| ||||
|
SỰ CẦN THIẾT PHẢI LUÂN HỒI BIỆN BÁC và BẰNG CHỨNG A/ Luân hồi là cần thiết: Sự khác biệt giữa con người đặt một vấn đề quan trọng mà nhân loại đă cố gắng giải thích. Có ba cách giải thích : 1. Trời cấu tạo sự khác biệt đó: Như vậy con người bất lực và chỉ biết chịu những mạng lịnh độc đoán. 2. Thuyết di truyền: Theo thuyết này, con người cũng bất lực và mọi việc đều do quá khứ của những kẻ khác. 3. Thuyết luân hồi: Theo thuyết này, con người là kết quả của quá khứ ḿnh. Đời sống hiện tại là do chính ḿnh đă tạo ra ở quá khứ. Thuyết Trời cấu tạo: Đó là thuyết định mạng. Theo thuyết này, Trời định cho mỗi người số mạng và tánh t́nh. Con người chỉ rút một lá số. Số tốt th́ quí dù y không có làm ǵ để xứng đáng số mạng đó. Số xấu th́ phải chịu dù y cũng chẳng làm ǵ để phải bị đọa đày. Chúng ta khó mà chấp nhận một lư thuyết như thế v́ nó bôi lọ công lư và t́nh thương. Thuyết di truyền: Thuyết này cũng không vững v́ thiên tài không được cha truyền con nối. Lắm khi con của những người thánh thiện lại trụy lạc. Hơn nữa, những đứa con cùng một cha mẹ cũng không giống nhau và có thể thù nghịch nhau. Thuyết luân hồi: Theo thuyết này, Thượng đế tỏ ra công b́nh và nhân từ, c̣n con người th́ có đủ quyền năng và sáng suốt để cấu tạo đời ḿnh. Lúc mới nhập thế, con người như một mầm vô tri. Do đó mới có kẻ dă man. Tuy nhiên, những kẻ dă man này là vị thánh ở tương lai nhờ các kinh nghiệm thu thập trong nhiều kiếp kế tiếp, nhằm phát triển trí huệ, đạo đức và tâm thức. Trường hợp anh em nghịch nhau là v́ họ đă là kẻ thù ở kiếp trước. Ở kiếp này họ cần gặp nhau trong một gia đ́nh để sự thù hằn được giảm bớt và tiêu diệt. Như thế con người làm chủ định mạng ḿnh và đang cấu tạo tương lai của chính ḿnh. B/ Biện bác: Các lời biện bác không có giá trị thật sự. Chuyển kiếp làm thú: Có người chấp nhận thuyết luân hồi nhưng cho rằng con người có thể đầu thai làm thú. Việc ấy không thể được. Trước khi tiến đến hàng nhân loại, chúng ta đă là sắt đá, thảo mộc và cầm thú. Chúng ta không thế đi ngược ḍng tiến hóa. Thuyết mới lạ: Có người cho thuyết luân hồi mới lạ quá. Thật ra, thuyết ấy đă được dạy từ ngày xưa. Ở Á Đông ai ai cũng tin thuyết ấy và nay một phần lớn nhân loại đă biết giáo lư này. Thuyết này được dạy ở Ấn độ trong kinh Bhagavad Gita và được phổ biến ở xứ Chaldée, ở Ai Cập, ở Hi Lạp với Pythagore và Platon, ở La Mă, ở Thánh Đường Thiên Chúa giáo cổ với Thánh Augustin, Origene và trong kinh Coran mới. Dân Gaulois xưa cũng đă biết. Trong quyển Chiến tranh với xứ Gaules, César viết : “Một thuyết quan trọng của họ là tin tưởng rằng linh hồn bất tử và sau khi chết, nó sang qua một thể xác mới”. Trong kinh Tân Ước, Đấng Christ đă chấp nhận thuyết luân hồi khi Ngài nói với môn đệ rằng Jean Baptiste chính là Elise (Saint Mathieu XI,14). Ở thời cận đại, Paracelse, Jacob Boehme, Giordano Bruno, Leibnitz, Voltaire, Fontenelle, Claude Saint Martin, Goethe, Balzac, Fourier, Schelling, Théophile Gautier, Walter Scott, Schopenhauer, Flammarion đều chấp nhận thuyết luân hồi. Về vấn đề này, quyển Tiểu luận về sự tiến hóa của nhân loại của bác sĩ Pascal rất đáng đọc. Tái sinh ở một hành tinh khác: Trước hết là chấp nhận thuyết luân hồi. Sau đó, nên biết ở quả đất này, có đủ cấp bậc tiến hóa cần cho ta. Vậy tại sao phải t́m một hành tinh khác ? Xáo trộn trong các mối t́nh cảm: Đối với linh hồn, không có sự xáo trộn. Trái lại, nó cần thay đổi mối liên hệ để t́nh thương mến được phát triển đầy đủ và điều ḥa. Sự xa cách giữa các kẻ thân yêu: Sau khi từ trần, các kẻ thân yêu gặp nhau ở cơi Trung Giới và Thiên Đàng. Chúng ta đă biết những kẻ thân yêu thường gặp nhau ở cơi Trần. Trái với tôn giáo: Nhờ tái sinh nhiều kiếp, con người càng có tài, có đức để giúp đời. Như vậy thuyết luân hồi có chi trái với tôn giáo ? Dân số không thể tăng: Nếu những linh hồn sang quá nhiều ở cơi trần th́ dân số tăng. Tuy nhiên, dân số chung (gồm người chết và người sống) không thay đổi. Không nhớ kiếp trước: Thường người ta nói : “Nếu có những kiếp trước, sao tôi không nhớ ǵ cả ?” Nên lưu ư rằng định luật chi phối kư ức của chúng ta là sự lảng quên quá khứ. Các việc xảy ra cách một tuần, một tháng, chúng ta không c̣n nhớ các chi tiết trừ những việc quan trọng. Trong một năm, các chi tiết ấy đều tiêu mất trong trí nhớ chúng ta. Về các năm chúng ta dưới ba, bốn tuổi, chúng ta vẫn sống nhưng không nhớ ǵ. Trong lúc xuất thần do từ điện hay thôi miên, các việc bị chôn trong quá khứ có thể hiện ra. Đại tá Rochas đă làm nổi bật bốn tiền kiếp trong kư ức của một người đàn bà xuất thần. Thế là việc xưa không mất hẳn. Trong giấc mộng, các sự kiện của các kiếp trước có thể hiện lại. Thỉnh thoảng, trẻ con có thể nhắc một vài việc xảy ra ở kiếp trước của nó, nhứt là ở Á Đông. Tánh t́nh chúng ta là kết tinh các kỷ niệm của chúng ta. Suy kỹ, chúng ta thấy sự nhớ lại rơ ràng chuyện trước là một điều trở ngại hay một tai hại. Nếu ở kiếp trước, ta ghét ai mà bây giờ ta nhớ rơ th́ sự oán ghét ấy sẽ tăng cường. Nếu chúng ta đă có một hành động lỗi lầm mà ta không thể quên từ kiếp này sang kiếp nọ, ta sẽ hối hận, buồn khổ măi mà không sao khuây khỏa được. Các thành kiến về sắc tộc, giai cấp, tôn giáo cũng sẽ mạnh mẽ hơn. Vả lại, biết quá khứ th́ có thể biết tương lai với các việc tốt hay xấu của nó. Ví như ta biết một tai nạn sẽ đến cho chúng ta, như bị thiêu sống, th́ làm sao ta có thể sống ? Để kết luận, chúng ta có thể nói hiện nay có nhiều người nhớ được quá khứ của ḿnh. Các nhà lănh tụ Thông Thiên Học có năng khiếu đó. Trong một buổi diễn thuyết của bà Annie Besant, Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học thế giới vào năm 1926 tại gian pḥng Adyar, 4 Square Rapp Paris 7e, tác giả quyển sách này nghe Bà nói : “Khi tôi nghiên cứu các tiền kiếp của hai người đó, tôi biết họ có gặp nhau v.v. . .” C/ Bằng chứng: Lẽ tất nhiên, bằng chứng hùng biện nhất là biết một cách trực tiếp các kiếp sống trước. Tuy nhiên, có nhiều việc chứng minh có luân hồi, nhứt là trường hợp trẻ con nhớ được kiếp trước của chúng nó. Về các nỗi bất công hay oan ức: Phải chăng có bất công hay oan ức ? Theo thuyết luân hồi, các điều sung sướng hay đau khổ xảy ra cho ta là kết quả của những nhân mà chúng ta đă gieo ở các kiếp trước. Ta chỉ gặt những ǵ ta đă gieo. Khi chúng ta tin ở nguyên lư này, chúng ta không c̣n phẩn uất với những điều có vẻ bất công đối với chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta chịu đựng một cách dễ dàng. Hơn nữa, ta thấy ḷng an ổn phần nào v́ đă trả được một món nợ. Ví dụ một người bị tù oan về một tội nặng mà y không có làm và được thả ra 20 năm sau nhờ sự thú tội của phạm nhân. Tại sao y phải bị tù oan như vậy ? Là v́ kiếp trước, anh có gây một án mạng và để người khác ở tù thay anh. Bây giờ anh đă trả xong quả và có thể chờ đợi những ngày tốt đẹp hơn. Về việc làm lành mắc nạn: Có những kẻ hành thiện nhưng gặp măi những điều không may. Lư do là ở các kiếp trước anh có những hành động không tốt mà bây giờ anh phải trả, trước khi hưởng các nhân lành mới tạo. Về sự bất b́nh đẳng giữa con người: Tại sao có kẻ dă man, có người thánh thiện ? Kẻ dă man là những linh hồn non nớt mới bỏ kiếp thú thành người, c̣n người thánh thiện đă trải qua cả ngàn kiếp. Khi người dă man luân hồi nhiều kiếp như vậy, anh cũng trở nên thánh thiện. Về sự toàn thiện: Đấng Ky Tô bảo: “Hăy toàn thiện”. Nhưng làm sao ta có thể toàn thiện trong một kiếp người ? Về sự di truyền: V́ cha mẹ cung cấp cho con cái xác thân cần để biểu lộ tánh t́nh của nó, con phải giống cha mẹ về phương diện trí thức và đức hạnh. Thường thường th́ sự việc xảy ra như thế, nhưng lắm khi luật nhân quả xen vào để đ̣i hỏi sự gặp gỡ giữa hai người khuynh hướng khác hẳn nhau v́ họ có những mối quan hệ ở các kiếp trước. Năng khiếu bẩm sinh, trực giác thông thường: Trước một sự kiện mới lạ, đôi khi chúng ta có cảm giác như đă biết. Trực giác đó là sự nhớ lại một sự kiện đă quen thuộc ở một kiếp trước. Những năng khiếu bẩm sinh là kết quả của những công phu luyện tập ở quá khứ. Một đứa bé say mê mỹ thuật là một thi sĩ hay nghệ sĩ ở một tiền kiếp. Một phấn khởi tâm linh chỉ rằng đứa nhỏ trước kia là một nhà tu. Bản năng mẫu tử ở đứa bé gái chỉ rằng ở quá khứ, nó đă làm mẹ. Thần đồng: Thần đồng là những người đă phát triển hoàn toàn một khả năng đặc biệt ở nhiều tiền kiếp. Tài năng này không thể truyền lại cho con cháu v́ nó là công phu luyện tập cá nhân. Hiểu mau: Trước một sự kiện hay một kinh nghiệm mới lạ, có người hiểu rất nhanh chóng. Đó là kết quả của một loạt kư ức đă được sống và đồng hóa ở các kiếp trước. Triển vọng quá cao: Có người tài th́ ít mà triển vọng th́ cao. Lư do là ở quá khứ, anh đă thực hiện những điều rất tốt đẹp rồi anh lại xao lảng ở kiếp kế đó. V́ vậy tài anh mất nhưng triển vọng vẫn c̣n. Khuynh hướng tốt và xấu: Nhiều đứa trẻ có khuynh hướng bẩm sinh về điều thiện hay điều ác. Đó là dấu vết của các khuynh hướng ở tiền kiếp. Thay đổi tánh t́nh: Trẻ con thay đổi tánh t́nh đột ngột v́ trước khi dừng ở độ tuổi thật sự của nó, nó phải sống lại một cách nhanh chóng các giai đoạn tiến hóa của nó ở tiền kiếp. Những người bán nam, bán nữ: Linh hồn thay đổi phái (nam hay nữ) và c̣n giữ lại những nét của phái cũ. Các nỗi sợ sệt không thể giải thích: Đó là các kỷ niệm mập mờ của một sự kiện kinh khủng xảy ra ở kiếp trước, như sợ nước (v́ đă chết đuối), sợ lửa (v́ đă chết thiêu) v.v... Thương và ghét đột ngột: Sự thương hay ghét đột ngột này là do hai người trước kia đă là bạn hay thù. Nhiều thảm kịch gia đ́nh, nhiều sự ngược đăi trẻ con có những cội rễ xa xôi ở tiền kiếp. Sự oán ghét này phải được diệt trừ và thay thế bằng t́nh thương. Một chỗ lạ nhưng có vẻ quen: Chỗ lạ hiện ra nhưng lại quen là v́ linh hồn đă có ở đó trong một kiếp trước. Thạnh hay suy của một quốc gia: Một quốc gia trở nên hùng cường là nhờ các linh hồn tiến cao đến đầu thai ở đó đông đảo. Nếu ở một xứ mà các điều kiện xă hội, tôn giáo, chánh trị, giáo dục suy đồi th́ cố nhiên linh hồn thấp kém đến, khiến xứ đó suy mau. Sự tái hiện các đặc tính xưa: Vài quốc gia có những đặc tánh của những nền văn minh cũ, v́ các linh hồn thuộc nền văn minh này đầu thai ở đó nhiều. Người La Mă và người Anh thích tạo thuộc địa. Người Hy Lạp cổ và người Pháp thích diễn thuyết. Đối với cá nhân, sự di truyền ấy lắm khi rất rơ. Phệ Đà hiện ở Hegel, Fichte và Kant, c̣n triết lư Phật giáo th́ thấy ở Schopenhauer v́ họ đă nghiên cứu giáo lư đó ở một kiếp trước. KẾT LUẬN: Thuyết luân hồi chấm dứt các thắc mắc của chúng ta về đời sống với các nỗi có vẻ bất công của nó. V́ lảng quên thuyết này, chúng ta tưởng Thượng Đế bất công và con người bất lực. Với thuyết luân hồi, con người trở nên cao cả, trường tồn và đang tiến đến mục tiêu vô cùng cao đẹp mà anh sẽ đạt được ở tương lai, v́ đó chỉ là vấn đề thời gian. Tin ở luật luân hồi, chúng ta giải thích được nhiều điều khó hiểu và thấy tâm trí b́nh an. (Trích tài liệu Thông Thiên Học) |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |