| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
|
1- Độc đầu Ư thức: Ư thức có khả năng hoạt động riêng biệt không cần sự phối hợp của năm thức trên. Ư thức có thể tổng hợp những việc đă qua, suy nghiệm những sự kiện trong hiện tại và lập dự án cho tương lai... Khả năng của Độc đầu Ư thức rất đa dạng, và phạm vi hoạt động của nó rất sâu rộng và phức tạp nên phải chia làm ba loại: a) Ư thức trong mộng: Ư thức hoạt động trong mộng chính là lúc mà năm thức trước hoàn toàn không hoạt động, không có tác dụng phân biệt. Khi ngủ say th́ năm thức trước không có tác dụng phân biệt, đ́nh chỉ hoàn toàn, do đó ư thức hoạt động thường xa rời thực tại. Ư thức tự biên hiện ra những cảnh tượng riêng, tuy cũng có phân biệt suy lư nhưng hầu hết là sai lầm, điên đảo; tin những việc phi lư khác với thường t́nh... Những cảnh mà ta thấy trong mộng thường thường là độc ảnh cảnh, v́ đó là những h́nh ảnh sự vật hoàn toàn do ư thức chủ quan biến hiện ra mà thôi. Đôi khi cũng là những đới chất cảnh v́ nhiều lúc do biến động sinh lư của cơ thể mà sinh ra những h́nh ảnh đới chất cảnh ấy. V́ dựa vào căn bản thực tai mà khởi lên những h́nh ảnh nên được gọi là đới chất cảnh. b) Ư thức tán vị: Trong khi tỉnh thức, Ư thức suy nghĩ tính toán việc này việc kia, nhớ lại quá khứ, tính toán trù liệu mọi việc trong hiện tại, lập kế hoạch cho tương lai... Khi Ư thức suy nghĩ tính toán có kế hoạch làm việc thiện th́ tức khắc, có 11 món thiện tâm sở hiện khởi như: Tin, tinh tấn, tự xấu hổ, thẹn với người, không tham lam, không sân hận, không si mê, nhẹ nhàng thư thới, không buông lung phóng túng, làm rồi không chấp trước, không làm tổn hại. Chính lúc này ta có thể hoạt động giải nghiệp bằng cách tinh tấn tu tập tiến đến giải thoát hoàn toàn. Thành Phật, thành Bồ tát là lúc này... Nếu khi Ư thức suy nghĩ tính toán lập ra kế hoạch làm ác, tức th́ có 6 món căn bản phiền năo phát khởi đó là: tham lam, nổi nóng, si mê, khinh mạn, nghi ngờ do dự, ác kiến. Thấy biết cố chấp thuộc về nhiễm ô tội ác (trong phần này chia làm năm loại: Chấp ta; chấp một bên ví dụ cho rằng con người chết rồi là hết (đoạn kiến), hoặc cho rằng con người sau khi chết sẽ có linh hồn bất tử không thay đổi (chấp thường); mê tín dị đoan tà vạy; khư khư giữ lấy chỗ hiểu biết của ḿnh, không tiếp thu cái mới đúng hơn, cho ư kiến người khác đều là sai trái; chấp giữ theo giới cấm không chơn chánh của ngoại đạo theo những tục lệ trái với luân thường đạo lư). Đồng thời 20 món tùy phiền năo cũng cùng lúc phát khởi đó là: giận, hờn, che giấu, buồn phiền, tật đố ganh ghét, bỏn sẻn, dối gạt, bợ đỡ nịnh hót, tổn hại, kiêu căng, tự ḿnh không biết xấu hổ, không biết thẹn với người, thân tâm chao động, hôn muội mờ tối trầm trọng, không tin, biếng nhác trễ năi, buông lung, quên mất chánh niệm, rối loạn, hiểu biết không chơn chánh. Ư thức bị vây quanh bởi 6 món căn bản phiền năo và 20 món tùy phiền năo này nên nó tạo ra vô số nghiệp ác cũng trong lúc “ư thức tán vị” này hoạt động. Đây là những “chập tư tưởng” vô cùng ác hại, nếu ta không biết dùng chánh niệm để tiêu diệt chúng. Ư thức tán vị hầu như chiếm trên 90 phần trăm tông số các hoạt động của Độc đầu Ư thức. Nó hoạt động trong trường hợp một người ngồi trong pḥng thật yên tĩnh không có những âm thanh hay ánh sáng khuấy động, nhắm mắt suy tưởng những ǵ mà ḿnh muốn, cố gắng không cho cac giác quan hoạt động, chỉ để cho ư thức hoạt động một ḿnh. Ví dụ, suy nghĩ lại những việc làm đă qua, đúc kết kinh nghiệm để thiết lập một kế hoạch cho một công tŕnh tương lai chẳng hạn. Trường hợp này có thể là một kê hoạch thiện cứu người, giúp đời; ngược lại như trên đă đề cập, lắm lúc lại là những kế hoạch độc ác hại người để đạt được những mục tiêu cá nhân; hoặc những kế hoạch không thiện không ác... Do khả năng hạn chế của mỗi người nên việc tổng kết những kinh nghiệm quá khứ, đưa ra nhận xét và lập ra kế hoạch tương lai cũng do đó mà bị hạn chế. Hơn nữa, trường hợp Ư thức tán vị này hoạt động có tính cách suy lư hạn hẹp v́ thiếu sự hợp tác của năm thức trước, nên không chính xác v́ thiếu dữ kiện thực tế để so sánh kiểm nghiệm... Ví dụ, nhận xét về một căn nhà chẳng hạn, những sự đúc kết do suy nghĩ nhớ lại sẽ thiếu nhiều chi tiết về căn nhà so với việc quan sát thực tại hiện trường, v́ lúc ấy có năm giác quan đưa đầy đủ dữ kiện vào để suy xét th́ mới chính xác hơn. Cảnh của ư thức tán vị thường là độc ảnh cảnh. Những ảnh tượng hiện ra do suy nghiệm về một vật thể có thực, đó là hữu chất độc ảnh (ví dụ h́nh ảnh của một ngôi nhà mà ta đă từng thấy rồi). C̣n h́nh ảnh của một con quỷ đầu bị lửa đốt cháy đỏ mà ta chưa hề thấy lại hiện ra, đó là vô chất độc ảnh. c) Ư thức trong định: Khi những bậc tu thiền định đă đạt đến độ nhất tâm bất loạn, th́ ư thức không tiếp nhận các nhận thức do năm giác quan đưa vào. Lúc ấy ư thức trong định phát sinh độc lập với năm thức trước. Cảnh của ư thức trong định thường là tánh cảnh. Chỉ có những bậc tu thiền định đạt đạo mới thể nghiệm được những h́nh ảnh tánh cảnh này. C̣n những người tu thiền mà tâm chưa an định, chưa đạt đến nhất tâm bất loạn th́ lắm lúc vẫn có những độc ảnh cảnh và đới chất cảnh hiện ra như thường. Các nhà duy tâm luận chủ quan cũng thường hay nói về Ư thức, nhưng họ chỉ bàn về Ư thức tán vị và Ư thức trong mộng là chấm dứt. Họ không biết đến Ư thức trong định như trong môn Duy thức học của Phật giáo đề cập. 2- Ngũ câu Ư thức: Khi Ư thức chỉ chung khởi với một thức trước th́ năng lực nhận xét của nó có chiều sâu hơn, tinh tế và nhiều năng lực hơn. Ví dụ khi xem một loài hoa lạ mà ta chăm chú th́ sự xem xét đó có chiều sâu hơn, tinh tế hơn so với lúc vừa xem hoa vừa nghe nhạc v.v... Điều này cũng dễ hiểu, v́ năng lực bị phân tán th́ mũi tấn công sẽ không được mạnh. Henri Louis Bergson cũng có phân tích về “trực giác”, điều này có thể nói nó tương tự như “cảm giác” của ngũ câu ư thức này. Thế nhưng, đi sâu hơn nữa đến vai tṛ tạo nghiệp của ngũ câu Ư thức và vai tṛ tàng trữ nghiệp và phát khởi hiện hành trong hiện tại cũng như động lực dẫn nghiệp đầu thai qua kiếp sau, th́ ông hầu như không lư giải được những vận động, biểu hiện của thức thứ bảy và thức thứ tám như trong Duy thức học. Các triết gia Tây phương hầu như rất thích thú phân tích về những chức năng của Ư thức nhưng không vươn tới được thức thứ bảy và thức thứ tám. Tôi nghĩ rằng, đừng cho họ không nghiên cứu về Phật giáo nhưng v́ họ bị g̣ bó bởi những kiến thức khoa học thực nghiệm của xă hội Tây phương đó thôi! Nhiều người cũng có nói đến tiềm năng, nói đến cái “IT”, đó chẳng qua trong Duy thức học xem như là “tập khí” hay tiềm năng hay chủng tử cũng vậy. Xin trích dẫn một đoạn trong sách "Duy thức học thông luận” của Thạc Đức có liên quan đến trường hợp Ngũ câu Ư thức này: “Do cảnh vật thực tại chạm vào giác quan, Ư thức và năm thức trước đồng thời (Ngũ câu Ư thức) phát sinh, công nhận có cảnh vật thực tại nghĩa là công nhận có thế giới khách quan, giống với chủ trương của thực tại luận. Nhưng chỉ trong trường hợp cảm giác, Ngũ câu Ư thức mới có được sự trực nhận tánh cảnh, chứ đi sâu vào tri giác, th́ cảnh đó lại trở thành đới chất cảnh rồi. Ma đă là đới chất cảnh th́ không phải là tánh cảnh nữa”. Thế giới đới chất cảnh khác với thế giới tánh cảnh, v́ đó là những biến hiện của thế giới tánh cảnh. Điểm này giống với chủ quan duy tâm luận. Tuy thế, Duy thức học không phải chủ quan duy tâm luận v́ lẽ Duy thức học có công nhận thế giới khách quan; lại không giống thực tại luận v́ cho rằng thế giới do Ư thức nhận biết chưa phải là thế giới tánh cảnh chân thực và tánh cảnh chỉ là sở duyên duyên cho sự phát sinh đới chất cảnh. Ngũ câu Ư thức rất gần với kinh nghiệm của thực nghiệm chủ nghĩa. Phần căn bản của kinh nghiệm là cảm giác, mà của Ngũ câu Ư thức cũng là cảm giác vậy. Nhưng cảm giác là ǵ? (1)- Phần nhận thức (chủ thể) (2)- Phần bị nhận thức (đối tượng) Cả hai phần hợp lại gọi là cảm giác, hai phần là một. Ta đừng nên lầm hai phần ấy với giác quan (chủ thể) và ngũ trần (đối tượng) là những điều kiện làm phát sinh cảm giác. Có người sẽ bảo rằng tánh-cảnh giống hệt như “vật tự thân” của Kant, v́ lẽ thế giới của đới chất cảnh không phải là thế giới tánh cảnh cũng như hiện tượng của sự vật không phải là “vật tự thân”. Duy thức học vẫn công nhận cái bản chất ấy của sự vật, nhưng có khác với Kant là ở chỗ Ngũ câu Ư thức có thể, trong trường-hợp cảm-giác, nhận thức đến được tánh-cảnh, mà Kant th́ nhất định quả quyết Ư thức không thể hiểu đến được “vật tự thân”. Nếu có “bản chất”, th́ đó là ǵ? Bản chất ấy cố nhiên không phải do Ư thức chủ quan biến hiện được, chỉ có Ngũ câu Ư thức có thể cảm giác đến được mà thôi. Nhưng nếu bản chất ấy là Thần, ư tưởng của Thượng đế, th́ bản chất ấy lại giống với nguyên tắc tạo hóa của Berkeley. Và nếu đứng về thực tại luận, cho đó là vật có thực chất, th́ lại giống “thế giới khách quan” của duy vật luận. Nếu bảo đó là “lư”, th́ lại giống với ư chí của Schopenhauer mất. Vậy th́ tánh cảnh ấy là ǵ? Sao lại tồn tại ngoài ư thức chủ quan? Muốn t́m biết, ta phải bước thêm một bước nữa để t́m hiểu thức thứ tám (thức Alaya). Đến đây ta chỉ mới biết rằng Duy thức học chủ trương thế giới tánh cảnh là thế giới thực tại và thế giới đới chất cảnh là thế giới h́nh bóng, một bên thực, một bên hư thôi”. Khi nói đến thế giới tánh cảnh tức là nói đến bản chất sinh khởi ra thế giới đới chất cảnh, đồng thời cũng đề cập đến đối tượng của thức thứ tám. Thế giới tánh cảnh là hiện tướng của thức thứ tám, đều do thức này biến khởi, trong là căn thân, ngoài là thế giới. Căn tức là các giác quan là căn cứ phát sinh ra thức. Thế giới do ư thức nhận biết được là thế giới đới chất cảnh. Rất hiếm khi nhưng Ngũ câu Ư thức trong trường hợp cảm giác cũng có thể cảm nhận được đến thế giới tánh cảnh. Ngoài thế giới chủ quan do Ư thức nhận biết c̣n có thế giới khách quan. Thế nhưng cả thế giới chủ quan và thế giới khách quan đều là biến tướng của thức thứ tám. Do đó có thể nói rằng thế giới tánh cảnh làm bản chất cho thế giới đới chất cảnh vẫn nằm trong thức thứ tám. Thế giới tánh cảnh là một bộ phận của thức thứ tám. Sự tạo nghiệp của ư thức phát xuất từ nhiều nguyên nhân, có thể là do sự phán đoán sai lầm của ư thưc trong trường hợp phi lượng (sự nhận xét sai về đối tượng) mà tạo ra nghiệp. Cũng có thể là do bản ngă chấp trước, là nguyên nhân dẫn dắt Ư thức đến chỗ sai lầm mà tạo ra nghiệp, cũng có thể là do những chủng tử bất thiện trong thức thứ tám phát khởi ra hiện hành mà tạo ra nghiệp v.v... Trong bài tụng thứ hai, ngài Thế Thân đề cập thẳng đến Nghiệp. V́ do nghiệp của những tập khí đó là những hạt giống của các nghiệp, gồm có nghiệp lành, nghiệp dữ, và nghiệp bất động do tu thiền định đạt được làm sơ duyên. Thứ đến là hạt giống của hai thủ. Hai thủ gồm có tướng phần (sở phân biệt) và kiến phần (năng phân biệt) của Thức; Danh (tức là Tâm) và Sắc (tưc là phần thuộc về vật chất, thuộc về thân); Tâm và Tâm sở. Phần sau này tức là hạt giống của hai thủ làm thân duyên. Tóm lại, do tập khí cũng gọi là chủng tử hay hạt giống của các nghiệp và của hai thủ kể trên làm sơ duyên và thân duyên, nên thân dị thục đời này vừa chết đi, liền sau đó chủng tử các nghiệp và chủng tử hai thủ trở thành động lực chính yếu, lôi kéo thức thứ tám đi đầu thai để thọ quả báo ở đời sau và đời sau nữa. Nếu không quyết chí chuyên tu để tiêu diệt các nghiệp th́ khó thoát khỏi ṿng sinh tử luân hồi. Lâm Như Tạng (Trích Lâm Như Tạng, Thức thứ tám) |