| ||||
|
Làm thế nào để chọn lựa giữa hai khả năng này? Khoa học không giúp ích được ǵ cho chúng ta ở đây bởi v́ nó cho phép cả hai t́nh huống đều có thể xảy ra. Nếu xem đây là một t́nh cờ, có rất nhiều cách được đưa ra để giải thích về sự sáng tạo một đa vũ trụ. Cụ thể như, nghiên cứu chung quanh xác suất miêu tả về thế giới lượng tử, nhà vật lư học Hugh Everett đă đề xuất rằng vũ trụ tách ra thành vô số những cái giống hệt nhau tùy theo những khả năng và chọn lựa được thực hiện. Một vài vũ trụ chỉ khác nhau bởi vị trí của một electron trong một nguyên tử, những cái khác có thể khác biệt căn bản hơn. Những định luật vật lư và hằng số cũng như những điều kiện sơ khởi của chúng có thể không giống nhau. Một giả thuyết khác cho là trong một chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ, đă có một loạt những vụ nổ Big Bang và Big Crunch. Bất cứ lúc nào vũ trụ được tái sanh từ đống tro tàn của ḿnh để bắt đầu lại trong một vụ nổ Big Bang mới, nó lại được khởi đầu với một tổng hợp mới của những hằng số vật lư và điều kiện sơ khởi. Cũng c̣n một giả thiết khác nói về sự sáng tạo vũ trụ, đó là lư thuyết do nhà vật lư Andrei Linde và một số người khác đề ra, cho rằng mỗi một trong vô số lượng những đám bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong không gian đă cấu thành vũ trụ. Như thế th́ vũ trụ của chúng ta chỉ là một cái bong bóng nhỏ trong một cái siêu vũ trụ được tạo nên bởi vô số những cái bong bóng khác. Ngoại trừ cái của chúng ta, không có cái nào trong số những vũ trụ đó nuôi dưỡng được sự sống bởi v́ những hằng số vật lư và những định luật của chúng đă không thích hợp. 3. Không hề có một Đấng Sáng Tạo trong Phật Giáo. Điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền thống tín ngưỡng lớn trên thế giới là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, ư niệm về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề được đặt ra để lư giải do bởi ư niệm về tánh không và duyên khởi đă được bàn đến trước đây. Phật giáo xem vấn đề “sáng tạo” là không liên quan bởi v́ theo họ, thế giới hiện tượng thực sự không được sinh ra, trong cái ư nghĩa là chúng trải qua t́nh trạng từ phi hữu trở thành hiện hữu. Chúng có mặt trong một cách thế được gọi là “tục đế” và không hề là một thực tại chân thực. Tục đế hay thực tại quy ước có mặt do sự cảm nghiệm của ta về một thế giới mà chúng ta cho rằng trong đó mọi sự vật hiện hữu một cách khách quan. Phật giáo quan niệm rằng những nhận thức như thế là sai lầm bởi v́ thế giới hiện tượng, nh́n một cách rốt ráo không phải là những thực tại khách quan, có nghĩa là chúng không hề là những hiện hữu tự thân. Đây được gọi là “chân đế”. Trong những ư nghĩa này, vấn đề sáng tạo trở thành một vấn nạn giả. Cái vấn nạn về một “nguồn gốc nguyên thủy” chỉ bắt nguồn từ sự xác tín vào thực tại tuyệt đối của thế giới hiện tượng. Cái ư tưởng về sáng tạo chỉ cần thiết khi chúng ta tin là có một thế giới khách quan. Nó tan biến đi khi chúng ta nhận thức rằng thế giới hiện tượng, cho dù là chúng ta có thể thấy chúng rơ ràng, không hề có một hiện hữu độc lập, “khách quan”. Và một khi sự sáng tạo không c̣n là một vấn đề, ư niệm về Đấng Sáng Tạo cũng không c̣n là một yêu cầu được đặt ra. Tuy nhiên, quan điểm của Phật giáo không hề loại bỏ cái khả năng về một sự hiện bày của thế giới hiện tượng. Một điều hiển nhiên, cái thế giới mà chúng ta nh́n thấy chung quanh ḿnh không phải là phi hữu, tuy nhiên Phật giáo cho rằng nếu chúng ta khảo xét cách thế mà chúng hiện hữu, chúng ta sẽ nhận ra ngay là chúng không thể được xem như bao gồm một loạt những thực thể độc lập, có hiện hữu tự thân riêng biệt. Nhà triết học lớn của Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ hai, Thánh giả Long Thọ, đă nói: “Bản tánh của vạn pháp là duyên khởi; tự nó, vạn pháp không hề có tự tánh”. Như thế sự tiến triển của chúng không phải do t́nh cờ may mắn mà cũng không phải bởi một sự can dự thiêng liêng nào. Thay vào đó chúng bị chi phối bởi luật nhân quả trong một mối liên hệ duyên khởi và nhân quả hổ tương bao trùm lên tất cả. Bởi v́ vạn pháp không hề có thực tại độc lập, chúng không thể nào ‘bắt đầu’ và ‘kết thúc’ một cách thực sự như là những thực thể tách biệt.Và như thế, ư niệm về một sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ thuộc về tục đế chứ không phải chân đế. Như vậy, quan điểm này phù hợp với nền khoa học vũ trụ đương đại như thế nào? Chúng ta thấy duy chỉ có loại vũ trụ không có khởi điểm và tận cùng là loại vũ trụ tuần hoàn với một loạt những vụ nổ vô tận của Big Bang và Big Crunch ở trong quá khứ và tương lai. Thế nhưng cái trạng huống mà trong đó vũ trụ của chúng ta tự sụp đổ vào một ngày nào đó bởi một Big Crunch có vẻ như không phù hợp với những quan sát đương đại khi cho rằng mật độ khối lượng của những quang chất (0.5% trong tổng số khối lượng và năng lượng tích chứa trong vũ trụ), vật chất tối (29.5%) và năng lượng tối (70%) cộng lại với nhau chỉ là cái tỷ trọng tới hạn. Điều này có nghĩa rằng cái h́nh học của vũ trụ là một h́nh học phẳng, tức là nó sẽ trương giăn đến bất tận và độ gia tốc trương giăn này sẽ không đi đến số không sau một khoảng thời gian vô tận ở tương lai. Như thế, với mức độ kiến thức hiện nay có vẻ như chưa chấp nhận được ư niệm về một loại vũ trụ tuần hoàn. |
| ||||
|
4. Những suối nguồn của ư thức cộng hữu với thế giới vật chất. Bây giờ trở lại vấn đề nhân bản thuyết. Theo như Phật giáo quan niệm, sự ḥa điệu tuyệt vời của vũ trụ đủ để cho ư thức xuất hiện không hề là công tŕnh của một Đấng Tối Cao nào cả, bởi v́ nhân vật này không hề hiện hữu. Đây cũng không phải là sản phẩm của một t́nh cờ may mắn mà những người ủng hộ lư thuyết về một đa vũ trụ đề xuất: chúng ta có mặt và sống ở đây, trong vũ trụ này, chỉ là một ngẫu nhiên đầy may mắn do sự phối hợp chính xác của những hằng số và điều kiện vật lư. Phật giáo cho rằng cái vũ trụ vật chất này và ư thức đă luôn cộng hữu với nhau từ vô thủy. Để cộng hữu, cái thế giới hiện tượng này phải phù hợp một cách hổ tương, và do đó tạo ra sự ḥa điệu kỳ diệu. Cái sau sinh khởi bởi v́ vật chất và ư thức không thể loại trừ nhau, và bởi v́ chúng có mối liên hệ duyên khởi. Quan điểm này phù hợp như thế nào với khoa sinh học thần kinh đương đại? Khoa sinh vật học quả là vẫn đang c̣n trên một lộ tŕnh dài lâu mới có khả năng lư giải được nguồn gốc của ư thức Tuy nhiên, đại đa số những nhà sinh vật học quan niệm rằng không cần thiết giả định rằng những suối nguồn của ư thức cộng hữu với vật chất, bởi v́ theo họ, cái sau có thể xuất hiện từ cái trước, rằng tâm thức có thể sinh khởi từ vật chất. Tâm thức phát sinh một khi mà hệ thống của những tế bào năo bộ trong các sinh vật đạt đến ngưỡng cửa của một phức hợp. Trên quan điểm này, ư thức đă xuất hiện, cũng giống như sự sống, từ sự phức hợp của những nguyên tử vô sinh. Đến đây một câu hỏi được đặt ra: Một khi Phật giáo cho rằng ư thức được phân ĺa và vượt qua t́nh trạng vật lư, phải chăng Phật giáo cũng rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên tâm-thân phân ĺa của Descartes, qua đó cho rằng có hai loại thực tại, một của tâm (hay tư tưởng) và một của thế giới vật chất? Câu trả lời là không. Quan điểm của Phật giáo hoàn toàn khác biệt từ căn bản với chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes. Chỉ có một sự khác biệt trên mặt tục đế giữa vật chất và ư thức, bởi v́ ở điểm tận cùng, cả hai đều không có một hiện hữu tự thân. Bởi v́ Phật giáo bác khước cái thực tại rốt ráo của thế giới hiện tượng, nó đồng thời cũng bác khước luôn cái ư tưởng cho rằng ư thức là độc lập và hiện hữu tự thân. V. Khoa học và tâm linh: hai cửa sổ mở vào thực tại. Vừa rồi chúng tôi đă cố gắng chứng tỏ rằng đă có những điểm đồng quy nổi bật giữa quan điểm về thực tại của Phật giáo và nền khoa học đương đại. Ư niệm về “vô thường”, một ư niệm then chốt trong Phật giáo, tương ứng với ư niệm về tiến hóa trong khoa học về vũ trụ, địa chất và sinh vật. Không có ǵ ở trong thể tĩnh, tất cả đều thay đổi, chuyển động và tiến triển, từ một hạt nguyên tử cực nhỏ cho đến một cấu trúc lớn lao nhất trong vũ trụ. Vũ trụ tự nó cũng đă có một lịch sử. Thuyết tiến hóa của Darwin kết hợp với sự chọn lọc tự nhiên chi phối những đổi thay liên tục trong thế giới sinh vật. Ư niệm về “duyên khởi”, cũng là trọng tâm của giáo lư Phật giáo, cộng hưởng với tính toàn thể, bất khả phân của không gian được hàm chứa trong thí nghiệm EPR về các cấp độ nguyên tử và hạ nguyên tử, cùng với thí nghiệm quả lắc Foucault về các tầng vũ trụ. Ư niệm về “tánh không” của Phật giáo, với sự vắng mặt về sự hiện hữu của một thế giới hiện tượng thường hằng và độc lập, tương đương với tính chất lưỡng tánh của ánh sáng và vật chất trong thế giới lượng tử của khoa học. Bởi v́ một photon sẽ là sóng khi ta không quan sát chúng và là hạt khi ta đo lường, thế nên ta có thể nói là nó không có một hiện hữu độc lập, tự thân, sự xuất hiện của nó hoàn toàn tùy thuộc vào người quan sát. Chúng tôi cũng đă nêu rơ rằng Phật giáo phản bác cái ư niệm về một sự khởi đầu của vũ trụ cũng như về một vị Thượng Đế hay là một nguyên lư sáng tạo có khả năng ḥa điệu những phẩm tánh của ḿnh, từ đó tạo điều kiện cho ư thức xuất hiện. Phật giáo cho rằng ư thức cộng hữu với vật chất nhưng không hề bắt nguồn từ vật chất. Bởi v́ cả hai đều tương tác và duyên khởi nên không cần thiết phải điều chỉnh thế giới vật chất để phục vụ cho ư thức trong một thể ḥa điệu. Những điểm đồng quy nói trên không có ǵ là đáng ngạc nhiên bởi v́ cả khoa học lẫn Phật giáo đều đă sử dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chân xác để vươn đến chân lư. Bởi v́ mục tiêu của cả hai là mô tả thực tại, họ phải gặp nhau ở những mẫu số chung mà không hề loại trừ nhau. Trong khoa học, những phương pháp cơ bản để khám phá sự thật là thí nghiệm và lư thuyết hóa dựa vào phân tích; trong Phật giáo, quán tưởng là phương pháp chính. Cả hai đều là những cánh cửa sổ cho phép ta hé nh́n vào thực tại. Cả hai đều vững vàng trong những phạm trù chuyên biệt của ḿnh và bổ túc lẫn nhau. Khoa học khám phá giùm ta những kiến thức “qui ước”. Mục tiêu của nó là hiểu rơ thế giới hiện tượng. Những áp dụng kỹ thuật của nó có thể gây nên những hệ quả xấu hay tốt đối với đời sống thể chất của con người. Thế nhưng quán tưởng, khi giúp ta nh́n rơ bản tánh chân thật của thực tại, có mục đích cải thiện nội giới để ta có thể hành động nhằm cải thiện đời sống của tất cả mọi người. Những nhà khoa học c̣n sử dụng đến những thiết bị tối tân hơn để khám phá thiên nhiên. Trái lại trong h́nh thức tiếp cận bằng quán tưởng, thiết bị duy nhất là tâm. Hành giả quan sát những tư tưởng của ḿnh được đan kết lại cùng nhau như thế nào và dính mắc vào y ra sao. Y khảo sát cái cơ chế vận hành của hạnh phúc và đau khổ để từ đó cố gắng khám phá ra những tiến tŕnh tâm linh nhằm nâng cao sự an b́nh nội tâm, làm cho cơi ḷng ḿnh rộng mở hơn đối với tha nhân để giúp họ cùng phát triển, cũng như từ đó thấy rơ được những tiến tŕnh gây ra những hệ quả độc hại để loại bỏ chúng. Khoa học cung cấp cho ta những dữ kiện, nhưng không mang lại sự tiến bộ tâm linh và chuyển hóa. Trái lại sự tiếp cận tâm linh hay quán tưởng chắc chắn phải đưa ta đến một sự chuyển hóa bản thân sâu sắc trong cách thế mà chúng ta nhận thức về thế giới để dẫn đến hành động. Hành giả Phật giáo một khi nhận thức rằng vật thể không hề có hiện hữu tự thân sẽ giảm thiểu sự dính mắc vào chúng, từ đó giảm bớt khổ đau. Nhà khoa học, với cùng một nhận thức như thế, sẽ xoa tay hài ḷng, xem đó như là một tiến bộ tri thức hầu sử dụng vào những công tŕnh nghiên cứu khác, sự khám phá này không hề làm thay đổi thị kiến cơ bản của y đối với thế giới và cách thức mà y hướng dẫn đời sống của ḿnh. Trịnh Xuân Thuận (Theo Tia sáng) http://giaodiemonline.com/noidung_de...hp?newsid=1495 |