| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Hệ quả 2 - Tồn tại một b́nh diện vật chất phi cấu trúc. Thật vậy, do vũ trụ có vô số chiều thực tại nên suy ra sự hiện diện một b́nh diện vật chất với mức mật độ cực tiểu (hay dải tần số cực đại). Căn cứ vào nhiều ghi chép tâm linh kéo dài hàng ngàn năm đề cập đến những trải nghiệm của các đại sư, có thể xác định b́nh diện đó không chứa bất kỳ cấu trúc vật chất nào từ bé đến lớn (một “cấu trúc” ở đây được hiểu là có chứa từ hai thành phần). Nói cách khác, trong b́nh diện vật chất phi cấu trúc chỉ tồn tại những “hạt” vật chất nguyên sơ hay lớp năng lượng nguyên thuỷ của vũ trụ. Chúng ta sẽ gọi b́nh diện vật chất này là b́nh diện tâm thức hay chiều tâm thức. Tên gọi này có nguồn gốc tôn giáo. Ở đây từ “tâm thức” đơn thuần chỉ có nghĩa là vật chất phi cấu trúc. Như sau này chúng ta sẽ thấy, b́nh diện tâm thức có vai tṛ nền tảng đối với toàn bộ vũ trụ. Sự tồn tại và hiệu ứng kỳ diệu của nó đă trở thành yếu tố trung tâm của nhiều thuyết tôn giáo từ xưa đến nay. Căn cứ vào điều kiện phi cấu trúc vật chất và các ghi chép tâm linh, có thể liệt kê một loạt tính chất siêu việt sau đây của b́nh diện tâm thức: 1) Thuần khiết - b́nh diện tâm thức chỉ gồm các “hạt” nguyên sơ thuần nhất không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một b́nh diện vật chất khác; 2) Bất biến - mọi sự biến đổi (cấu trúc hoá hay phân ră) đều diễn ra bên ngoài giới hạn của b́nh diện tâm thức; 3) Vĩnh hằng - sự tồn tại của b́nh diện tâm thức không có điểm đầu và điểm cuối; 4) Phân bố khắp vũ trụ - b́nh diện tâm thức đóng vai tṛ “nền” đối với tất cả các b́nh diện vật chất khác; 5) Hoàn toàn trong suốt và trống rỗng - con người và mọi thiết bị tuyệt đối không thể nh́n thấy b́nh diện tâm thức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; 6) Tĩnh lặng tuyệt đối - vắng mặt mọi sự nhiễu loạn; 7) Phi thời gian - không có ḍng chảy thời gian v́ vắng mặt mọi quá tŕnh vật chất (thời gian là thuộc tính của các quá tŕnh vật chất diễn ra theo một trật tự nhất định); 8) Phi không gian - không có quảng tính như dài ngắn, rộng hẹp, cao thấp v́ vắng mặt mọi cấu trúc vật chất; 9) Nguồn gốc vạn vật - tất cả sự vật của vũ trụ đều được sinh ra từ đó; 10) Tạo ra “hiệu ứng tâm thức” - tác động lên mọi cấu trúc vật chất, được thể hiện qua các h́nh thái “nhận biết” từ dạng đơn giản nhất như phản ứng, cảm ứng... cho đến dạng phức tạp như ư thức, t́nh yêu, sáng tạo... Có thể coi vật chất của lớp tâm thức là “sóng tâm thức”. Các cấu trúc vật chất càng bé càng dễ tương tác với sóng tâm thức. B́nh diện tâm thức như thể một đại dương vật chất - sóng, tồn tại vĩnh hằng và có vai tṛ đặc biệt đối với mọi quá tŕnh h́nh thành và tiến hoá của vũ trụ nói chung, cũng như tạo ra sự sống từ các dạng thô sơ nhất cho đến các dạng phức tạp nhất, trong số đó có con người. Việc chỉ ra sự tồn tại của b́nh diện tâm thức là một kết luận có ư nghĩa thiết thực đối với cả tôn giáo và khoa học. Bằng những thể nghiệm tâm linh và suy ngẫm kiên tŕ, một số đại sư từ lâu đă nhận thức được sự hiện hữu “Cái đó” trong mối quan hệ vô cùng xa lạ và gần gũi, vô cùng bí ẩn và hiển nhiên, dường như rất cao xa nhưng lại gắn bó mật thiết, mọi cá nhân đều có khả năng tiềm tàng tiếp cận “nó” tại bất kỳ thời điểm nào của cuộc sống. Có điều đó là v́ vật chất tâm thức thẩm thấu vào mọi cấu trúc hữu h́nh và vô h́nh với kích thước bất kỳ. Dựa trên khái niệm về b́nh diện tâm thức, khoa học có thể mở rộng tầm nh́n đối với nhiều lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là t́m hiểu về nguồn gốc, động lực và quá tŕnh tiến hoá của vũ trụ nói chung cũng như quá tŕnh phát sinh sự sống trên Trái đất của chúng ta và tại các hành tinh khác ngoài Hệ mặt trời. Chính ư tưởng về b́nh diện tâm thức được lấy ra từ các ghi chép tâm linh liên quan đến những người đă chứng ngộ thành Phật. Nội dung cốt lơi của các giáo lư như vậy luôn luôn hướng tới một đối tượng siêu việt nhất định mà các đại sư hết sức tôn kính và bền bỉ tu luyện để hoà nhập vào đó. Rơ ràng, bức tranh đầy đủ mô tả vũ trụ chỉ có thể thu được từ việc kết hợp các ư tưởng về vũ trụ đa chiều thực tại cũng như sự hiện diện một lớp vật chất vĩnh cửu đóng vai tṛ nguồn chất liệu nguyên thuỷ và động lực sinh thành vạn vật. Chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc nếu biết rằng, trước đây gần 25 thế kỷ, nhà triết học Socrates đă có ư nghĩ về “tự tính” tựa như b́nh diện tâm thức. Phép tư duy của ông là đi t́m tự tính của mọi sự vật thông qua các hiện tượng đơn lẻ. “Hiện tượng” là cái có sinh - thành - hoại - diệt, c̣n “tự tính” là cái vĩnh hằng, đích thực, độc lập và đứng sau mọi hiện tượng. Socrates là người đầu tiên nêu rơ mối quan hệ giữa tự tính và hiện tượng. Ông cũng cho rằng, sự hiểu biết về hiện tượng chưa phải là tri thức đúng đắn, c̣n tự tính th́ khó nắm bắt, nên ông coi ḿnh “không biết ǵ cả”. Một số nhà khoa học khác cũng đă có những tư tưởng đáng chú ư. Leibniz, người theo chủ nghĩa duy linh khách quan, cũng đă đi đến cách tiếp cận gần với khái niệm về b́nh diện tâm thức. Ông đă nêu lên định đề về sự hiện hữu một cơ sở tâm linh “khách quan” khác với ư thức con người và độc lập với ư thức con người. Cơ sở tâm linh khách quan đó cũng giống như Ư niệm tuyệt đối của Hegel hay Thượng Đế của Platon. Trong trường hợp này, Thượng Đế là siêu việt đối với vũ trụ và không đồng nhất với vũ trụ. Theo Leibniz, tồn tại các “đơn tử” là những chất không thể phân chia được, thuộc về tinh thần, tạo nên toàn bộ vũ trụ. Những người theo quan điểm của cơ học lượng tử cũng đă tiếp cận rất gần với khái niệm về b́nh diện tâm thức. Họ nói đến một ngân hàng năng lượng tự nhiên vô hạn mà từ đó xuất hiện các “hạt ma” (chúng tồn tại với thời gian cực ngắn, thực tế không thể phát hiện ra). Hệ quả 3 - Tồn tại một lớp vật chất trung gian giữa hai b́nh diện vật chất liền kề. Cần nhắc lại rằng, khái niệm “lớp vật chất” ở đây có nghĩa giống như “lớp sóng” - mọi sóng cùng tồn tại trong một không gian nhưng mỗi lớp sóng được xác định bởi dải tần số của nó; tương tự, toàn bộ vật chất cùng tồn tại trong một không gian nhưng chúng được nhận biết theo mức mật độ. Sự tồn tại lớp vật chất trung gian được suy diễn như sau. V́ hai b́nh diện liền kề có vật chất khác biệt nhau về mức mật độ, nên giữa chúng phải tồn tại một lớp trung gian đóng vai tṛ phân cách. Có thể dự đoán rằng, tại lớp vật chất trung gian diễn ra những quá tŕnh biến đổi nhất định (cấu trúc hoá hay phân ră các phần tử cơ sở) có quan hệ đến hai b́nh diện liền kề tương ứng. Một số cá nhân có kinh nghiệm xuất thần đă quan sát được lớp trung gian giữa b́nh diện vật lư (NF0) và b́nh diện kề cận (NF1). Hệ quả 4 - Các b́nh diện vật chất đă được tạo thành theo trật tự mức mật độ tăng dần. Hệ quả này được suy diễn như sau. V́ b́nh diện tâm thức là phi cấu trúc và tồn tại vĩnh hằng nên nó là b́nh diện vật chất duy nhất tồn tại đầu tiên. Lớp vật chất trung gian kề cận b́nh diện tâm thức đă được tạo thành từ nguồn năng lượng nguyên thuỷ đó. Tiếp đến, mỗi b́nh diện vật chất nhất định đều được sinh ra từ lớp trung gian kề trước, bởi v́ các cấu trúc cơ sở tương ứng (tựa “nguyên tử”) phải được h́nh thành từ “chất liệu” phù hợp và có sẵn. Quá tŕnh đó diễn ra cho đến b́nh diện vật lư. Trên đây là các khía cạnh chủ yếu của “lư thuyết về vũ trụ đa chiều thực tại”. Nói một cách ngắn gọn, lư thuyết này gồm 3 điểm chính sau đây: - Toàn bộ vật chất được thể hiện theo vô số lớp, mỗi lớp được đặc trưng bởi mức mật độ hay dải tần số rung động của các “nguyên tử” tương ứng và đóng vai tṛ một chiều thực tại của vũ trụ; - B́nh diện tâm thức là nguồn năng lượng nguyên thuỷ, nó là lớp vật chất phi cấu trúc chứa các hạt nguyên sơ với nhiều tính chất siêu việt; - B́nh diện vật lư là vỏ cứng của vũ trụ, nó là lớp vật chất có mức mật độ các nguyên tử dày đặc nhất. Rơ ràng, lư thuyết về vũ trụ đa chiều thực tại trên đây không chứa đựng bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến một thực thể siêu phàm với nhân tính, năng lực và trí tuệ tuyệt đối. Điều này có ư nghĩa khách quan trong việc xem xét các hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta. |
| ||||
| Các ư tưởng về vũ trụ đa chiều thực tại Đối với các nhà khoa học thế giới, ư tưởng về vũ trụ đa chiều thực tại hay vũ trụ song song đă xuất hiện cách đây 7 thập niên. Vào năm 1935, tác giả thuyết tương đối là Einstein và trợ lư của ông là Nathan Rosen đă cho công bố một bài báo liên quan đến “lỗ đen”. Họ đề xuất rằng, thay v́ đó là kẽ hở của không - thời gian đơn giản như ban đầu người ta tưởng th́ “lỗ đen” chính là “cầu nối” một vũ trụ con này với một vũ trụ con có thể khác. Trong vật lư học hiện đại, khái niệm này được coi là “Cầu nối Einstein - Rosen”. Ư tưởng trên đây có ảnh hưởng nhất định đến các nhà khoa học khác theo hướng t́m kiếm vũ trụ con song song. Vào năm 1951, nhà vật lư Hugh Everett cho rằng nhiều thế giới hay vũ trụ con cùng tồn tại với chúng ta nhưng không thể đồng thời thâm nhập được. Theo Everett, mỗi thế giới hay mỗi chiều thực tại đều có chứa một bản khác nhau của cùng một người đang sống và thực hiện nhiều hành động khác nhau trong cùng một thời điểm. Lư thuyết này gây ra bàn căi rất nhiều, nhưng nó đưa đến một cách giải thích thực tại lượng tử. Một công tŕnh khác về “lỗ đen” cũng đă được công bố vào năm 1961 bởi Kruscal. Người này đă tŕnh bày bản đồ về “lỗ đen”, chỉ ra mối nối lẫn nhau giữa vũ trụ con vật lư và các vũ trụ con vô h́nh. Năm 1963, nhà vật lư và toán học Roy P. Kerr đă xây dựng các phương tŕnh chính xác liên quan đến sự quay của “lỗ đen”. Từ đó suy ra sự tồn tại của vô số vũ trụ con song song mà tất cả chúng đều nối trực tiếp với “lỗ đen”. Kerr giả định là tồn tại một chuỗi vô hạn mảnh chắp của vũ trụ trải rộng đồng thời về quá khứ và tương lai. William Buhlman, một người thực hành khả năng xuất thần của con người, vào năm 1996 đă viết trong cuốn Adventures beyond the body (Phiêu lưu ngoài cơ thể) rằng, vũ trụ là một sự thâm nhập đa chiều của năng lượng liên nối lẫn nhau, có thể được phân tách như không gian sóng. Ông tin rằng, mỗi đối tượng ở b́nh diện phi vật lư (vô h́nh) bao gồm một ma trận năng lượng ánh sáng thay v́ năng lượng phân tử. Buhiman đă nói đến b́nh diện phi vật lư NF1 (kề cận b́nh diện vật lư) trên cơ sở kết quả quan sát của ông trong khi xuất thần. Đây là thế giới năng lượng song song có h́nh thái gần như đồng nhất với b́nh diện vật lư. Nó không thể bị phân tách theo không gian và thời gian, nhưng có thể phân biệt được bằng tần số rung động hay mật độ năng lượng. Tại b́nh diện này hiện hữu các khuôn hay bản sao năng lượng của các đối tượng vật lư. Tuy nhiên, cùng các cấu trúc phi vật lư đó tồn tại hầu như độc lập với b́nh diện vật lư. Ví dụ, một ngọn nến đang cháy có thể bị thổi tắt ở b́nh diện NF1, nhưng vẫn sáng ở thế giới vật lư. C̣n có nhiều ư tưởng khác nói về tính đa chiều thực tại của vũ trụ hay đề cập đến những thế giới vô h́nh tồn tại song song với b́nh diện vật lư. Tuy vậy, chưa thấy tài liệu nào xem xét b́nh diện tâm thức với vai tṛ là nguồn chất liệu nguyên thuỷ của vũ trụ và là động lực sinh thành các cấu trúc vật chất muôn h́nh muôn vẻ, trong đó có các cơ thể sống nói chung và con người nói riêng. Khái niệm về khoa học tâm linh Thuật ngữ “khoa học tâm linh” cần được sử dụng để chỉ lĩnh vực nghiên cứu về lư thuyết và thực nghiệm có quan hệ đến nền tảng của sự tồn tại nói chung, kể cả các b́nh diện vật chất phi vật lư (không nh́n thấy bằng mắt thường). Thành phần quan trọng nhất của khoa học tâm linh có lẽ là thuyết vũ trụ đa chiều thực tại mà cốt lơi của nó là kết luận về sự hiện hữu b́nh diện tâm thức - lớp vật chất phi cấu trúc đóng vai tṛ chất liệu nguyên thuỷ và động lực toàn năng tạo nên mọi sự vật của vũ trụ. Các cách tiếp cận và quá tŕnh nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tâm linh sẽ có những đặc thù hoàn toàn mới so với khoa học thực nghiệm trong b́nh diện vật lư. Điểm nổi bật của khoa học tâm linh hiện nay là khi tiến hành khảo sát và thực nghiệm ở những chiều thực tại năng lượng khác nhau đ̣i hỏi phải có sự tham gia trực tiếp của con người như một cỗ máy đa chiều tinh tế và đồng thời có thể làm nhiệm vụ của người nghiên cứu. Không thể t́m hiểu được các chiều thực tại năng lượng nếu không có những thiết bị đa chiều phù hợp. Hy vọng là các phương tiện kỹ thuật như vậy có thể sẽ được sáng chế ra trong một tương lai không xa. Nhiều tư liệu khoa học và tôn giáo đă được tích luỹ từ xa xưa đến nay cho thấy rằng, việc tiếp cận và nhận diện các thế giới vô h́nh không đến nỗi quá khó khăn. Rơ ràng, các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tâm linh sẽ có ư nghĩa vô cùng lớn lao đối với đời sống tinh thần và vật chất của mỗi cá nhân nói riêng và xă hội nói chung. ST (Theo cuốn “Vũ trụ & con người dưới góc độ khoa học tâm linh”, 2006) Source: :: Ká»· nguyĂªn tĂ¢m linh :: Last edited by DjDoan; 08-23-2010 at 05:09 PM. |