| ||||||
![]() |
| | LinkBack (1) | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Nên nhớ rằng, học thuyết luân hồi đă có từ rất sớm, trước cả thời kỳ của Đức Phật. Các hệ phái triết học cổ và các tôn giáo cổ Ấn Độ, thuộc thời kỳ tiền Phật giáo, đă sử dụng đến học thuyết luân hồi. Như vậy, về căn bản th́ luân hồi không phải là học thuyết của Phật giáo. Đến thời Đức Phật, Ngài đă tận dụng lại những học thuyết cũ đă có trước đó, để giải thích lại theo quan điểm mới của Ngài. Không những chỉ có luân hồi mà ngay cả khái niệm Niết-bàn (nirvàna), cũng là một khái niệm có trước thời kỳ Phật giáo. Trong Bà-la-môn giáo, học thuyết Niết-bàn có liên quan đến thần thoại về mặt trời, mặt trăng. V́ thế, không ít nhà nghiên cứu lầm tưởng Niết-bàn của Phật giáo cũng giống như khái niệm về Niết-bàn được t́m thấy trong triết học cổ Ấn Độ. Nhưng v́ sao không sáng tạo ra học thuyết mới, mà phải vận dụng lại học thuyết cũ. Có mấy lư do sau đây: 1. Tôn giáo thuộc phạm trù văn hóa, mà khi nói tới văn hóa, không thể không nói tới tính kế thừa của các nền văn hóa trong cùng một khu vực mà nền văn hóa đó tồn tại. Ấn Độ là một khu vực văn hóa lớn, là một trong những cái nôi văn minh của nhân loại. Như vậy, sự kế thừa những học thuyết thuộc thời kỳ tiền Phật giáo của Đức Phật cũng không có ǵ lạ. 2. Sử dụng lại học thuyết luân hồi mà đối với tri thức thời đó là rất quen thuộc, nhằm không mắc phải một lỗi lư luận trong luận lư học cổ (tương tự như tam đoạn luận Aristote dùng trong triết học cổ Tây phương)[7], mà sau này Mă Minh, Long Thọ, Trần Na, triển khai thành một phương pháp luận mang tên: "Nhân minh luận" hay "Nhân minh nhập chánh lư luận". Lỗi lư luận này gọi là lỗi "thế gian tương vi".[8] 3. Lư do thứ 3 cực kỳ quan trọng: Khi các phái triết học và tôn giáo cổ thời đó đều cho rằng luân hồi là có thật. Th́ đối với Đức Phật, khi Ngài đại ngộ dưới cội bồ-đề. Ngài phát hiện ra rằng: Tất cả các pháp, trong đó có luân hồi là không thật có. tất cả đều là giả tướng. Như vậy luân hồi chỉ có giá trị trong phạm vi thế giới hiện tượng, tức đứng về mặt sự tướng mà nói. Trên phương diện lư tánh, Niết-bàn c̣n chưa có nói chi đến luân hồi.... Tuy nhiên, chúng ta hiện nay đang sống trong thế giới hiện tượng. Cái thế giới được h́nh thành từ những cặp phạm trù mâu thuẫn đối kháng, nhưng không loại trừ lẫn nhau, thuật ngữ Phật học gọi là những cặp đối đăi như: dài ngắn, sáng tối, tốt xấu, đen trắng, thiện ác v.v... Như thế cũng có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận luân hồi, và sẽ luân hồi dài dài... luân hồi cho đến khi nào ta không c̣n là ta nữa (Vô Ngă). Cũng dễ hiểu thôi! Nếu ta không c̣n là ta nữa th́ lấy cái ǵ để mà luân hồi... Đối với các nhà thần bí Kitô giáo, đỉnh cao của trạng thái tâm linh trong chiêm niệm mà họ đạt được là sự kết hợp với Ngôi vị, tức kết hợp với thiên chúa, luôn tồn tại một cái "tôi" (bản ngă). "Tôi" là chủ thể kết hợp, và "Ngôi vị" là đối tượng để kết hợp. Giả sử Phật tử có kết hợp được với một Ngôi vị nào đó, th́ anh ta vẫn phải "kết hợp trong luân hồi" do tác động của "ngă". Nhân đây, cũng nói thêm cách hiểu lệnh lạc của một số học giả Công giáo, khi họ giải thích về khái niệm "Vô Ngă" của Phật Giáo. Trong quyển Thiên Chúa giáo và Tam giáo, Linh Mục Cao Phương Kỷ cho rằng, học thuyết "Vô Ngă" của Phật giáo đồng nghĩa với "vô hồn". Ông viết: "Chữ Vô Ngă đă gây ra nhiều thắc mắc, hiểu lầm đối với các Phật tử và cả với người ngoài". Bởi vậy, ông tự cho ḿnh cái quyền "giải thích lại" khái niệm "Vô Ngă" của Phật giáo đại để như sau: "Phật Thích-ca đă dùng vỏn vẹn ba chữ để diễn tả Samsara: anicca, dukkha, anatta. Nên nhớ rằng đây không phải là thế giới Nibbana, hoặc đời sống nào khác, nhưng là một lối sống hèn hạ, đê tiện, hẩm hiu của con người gọi là Samsara, luân hồi. Tại sao con người trong trạng thái Samsara gọi là Vô Ngă (anatta)? V́ nó cũng phát sinh đau khổ!"… "Ư nghĩa của cái "ta" giả dối, cái giả ngă tức cái Vô Ngă, thuộc thế giới Samsara, vô thường, đau khổ. Ta cũng nhận định rằng cái Vô Ngă này là căn nguyên của đau khổ, v́ nó bị thất t́nh chi phối, không tự chủ được. Đó là một h́nh thức, một t́nh trạng thấp kém của kiếp sống con người, do đó cần phải giải thoát. Đây cũng là chủ đích của Phật Thích-ca khi giảng thuyết về bộ ba chữ vô thường, đau khổ, vô ngă."[9] Do hiểu sai (hay cố t́nh xuyên tạc?) học thuyết Vô Ngă của Phật giáo, Linh Mục Cao Phương Kỷ viết tiếp những ḍng sau đây: "Chủ đích của Phật Thích-ca là giúp con người giải thoát để tiến tới Niết-bàn. Muốn thế phải tiêu diệt cái ngă giả dối tức Vô Ngă."…"Quan niệm Vô Ngă thuộc bộ ba: vô thường, đau khổ, vô ngă là một lối sống đê hèn, đau khổ luân hồi, nghiệp báo, nên cần được giải thoát."[10] Vô Ngă của Phật giáo là một thể nghiệm tích cực nhằm đạt đến giải thoát, Niết-bàn. Nói cách khác, Vô Ngă đồng nghĩa với Niết-bàn, với giải thoát. Có thể nói đó chính là một sự chứng nghiệm sâu thẳm, một bước nhảy vọt để vượt qua cái ngă cố hữu luôn tŕ trệ níu kéo, để đạt đến một t́nh trạng hoàn toàn giải thoát, tức liễu sanh thoát tử. Hay nói theo thuât ngữ thần học Công giáo: Vô Ngă tức "Tối Hậu". Do không hiểu Vô Ngă là ǵ, Linh mục Cao Phương Kỷ đă đặt vấn đề như sau: "Nếu không tin một Đấng Tuyệt Đối làm Chủ Tể vạn sự vạn vật, nếu hiểu "Vô Ngă" là cái "ngă", cái "tôi" tự nó không có giá trị ǵ, v́ là một hợp chất hổn độn do những điều ngu muội, sai lầm tạo nên cái kiếp của một con người, v́ ham sống, v́ dục vọng mà con người luẩn quẩn trong ṿng sinh tử, luân hồi nghiệp chướng, kiếp này là quả báo của kiếp trước, kiếp này làm người, kiếp sau làm súc vật. Do đó, cái cá nhân, cái "ngă" đầy tham vọng ích kỷ đó là vô giá trị cần phải tiêu diệt. Hiểu như vậy thử hỏi: Nếu tất cả đều là "vô", "Vô Ngă" th́ động lực của ḷng Từ Bi đối với tha nhân phát sinh từ đâu và dựa trên nền tảng nào?." [11] Đạo đế của Tứ diệu đế mở ra một con đường rộng thênh thang, một "siêu xa lộ với 37 làn xe chạy", tức ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Bao gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đề phần, Bát chánh đạo phần. Trong đó, quán pháp Vô Ngă của Tứ niệm xứ được tŕnh bày tóm tắt như sau: Pháp, phạm trù Phật học được hiểu là tất cả những ǵ thuộc thế giới hiện tượng và bản chất, phạm vi rất rộng lớn, từ cụ thể đến trừu tượng, cả những ǵ gọi là phi hiện thực như "lông rùa, sừng thỏ" (thỏ không có sừng, rùa không có lông!) đều gọi là Pháp. Ngă, nghĩa cũng vô cùng rộng. (thường th́ người ta chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ riêng về con người, tức cái "ta", cái "tôi" nhỏ bé của ḿnh.) Vậy, ngă là ǵ? Hiểu một cách vắn tắt: Ngă là "chủ tể", là "tự tướng riêng có" của vạn pháp. Các "tự tướng riêng có" của vạn pháp xuất phát từ căn bệnh "chấp pháp" của loài hữu t́nh mà con người là một đại biểu. Tự tướng tức cái ngă riêng biệt của sự sự, vật vật. Ví dụ : Người có tự tướng của người , vật có tự tướng của vật, thế giới có tự tướng của thế giới. Suy rộng ra cho đến Niết-bàn, luân hồi, Phật, Chúa, thiên đàng, hỏa ngục, tất cả đều có tự tướng của nó. Tuy nhiên tự tướng của các pháp không thể tồn tại được nếu không có sự hổ tương đối đăi, như "dài" nương vào "ngắn" mà có, "sáng" nhờ "tối" mà thành, "Phật" từ "chúng sinh" mà ra. Ngay cả đến đối với "Chúa", nếu không có "con người" lấy ai để "mặc khải nhận biết Ngài.." Thực tế chứng minh: nếu thiếu một vế, vế c̣n lại cũng không thể tồn tại. V́ vậy, Phật giáo khẳng định "các pháp đều không có tự tướng, đều là Vô Ngă". Quán pháp Vô Ngă là một thực nghiệm tâm linh, là một kinh nghiệm thân chứng sống động của Phật giáo, chứ không phải suy luận từ một mớ lư thuyết suông. Khi pháp quán đạt đến đỉnh cao của nó, hành giả chứng ngộ được tâm Vô Ngă, thân Vô Ngă, cảnh Vô Ngă, pháp cũng Vô Ngă. Nói cách khác, Vô Ngă bao trùm khắp pháp giới. Đó là đỉnh cao của trí tuệ, là Niết-bàn, giải thoát, là liễu sanh thoát tử. Không biết Linh Mục Cao Phương Kỷ đă tham khảo sách vở nào về học thuyết "Vô Ngă là một lối sống đê hèn, đau khổ luân hồi, nghiệp báo?." Hoặc: "để tiến tới Niết-bàn, muốn thế phải tiêu diệt cái ngă giả dối tức Vô Ngă." ông c̣n cho rằng "Vô Ngă" đồng nghĩa với "vô hồn", hay ông đă tự "chế" ra học thuyết trên để “đối thoại” với Phật giáo, hoặc để giảng dạy cho các chủng sinh trong các chủng viện, nơi mà ông phụ trách giảng dạy môn triết học ở đó… Duy thức học là một khoa học chuyên nghiên cứu thế giới hiện tượng (pháp tướng) một cách tỉ mỉ theo kiểu "sợi tóc chẻ làm tư". Tôi không có tham vọng tŕnh bày Duy thức học trong khuôn khổ một bài viết, mà chỉ muốn đưa ra một số vấn đề của Duy thức học, có liên quan đến đề tài đang bàn là thuyết luân hồi, để linh mục Cao Phương Kỷ và các đồng đạo của ông tham khảo. |
| ||||
| Theo Duy thức học th́ "vạn pháp duy thức" nghĩa là tất cả các pháp (thế giới hiện tượng - pháp tướng) đều từ nơi "tâm thức" mà phát khởi. "Tâm thức" hay c̣n gọi là "bát thức tâm vương" gồm : Nhăn thức: Cái biết của mắt Nhĩ thức: Cái biết của tai Tỹ thức: Cái biết của mũi Thiệt thức: Cái biết của lưỡi Thân thức: Cái biết của thân thể Ư thức: Chỉ sự tư duy Mạt-na thức: Chỉ sự phân biệt và chấp trước của tư duy A-lại-da thức: Kho chứa chủng tử Trong đó, thức thứ tám: A-lại-da thức là thức có liên quan đến luân hồi mà chúng ta sẽ bàn sau đây. Tên gọi của thức thứ tám này cũng rất phong phú. Xin liệt kê một số tên: A-lại-da, Tâm, A-đà-na, Sở tri y, Chủng tử thức, Dị thục thức, Như lai tàng, Hàm tàng thức v.v... Sở dĩ có nhiều tên như vậy là tùy vào cái "dụng" của thức này mà gọi tên cho phù hợp (tuỳ dụng đặt tên). Ví dụ: đề tài mà chúng ta sẽ bàn là luân hồi, vậy tên phù hợp để bàn với đề tài này là A-đà-na thức. Nhưng trước khi bàn về A-đà-na thức, phải nói thêm về khái niệm "chủng tử". Chủng tử hiểu một cách vắn tắt là tất cả hành vi đạo đức do con người tác tạo bao gồm hành vi thiện, ác, và cả những hành vi không thiện, không ác. Tất cả những hành vi này đều được giữ lại trong một "kho chứa" là thức thứ tám. V́ vậy thức này c̣n gọi là hàm tàng thức. A-đà-na thức có ba công năng : • Chấp tŕ: Giữ ǵn tất cả các chủng tử tức những hành vi thiện, ác, không thiện không ác... • Chấp thọ: Chấp thân làm tự thể , sinh ra cảm giác và lănh thọ... • Chấp thủ: Giữ lấy tất cả các chủng tử.... Hai khái niệm "thức" và "trí" thực ra chỉ là một, nhưng ở vào hai vị thế khác nhau: Ở bậc giác ngộ gọi là "trí", ở người chưa giác ngộ (phàm phu) th́ gọi "thức". "Trí" gồm hai phương diện: "Căn bản trí" và "hậu đắc trí" • Căn bản trí : tức Như lư trí c̣n gọi là Vô phân biệt trí. • Hậu đắc trí : tức Như lượng trí c̣n gọi là Sai biệt trí. Riêng nói về "Hậu đắc trí" cũng gồm đủ hai phương diện : • Hiệp tha hậu đắc trí : Trí năng duyên các pháp nhiễm tịnh mà lập ra vạn pháp • Tự trụ hậu đắc trí : Bậc giác ngộ nương vào trí này duyên với cảnh giới của A-đà-na thức để thấu rơ căn thân và thế giới. "Thân"cũng gồm đủ hai thân : • Thân tự thọ dụng. • Thân tha thọ dụng. Thân tự thọ dụng duyên với Tự trụ hậu đắc trí, c̣n Thân tha thọ dụng th́ duyên với Hiệp tha hậu đắc trí. Như đă nói trên , do A-đà-na thức có công năng duy tŕ sự nối kết quá khứ vị lai, công năng chấp thọ, nối kết căn thân và thế giới, công năng chấp tŕ chủng tử của các pháp. Chính Trí tự trụ hậu đắc duyên với cảnh giới của A-đà-na thức mà biết có sự liên hệ nối kết của căn thân và thế giới. V́ vậy nương vào thức này mà biết có luân hồi. Do hành tướng năng biến của thức thứ tám rất vi tế, nên người đời khó nhận biết: Tính năng giữ ǵn chủng tử, căn thân và thế giới, giúp căn thân tạo cảm giác và sự lănh thọ, biến hiện, nối kết chúng sanh và thế giới của thức thứ tám không dễ ǵ nhận được nếu không có công năng tu tập (thiền quán). Những đạo sĩ của các tôn giáo cổ Ấn Độ cũng đă thấy được hành tướng của thức này, v́ vậy họ khẳng định thức này là "thực có". Đức Phật cũng đă thấy được hành tướng năng biến của thức thứ tám. Nhưng trong thiền quán sâu xa dưới cội bồ-đề, với trí tuệ siêu việt, Ngài đă phát hiện ra một điều hết sức lư thú. Đó chính là tính "không thực" của chúng. Điều này giải thích tại sao luân hồi của Phật giáo khác với luân hồi của các tôn giáo cổ ở Ấn Độ. Vậy, học thuyết luân hồi do kinh nghiệm thân chứng của các Bậc giác ngộ mà thấy có, chứ không phải do suy đoán. Tuy nhiên, như đă từng nói, cái "có" ở đây chỉ là "giả có" chứ không "thực có". Dù "giả có", nhưng nó vẫn tác động trực tiếp đến chúng ta v́ hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới được gọi là "thế giới hiện tượng", tức thế giới của sự "sai biệt và phân biệt", thế giới của "thức". Muốn bước ra khỏi luân hồi, chúng ta chỉ cần bước ra khỏi "thế giới hiện tượng sai biệt và phân biệt" để ḥa nhập vào thế giới của "Trí". Nhưng đừng quên rằng "Trí" cũng chỉ là công năng chuyển hóa từ "Thức" (chuyển bát thức thành tứ trí).[12] Đây là một nhận thức luận mang tính khoa học cao, Tín đồ Công giáo chắc chắn không uổng công khi tham cứu, nếu không sợ ảnh hưởng đến “đức tin Công giáo”. |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |
LinkBacks (?)
LinkBack to this Thread: http://www.psy-che.net/forum/f7/m-t-cu-c-i-tho-i-gi-tam-va-linh-h-n-851/ | |||
| Posted By | For | Type | Date |
| Psyche | This thread | Refback | 03-28-2010 11:41 AM |