như các đồng coins của Mỹ. Nhân tiện cũng xin nói thêm về tiền giấy của Mỹ: Mặc dầu gọi là tiền giấy (paper money) nhưng thực sự là vải, v́ nó gồm có: 75% bông, 20% nylon-polyester và 5% hóa chất. Công ty CRANE độc quyền chế tạo tiền có nam châm (magnetic ink) được chế tạo theo một công thức bí mật của Bureau of Engraving and Printing ở Washington D.C. H́nh thức và khuôn khổ của tờ giấy bạc Mỹ như ta thấy hiện nay đă bắt đầu từ 1862. Như ta đă biết, trên tờ giấy bạc và đồng coins nào cũng có phương châm IN GOD WE TRUST, nhưng chỉ trên tờ ONE DOLLAR mới có sự giải thích ư nghĩa của nó mà thôi. Kim Tự Tháp là biểu tượng cho nền tảng vững chắc của sự phát triển nước Mỹ trong tương lai (the strong base of future growth). Kim tự tháp chưa có đỉnh hàm ư sự kiến tạo chưa hoàn thành. Chân kim tự tháp có hàng số La mă MDCCLXXBVI (1776) mang ư nghĩa đời sống chính trị văn hóa và sự phát triển nước Mỹ đặt trên căn bản là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776. Jefferson là người soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và đóng vai tṛ trọng yếu trong thời kỳ Cách Mạng Hoa Kỳ. Quan điểm triết học và chính trị của Jefferson chịu ảnh hưởng sâu đậm tác phẩm Law of Nature (Luật Thiên Nhiên) của triết gia Anh Quốc John Locke (1632-1704), tư tưởng của Locke đă đi vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và đă trở thành yếu tố quan trọng trong truyền thống trí thức (the inellectual tradition) của giới lănh đạo Mỹ. Locke quan niệm Thượng Đế là Thiên Nhiên (God is Nature’s God). Luật của Thiên Nhiên là luật của Thượng Đế. Trong tác phẩm Essays On The Law and Nature xuất bản năm 1663, Locke viết: “Trong trạng thái tự nhiên, tất cả mọi người đều tự do và b́nh đẳng” (In a state of Nature, all men are free and equal). Tư tưởng trên của Locke đă gợi ư cho Jefferson viết một câu nổi tiếng thế giới trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người sinh ra b́nh đẳng và được Tạo Hóa [1] phú cho những quyền không thể chuyển nhượng, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc” (All men are created equal that they are endowed by the creator (Nature) with certain inalienable rights, among these are life, liberty and the persuit of happiness). |
| ||||
|
Sau John Loke là các triết gia thuộc phong trào khai sáng ở Pháp như J.J. Rousseau, Voltaire và Montesquieu. Các triết gia này đều nổi tiếng là những người chống Ki-tô giáo và đều có ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng của Jefferson. Trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Jeffuson viết: “Mọi người được tự do bày tỏ và bằng sự tranh luận để duy tŕ ư kiến của ḿnh về tôn giáo (All men shall be free to profess and by argument to maintain their opinions of religion)”. Riêng về Thánh Kinh Ki-tô giáo, Jefferson đă phê phán như sau: “Tôi đọc sách Khải Huyền của Tân Ước và tôi coi nó chỉ là những lời điên dại của kẻ mất trí” (I read the Apocalypse and I then considered it merely the ravings of a maniac). Sau hết, người có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến Jefferson cùng những nhà lập quốc Hoa Kỳ là Thomas Paine (1737-1809) với tác phẩm Common Sense xuất bản tháng 1/1776 với 120.000 bản. Đây cũng là một tác phẩm kịch liệt chống Ki-tô giáo. Tất cả những điều tŕnh bày trên chứng tỏ rằng: trật tự thế tục của xă hội Mỹ được đặt trên nền tảng của bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1776, trong đó có nói tới Tạo Hóa nhưng đó là Tạo Hóa Thiên Nhiên chứ tuyệt đối không có nghĩa là Thượng Đế của Ki-tô giáo. Mặt trước của tờ One Dollar là h́nh vị tổng thống tiên khởi George Washington. Ông không thuộc một đảng hoặc một giáo phái nào. Khi ông lănh đạo nước Mỹ dành độc lập từ tay người Anh th́ ông là thủ lănh của Hội Tam Điểm Mỹ (trụ sở đặt tại Alexandria thuộc tiểu bang Virginia). Mặc dầu lúc đầu lập quốc, tuyệt đại đa số dân chúng Mỹ theo đạo Tin Lành nhưng đạo này đă không thể trở thành quốc giáo. Cũng như trong hơn hai thế kỷ qua, hai đảng Dân Chủ và Cộng Ḥa luân phiên nhau lănh đạo nước Mỹ nhưng không một đảng nào có thể đi tới độc tài. Đó là nhờ Hội Tam Điểm có những bậc minh triết (dấu mặt) điều khiển nước Mỹ như một siêu chính phủ (Super-government). Hội Tam Điểm (Freemasonry) là một hội huynh đệ (fraternal order) lâu đời nhất và lớn nhất thế giới. Hội này xuất phát từ những nghiệp đoàn các thợ xây đá (unions of stone masons) là những người thợ nề chuyên xây các đại thánh đường và các dinh thự lâu đài khắp Âu châu trong thời Trung cổ. Ngày xưa, họ đă đem hết tài năng trí tuệ để dựng nên những thánh đường vĩ đại và những dinh thự nguy nga tráng lệ. Ngày nay họ quyết tâm xây dựng những giá trị luân lư và đạo đức ở tầm mức cao nhất. Họ là những người thấu triệt các thủ đoạn nham hiểm và các tội ác kinh khủng của Giáo hội Công giáo và những chế độ chính trị phi nhân bản. Ngày nay họ quyết tâm xây dựng một Trật Tự Thế Tục Mới. (NOVUS ORDO SECLORUM). Những hội viên Tam Điểm được tự do di chuyển khắp nơi trên thế giới (to travel freely), do đó chữ FREE được dùng làm tiếp đầu ngữ trước chữ MASON để trở thành FREE MASON (Hội viên Tam Điểm). Hội được thành lập vào thế kỷ XVI với quy định đầu tiên là chỉ thu nhận những người thợ xây đá (stone mason). Từ đầu thế kỷ XVII, hội thu nhận những người ưu tú xuất sắc trong xă hội, không phân biệt quốc tịch và nghề nghiệp. Hội chú trọng huấn luyện hội viên về triết lư đạo đức (normal philosophy) hơn là về kỹ thuật. Hội xác nhận không phải là một tôn giáo và không thuộc tôn giáo nào. Hội xác nhận Công giáo là thù địch. Theo đặc san “Avoice Crying In The Wilderness” số 2 của Tu viện Thánh Gia thuộc Giáo Phận New York (4425 Sneider Road, Fillmore NY14735) th́ các thủ lănh Tam Điểm đă vạch ra đường lối để tiêu diệt giáo hội Công giáo từ năm 1819 (P. 43). Phần lớn các tổng thống Mỹ từ trước đến nay là hội viên Tam Điểm. Phần lớn các nhà lập quốc kư tên trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền đều là Hội Viên Tam Điểm. Thiên tài âm nhạc Áo quốc Mozart (1756-1791) cũng là hội viên Tam Điểm, đă sáng tác bản đại nhạc kịch Tiếng Sáo Thần (The Magic Flute) mô tả nữ thần của màn đêm – tượng trưng cho các thế lực đen tối của tội ác – sẽ bị đánh bại và biến mất trên thế gian. Sau đó, hoàng tử của Công lư sẽ xuất hiện để báo hiệu sự h́nh thành của một Trật Tự Thế Tục Mới (Novus ordo seclorum). Cũng theo đặc san của Tu Viện Thánh Gia New York th́ giáo hoàng Gioan XXIII, Giáo hoàng Paul VI và giáo hoàng John Paul II đều là những người của Tam Điểm cài vào để phá giáo hội Công giáo. Ngày 25/9/59, Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập cộng đồng Vatican II để khởi đầu cuộc hủy diệt hoàn toàn giáo hội Công giáo. Từ sau Vatican II, giáo hội chỉ c̣n cái vẻ bề ngoài đồ sộ, thật sự bên trong đă bị sụp đổ tan hoang v́ nạn mất đức tin. Giáo hoàng Paul VI nhiều lần công khai tự nhận là bạn của Tam Điểm. Giáo hoàng John Paul II công khai nh́n nhận thuyết Big Bang, tức đă mặc nhiên phủ nhận việc Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày. Ngài công nhận thuyết Darwin tức đă mặc nhiên phủ nhận Adam-Eve là tổ tiên loài người, phủ nhận tội tổ tông và Chúa chẳng c̣n lư do ǵ để xuống thế cứu chuộc. Điều quan trọng hơn cả là Giáo hoàng John Paul II phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Đàng và Hỏa Ngục. Như vậy, việc các linh mục nhận tiền xin lễ của giáo dân đă trở thành một chuyện lừa bịp v́ làm sao có thể cầu nguyện cho linh hồn thân nhân giáo dân lên thiên đàng khi giáo chủ đă xác nhận thiên đàng không có? Xét cho kỹ, chúng ta nhận thấy cái công phá đạo của Giáo hoàng Paul II không phải là nhỏ và sự tố giác của Tu Viện Thánh Gia New York (Most Holy Family Monastery) không phải là điều vô căn cứ. Cái Kim Tự Tháp NOVUS ORDO SECLORUM hiện chưa hoàn thành v́ nó chưa có đỉnh. Chúng ta tự hỏi một khi cái kim tự tháp đó hoàn thành th́ liệu cái sào huyệt tội ác lớn nhất của loài người là Vatican có c̣n không? Câu trả lời khẳng định là KHÔNG! Có lẽ những người Hồi giáo cực đoan đă hiểu rơ nước Mỹ không có quốc giáo và Đấng Toàn Năng Lư Trí (GOD của Mỹ không phải là Allah. Chính v́ vậy mà Osama Bin Laden đă gọi nước Mỹ là “vô thần”. Thật sự, Hoa Kỳ là một nước Cộng Ḥa đầu tiên trên thế giới thế tục hóa. Sự thế tục hóa được thể hiện bằng những điều khoản phân định rơ rệt giữa thần quyền tôn giáo và thế quyền chính trị trong hiến pháp. Sự thế tục hóa là một nỗ lực của giới lănh đạo Hoa Kỳ chủ yếu nhằm chống lại những áp lực của Ki-tô giáo. Do đó, “God” trong phương châm “In God We Trust” dứt khoát không phải là “Christian God” tức Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki-tô. God trong châm ngôn IN GOD WE TRUST cũng dứt khoát không phải là Thiên Chúa của Ki-tô giáo bao gồm Công giáo và các giáo phái Tin Lành. God trong châm ngôn của Mỹ tương tự như quan niệm về ĐẠO của Lăo Tử hoặc quan niệm về Thượng Đế của Spinoza (1631-1677). Học giả Stephen Mitchell viết về Thượng Đế của Spinoza như sau: “Thượng Đế là tổng thể của mọi vật hiện hữu trong thời gian và không gian hoặc như chúng ta có thể nói tại Huê Kỳ ngày nay: Đó là Đạo” (God is the totality of all things that exist in time space... or as we might say today in America: The Tao – The Enlightened Minds – page 142). Source: http://home.earthlink.net/~charlieng...d_we_trust.htm Last edited by DjDoan; 09-05-2007 at 05:33 PM. |