| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Các căn c̣n lại cũng thế. Đây là lối giải thích dựa theo tư tưởng Phật giáo Đại thừa, tuy nhiên trong kinh ACELA-SUTTA thuộc Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya) của Phật giáo Nguyên thủy nói về câu chuyện giữa đức Phật và vị tu khổ hạnh Kassapa theo đường lối lơa thể th́ đức Phật dạy rằng: “…các hiện tượng tâm thần và các hiện tượng vật chất tạo điều kiện làm phát sinh ra sáu khả năng (tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư). Sáu khả năng tạo điều kiện làm phát sinh ra sự tiếp xúc (tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần); sự tiếp xúc (căn tiếp xúc với trần) tạo điều kiện làm phát sinh ra giác cảm (tức là thọ uẩn);giác cảm tạo điều kiện làm phát sinh ra dục vọng (tức là ham muốn, thèm khát.. là tưởng uẩn); dục vọng tạo điều kiện làm phát sinh ra sự bám víu; sự bám víu tạo điều kiện làm phát sinh ra quá tŕnh của sự h́nh thành(hành uẩn),quá tŕnh của sự h́nh thành tạo điều kiện làm phát sinh ra sự sinh; sự sinh tạo điều kiện làm phát sinh ra sự hủy hoại, cái chết, ta thán, khổ nhọc, đớn đau, buồn phiền và tuyệt vọng (tạo nghiệp). Đấy là cách làm phát sinh ra cả khối khổ đau ấy.” Thế th́ Phật giáo Đại thừa và Nguyên thủy tuy danh tự có khác nhau, nhưng tựu trung vẫn giải thích sự liên quan giữa sáu căn và ngũ uẩn để tạo ra tội nghiệp mà phải chịu cảnh khổ th́ hoàn toàn giống nhau, không sai khác. Nói chung dựa theo Phật giáo, con người có bốn cái tâm. Sắc thân th́ chưa có cái biết, chưa có sự phân biệt nên không phải là tâm. Nhưng thân cũng có hai phần là sắc thân tứ đại và tịnh sắc căn tức là các giây thần kinh. Khi con người chết th́ tim ngừng đập, sắc thân tứ đại chết ngay, nhưng tịnh sắc căn chưa chết. Dựa theo Duy thức th́ cần đến 8 tiếng đồng hồ th́ tất cả các giây thần kinh mới ngưng hoạt động. V́ thế một người chết đừng di dộng thi thể cho đến 8 tiếng đồng hồ sau để thần thức thoát ra được yên ổn. 1) Tâm thứ nhất là cảm giác, là cái biết chưa có sự phân biệt. Đó là nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức. Cái biết này chính là cái biết của trực giác cho ta những cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu, không khó chịu. Tâm này c̣n gọi là tiền ngũ thức nghĩa là thấy sao biết vậy tức là trực tâm. 2) Tâm thứ hai là tư tưởng tức là ư thức. Nó mượn sự hoạt động của bộ óc để phát hiện tức là phân biệt tốt xấu, phải quấy, thịnh suy, vinh nhục, ngon dở, thân sơ…Tâm này là quan trọng và nguy hiểm nhất v́ nó sai sử con người vào chỗ đọa lạc. V́ thế nếu người tu diệt được ư thức là thoát ly sinh tử tức là được liễu sanh thoát tử ngay. 3) Tâm thứ ba là thức thứ bảy tức là Mạt na thức có công năng tính toán, đắn đo. Ư thức tức là tư tưởng đề nghị th́ Mạt na thức tính toán đắn đo rồi lựa chọn những ǵ có lợi cho Ta và cái của Ta nằm trong A lại da thức và sau cùng quyết định sai năm thức đầu (nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức) hành động và dĩ nhiên tác tạo ra nghiệp. Tuy thức thứ bảy có tính toán quyết định ǵ chăng nữa th́ cũng do thức thứ sáu là ư thức thúc đẩy, xúi giục cho nên ư thức mới là thức nguy hiểm nhất. Thức thứ bảy này là thức ngu si nhất và thức thứ sáu là thức khôn ngoan nhất và cũng là tội lỗi nhất trong bát thức tâm vương. Tâm này thường được gọi là tâm nghiệp, tâm đồng lơa dẫn dắt chúng sinh vào biển sinh tử luân hồi. 4) Tâm sau cùng là thức thứ tám là kho chứa tất cả kinh nghiệm, kiến thức, kư ức, kỷ niệm và tất cả những chủng tử thiện, ác, tốt, xấu và vô kư. Bây giờ hăy tưởng tượng A lại da thức là cái kho ví như ông vua làm chủ cả giang san, vàng bạc, gấm vóc, lụa là, binh khí… Mạt na thức ví như ông đại tướng là người đánh nam dẹp bắc tức là tạo nghiệp, nhưng chính Mạt na thức lại biết rất rơ ràng những ǵ nhà vua cất giữ trong cái kho. Nhưng muốn đánh đấm hay phân phát cơm gạo cho ai th́ phải có sự xúi giục, hướng dẫn, chỉ bảo của ông quân sư tức là ư thức. Ông quân sư bày vẽ theo hướng nào th́ ông đại tướng thực hành theo hướng đó nghĩa là vào kho lương lấy tiền gạo ra phân phát cho quân lính. Sự phân phát th́ do tiền ngũ thức thực hiện. V́ Mạt na thức lúc nào cũng tính toán và làm việc ǵ cũng nghĩ đến lợi cho A lai da thức nghĩa là lợi cho Ta và cái của Ta nên bị ư thức đánh lừa khiến con người sa vào hầm tăm tối, tạo tội nghiệp để phải chịu quả khổ đời đời. Ngày nay những chiếc máy vi tính chạy rất nhanh (high speed), chứa biết bao dữ kiện (documents) nhưng thật ra sự hoạt động của nó giống y như là sự hoạt động của bộ óc con người. Bộ óc của máy vi tính là CPU (Central Processing Unit) (đơn vị trung tâm xử lư) sản xuất bởi Intel (hoặc ADM: Advanced Micro Devices). Intel lần đầu tiên giới thiệu con chip Intel 4004 năm 1971 chứa khoảng 2250 transitors và có 16 chân. Đến năm 2006 Intel giới thiệu con chip Intel Northwood P4 có sức chứa 55 triệu transitors và có 478 chân. Mới nhất hiện nay năm 2011, Intel giới thiệu con chip Sandy Bridge-E có trên hai tỷ (over two billion) transitors. Trong những thập niên tới, chúng ta sẽ không lạ ǵ khi thấy xuất hiện nhiều con chip rất nhỏ và chạy rất nhanh làm thay đổi cách sống của nhân loại trên thế gian này. Càng nhiều transitor th́ máy vi tính càng giải quyết nhiều công năng phức tạp trong thời gian ngắn nhất. Ngày nay để tăng vận tốc và công năng xử lư, Intel gép những CPU lại với nhau nên có những danh từ như Dual-core Processor tức là có hai CPU ghép chung lại. A Quad-core Processor chứa 4 cái CPU và xa hơn nữa họ có thểghép 6 cái CPU (a hexa-core processor) hoặc 8… Cái bộ óc CPU này có hai nhiệm vụ là: 1)Tính toán những phép như nhơn, chia, trừ, cộng đơn giản cho đến giải quyết những phương tŕnh toán học rấtphức tạp… gọi là ALU (Arithmetic logic unit). 2)Chức năng thứ hai là CU (Control unit)(đơn vị điều khiển) có nhiệm vụ xử lư nghĩa là thông dịch các đ̣i hỏi của chương tŕnh và sau đó hoạt động xử lư nó. Tốc độ xử lư nhanh hay chậm tùy theo con chip mạnh hay yếu. Đơn vị điều khiển (CU) sẽ ra lịnh cho mỗi CPU hay vài CPU xử lư một chương tŕnh, một bài toán…rồi sau đó chuyển kết quả về mản ảnh. Phần này tùy thuộc vào người viết chương tŕnh (program) để điều khiển nó (Programer thuộc về Computer Sciense). Ngoài bộ óc, máy vi tính phải có phần nhớ để dự trữ và so sánh dữ kiện. Phần nhớ cứng (hard disk drive) dung chưa tất cả những dữ kiện mà không bị mất. Ngày nay phần nhớ này rất lớn có thể dung chứa từ Megabytes (MB) tức là một triệu bytes, đến Gigabytes (GB) là một tỷ bytes cho đến Terabytes (TB) là một ngàn tỷ bytes. Danh từbyte là chỉ cho units of digital information cho nên chữ bit hay byte là cho tính nhơn với lũy thức 2. Phần nhớ mềm (RAM) có thể chứa GB nghĩa là nó có dung lượng của 1 073 741 823 bytes tương đương với 230 (hai lũy thừa 30).Để dễ hiểu RAM (phần nhớ mềm) là phần nhớ tạm thời mà bộ óc (CPU) sử dụng trước v́ dễ tiếp xúc, nhưng sau đó tất cả dữ kiện được chuyển sang phần nhớ cứng (Hard drive) để lưu giữ vĩnh viễn. V́ thế khi máy vi tính bị hư (có virus) th́ bộ óc (CPU) bị hư, nhưng phần nhớ cứng vẫn tồn tại nên tất cả dữ kiện dung chứa trong đó không bao giờ mất được. Tuy nói dài ḍng nhưng trên thực tế th́ CPU tác động như bộ óc của con người. ALU tính toán, tư lương tức là Mạt na thức. CU tác dụng như là ư thức dùng để phân biệt, sai sử bộ óc chạy tới chạy lui. Phần nhớ cứng (hard disk drive) là A lại da thức là cái kho mà Mạt na thức chạy ra chạy vô để so sánh (dùng catche). Sau cùng CU tức là ư thức liền chuyển ư thức, tử tưởng để sai khiến thân và khẩu thực hiện. Do đó khi con người chết th́ bộ óc (CPU) bị hư,thân tứ đại tan ră, nhưng thần thức (hard drive) tức là thức uẩn (A lại da thức) vẫn c̣n nguyên trong không gian và chuyển sang một thân xác mới gọi là tái sinh. Nhưng khi có máy vi tính mới th́ tất cả những dữkiện từ phần nhớ cứng (hard drive)của máy vi tính củ có thể chuyển sang phần nhớ của máy vi tính mới chớ không bị mất bất cứ một dữ kiện nào. Con người cũng thế, khi chết th́ tất cả những chủng tử thiện ác tốt xấu từ trong A lại da thức sẽ kết tập với những nhân duyên mới để định đoạt con người mới của chúng ta nghĩa là chúng ta sẽ thọ sanh vào gia đ́nh nào, làm con cái của ai và thọ lănh phước đức lành dữ, tốt xấu như thế nào. Khoa học ngày nay giải thích rằng bộ óc là chỗ chứa tất cả sự hiểu biết, nhưng Duy thức phủ nhận lư luận này. Thật vậy nếu sự hiểu biết của con người là do bộ óc vậy khi con người chết đi bộ óc bị hủy diệt th́ sự hiểu biết đó cũng phải tan biến theo, nhưng trên thực tế tuy con người có chết, bộ óc bị hủy diệt nhưng tất cả những chủng tử chứa trong A lại da thức trở về không gian và chuyển sang thân xác mới chớ đâu có mất. Đây là chỗ khác biệt giữa khoa học và đạo Phật. Thế th́ đạo Phật thật sự có một nhận thức chính xác hơn khoa học đấy chứ. Thí dụ trong bộ óc của những nhà bác học có rất nhiều ngăn xếp rất vi tế nhiều hơn người thường mà khoa học cho rằng đây là những cơ năng phát xuất ra tư tưởng dị thường. Duy thức cũng phủ nhận luôn điều này v́ tư tưởng là nhớ lại mà muốn nhớ lại th́ phải quay về cái kho chứa tức là thức uẩn (A lại da thức) để t́m lại kư ức, kỷ niệm, kinh nghiệm rồi từ đó mới t́m ra những phát minh mới. Bộ óc của các nhà bác học có nhiều ngăn mé rất vi tế nên hoạt động rất nhạy bén cũng ví như những máy vi tính có công năng chạy rất nhanh (high speed) tức là con chip CPU rất tốtso với con chip thường nên giải quyết vấn đề (process) nhanh chóng, phức tạp và hoàn hảo hơn. Nhờ đó họ t́m ra những phát minh mới cho nhân loại, nhưng bộ óc không thể tự nó phát minh được mà bộ óc phải quay về cái kho (thức uẩn) để so sánh rồi từ đó mới t́m ra những điều mới lạ.Thuyết “Duyên Khởi” của đạo Phật chứng minh rằng bất cứ hiện tượng tinh thần hay vật chất nào trên thế gian đều do nhân duyên ḥa hợp mà thành. V́ thế quay về với A lại da thức là nhân và từ đó phát triển, t́m ṭi thêm là duyên để tạo thành những phát minh mới tức là kết quả. Bằng chứng là các nhà bác học như Albert Einstein, Niels Bohr, Mary Curry, Galileo Galilei…đă dày công nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm để chứng minh những phương tŕnh, những khám phá mà họ đă phát minh. Do đó tuy là những phát minh mới lạ, nhưng nó vẫn dựa vào những định luật hóa học, vật lư hay toán học vốn đă có sẵn chớ không phải tự trên trời rơi xuống tức là phải vào thức uẩn để so sánh rồi sau đó tưởng uẩn mới phát triển thêm và sau cùng đưa đến kết quả tức là hành uẩn. Gầnđây Paul Allen có viết cuốn sách “Idea Man: a memoir by the co-founder of Microsoft” diễn tả lại những tiến tŕnh từ lúc ông và Bill Gates có những ư niệm rất thô thiển và quyết định viết ra những “program” để chạy cho máy vi tính. V́ thế window – 7 mà chúng ta có ngày nay là một tiến tŕnh rất dài từ lúc ban đầu chớ không thể đùng một cái có nó ngay được.. Họ dùng những dữ kiện và kỷ thuậtđă có và từ đó phát triển thêm. Cũng như điện thoại di động có iPhone 4 rồi sang iPhone 4S và năm tới sẽ có iPhone 5 rất mỏng, chạy rất nhanh và có nhiều kỷthuật mới lạ. Thế th́ Steve Jobs cũng phải quay về thức uẩn là cái có trước rồi sau đó mới phát minh những cái mới lạ được tức là tưởng uẩn rồi sau đó chuyển sang hành uẩn tức là thực hành.Ngày xưa chỉ có TV trắng đen rồi sang TV màu và trải qua mấy chục năm TV bây giờ rất mỏng, rất rơ, ngay cả 3D khiến chúng ta nh́n vào TV mà y như nh́n cảnh thật ngoài đời. Thí dụ một người bị bệnh Alzheimer’s disease nghĩa là một bộ phận nào đó trong bộ óc bị hư hỏng nên cho dù họ có cố gắng để nhớ lại (tưởng uẩn) nhưng không thể nào t́m được những ǵ trong quá khứ bởi v́ tư tưởng (ư muốn của họ) tức là tưởng uẩn bây giờ không c̣n tác động với phần đó của bộ óc nên những luồng tư tưởng không vào được thức uẩn (A lại da thức)để so sánh mặc dù thức uẩn vẫn c̣n nguyên vẹn không hề bịhư hoại. V́ thế muốn tư tưởng có thể hoạt động được mỹ măn tốt đẹp như ư muốn th́ bộ óc phải tốt đểnghiệp (thức thứ bảy) chuyển những luồng tư tưởng vào trong thức uẩn và từ đó mới có sự phân biệt. Tuy nhiên những bộ phận khác trong bộ óc vẫn c̣n tốt và hoạt động b́nh thường cho nên tư tưởng có thể ra vào thức uẩn giúp cho họ nhớ lại được. V́ thế một người có thể quên hết những chuyện hiện tại vừa mới xảy ra v́ phần đó trong bộ óc bị hư, nhưng họ có thể nhớ lại rất rơ những ǵ xảy ra trong quá khứ v́ phần nảo bộ đó không bị hư hoại. Do đó sự h́nh thành của tưởng uẩn để tạo ra sự phân biệt là do sự hoạt động giữa tư tưởng và thức uẩn. Ngày nay số người bị bệnh lăng trí (Alzheimer’s disease) tại Hoa Kỳ càng ngày càng gia tăng v́ thế người học Phật phải có một cái nh́n thực tế để cảm thông, an ủi và giúp đở họ ngỏ hầu hàn gắn những niềm đau mà người đó sẽ đi qua và những nỗi khổ mà thân nhân của họ phải gánh chịu. Nên nhớ đây không phải là bệnh do ma quỷ hay trời hành Phật đọa ǵ hết mà bộ óc là một thành phần của thân tứ đại nên phải chịu sự thoái hóa của luật vô thường giống như những phần khác của thân thể thế thôi. Last edited by PhieuDu; 02-03-2012 at 02:39 PM. |
| ||||
|
Tóm lại, muốn dễ hiểu chúng ta có thể quán chiếu sự biến hành của ngũ uẩn như là cuộc Tây Du Kư của thầy tṛ ngài Huyền Trang. Sắc uẩn là con ngựa ngài Huyền Trang cởi cũng như thân xác của chúng ta. Thọ uẩn là Trư Bát giới là người thích cảm thọ mọi thú vui trên thế gian. Tưởng uẩn là Tề thiên đại thánh, là người phân biệt đủ mọi thứ tốtxấu, thánh phàm cho đến người hay quỷ, lợi hại, nhục vinh, tốt xấu, bày vẽ ra đủ điều…Tưởng uẩn có thể hiểu là nơi phát xuất ra mọi ư niệm dựa theo sự phân biệt đối đăi nhị nguyên để sai khiến hành uẩn thực hiện những tư tưởng đó v́ thế có thể nói tưởng uẩn như là vị quân sư của một triều đại. Như vậy chính tưởng uẩn là nguồn gốc tạo ra sinh tử luân hồi. Đă là con người th́ ai cũng có cảm giác vui buồn, ngay cả đức Phật cũng có cảm giác đấy chứ. Nhưng sự khác nhau là đức Phật không dính mắc vào tư tưởng nên Ngài không có tâm phân biệt làm sao giữ cái cảm giác vui này cho nó được dài lâu để hưởng thụ. Ngược lại phàm nhân th́ chạy theo ư thức phân biệt để kéo dài cảm thọlàm cho tâm tham nổi sóng ba đào. Thậm chí c̣n t́m cách giữ cảm giác đó cho dài thêm cho nên ḷng tham cũng tăng theo. Mà giữ không được th́ tâm sân phát khởi làm cho cuộc đời điên đảo. Đối với đức Phật th́ Ngài cũng có tư tưởng đó chứ, nhưng Ngài không bao giờ dính mắc vào tư tưởng. Ngài vẫn có cảm giác nhưng không dính mắc vào cảm giác nên Ngài mới có Vô thượng Niết bàn, tâm hằng tự tại. Trong khi đó chúng sinh có cảm giác rồi lại say mê ch́m vào trong cảm giác lạc thọ hay khổ thọ để phải chịu khổ. Chưa có cảm giác lạc thọ th́ mong có nên mới khổmà có rồi th́ muốn có thêm nên khổ nhiều hơn. Có mà sợmất th́ càng khổ, sợ mất mà nó vẫn mất th́ quá khổ. Tóm lại cảm giác lạc thọ hay khổ thọ đều cùng chung nỗi khổ như nhau. Tuy nhiên, chúng là những cảm giác tự nhiên v́ hễ có thân là có nó, nhưng nếu con người dính mắc vào những cảm giác đó th́ trở thành thèm khát chẳng khác chiloài ngạ quỷ.C̣n t́m cách phê phán những cảm giác này chính là tư tưởng nghĩa là phân biệt cảm giác này hay chê bai cảm giác nọ tức là chức năng của tưởng uẩn. Mànơi cung cấp chất liệu để hành uẩn thực hiện sự được so sánh là thức uẩn. Do đó thức uẩn là quan trọng nhất bởi v́ nếu không có nó th́ tưởng uẩn không thể nào thực hiện sự phân biệt được. Thế th́ khi con người chết th́ sắc uẩn ngưng hoạt động. Sau đó thần kinh đứt nên cảm giác bị gián đoạn tức là thọ uẩn cũng mất. Bộ óc chết th́ tưtưởng bám víu vào bộ óc cũng chết theo nên tưởng uẩn cũng biến mất. Tưởng uẩn không c̣n nên không c̣n nghiệp để sai khiến hành uẩn v́ thế hành uẩn cũng tan theo. Duy chỉ có thức uẩn là vô h́nh và không tùy thuộc bộ óc nên tuy thân chết nhưng nó vẫn tồn tại. Nói cách khác sắc uẩn, thọ uẩn và tưởng uẩn là “cái của Ta” đă bị diệt cho nên thức uẩn bao gồm kiến thức, kưức, kỷ niệm, kinh nghiệm và biết bao chủng tử thiện ác khác tức là “cái Ta” duy nhất c̣n tồn tại. A lại da thức c̣n được gọi là Như Lai Tạng là cái kho để chứa tất cả những chủng tử (hạt giống) của vạn pháp và cũng là cái bọc chứa để giấu kín, che phủ phiền năo mê lầm, che phủ Phật tánh.Và A lại da thức cũng là cái mầm giác ngộ vốn có sẵn trong tất cả mọi chúng sinh. Tạng là chất chứa cho nên Như Lai Tạng là chất chứa mọi công đức quyền năng của Như Lai.Đứng về mặt ô nhiễm, Như Lai Tạng là tượng trưng cho thế giới luân hồi sinh diệt. C̣n dựa theo phía thanh tịnh, Như Lai Tạng là biểu hiện cho Niết bàn giải thoát. Cứu cánh của giáo lư Phật Đà là đức Phật dạy chúng sinh diệt khổ để có an lạc, hạnh phúc ngay trong cái thế giới có sinh có diệt này chớ đức Phật không bao giờ dạy con người trốn khổ nghĩa là cầu nguyện chạy sang một thế giới nào đó để có an lạc mà tự ḿnh không lo hóa giải hết những thứô trược đó ở thế giới Ta Bà. Thế th́ ngay trên cái khổ đó mà con người làm chủ được nó th́ gọi là diệt khổ. Nếu chúng sinh không có khả năng diệt khổth́ cái khổ sẽ theo họ như bóng theo h́nh cho nên bất cứ họ ở đâu cho dù là cơi cực lạc th́ họ vẫn phải sống trong cảnh khổ như thường. V́ vậy khi tâm thanh tịnh, không c̣n phiền năo quấy phá th́ nơi ấy chính là cơi Phật thanh tịnh rồi. Nguyên nhân gây ra tất cả những nỗi khổ đau của cuộc sống là đều do ư thức tức là tư tưởng mà ra. V́ thế đức Phật dạy chúng sinh chuyển tất cả tư tưởng (ư thức) thành ra trí tuệ th́ chấm dứt khổ đau và dĩ nhiên Niết bàn an lạc hiển hiện. Thí dụ có đứa con chửi cha mẹ của ḿnh làm cho cha mẹ quá đau khổ, tâm muốn phát điên. Nhưng tại sao lại phải phát tâm sân? Bởi v́ tư tưởng gieo vào trong tâm thức để phân biệt nó là con của ḿnh, ḿnh sanh đẻ và nuôi nó lớn khôn thế mà hôm nay nó dám chửi ḿnh.V́ thếnhững tư tưởng xấu đó làm cho ḿnh sân, chớ không phải đứa con chửi làm ḿnh sân. Bây giờ cũng câu chửi đó nhưng đối với bậc thánh th́ họ vẫn thản nhiên tựtại. Tại sao? Bậc thánh nhân không sân bởi v́ họ không có ḍng suy tư như phàm nhân. Phàm nhân th́ suy nghĩ phân biệt nó là con ḿnh mà nó chửi ḿnh quá nặng th́ chính cái suy nghĩ này làm ḿnh khổ, ḿnh sân trong khi đó bậc thánh họcũng nghe mà không suy nghĩ nên tâm phẳng lờ th́ sân t́m đâu ra. V́ thế tất cảmọi phiền năo đau khổ trên thế gian này đều phát nguồn từ ư thức, tư tưởng mà ra. Nhưng làm sao chấm dứt tư tưởng? Đúc Phật dạy hành giả áp dụng hai lối tu: 1) Một là tu Chỉ (định)(Xa-ma-tha) nghĩa là dùng thiền định ly sanh hỷ lạc địa và định sanh hỷ lạc địa hay niệm Phật mà áp chế nó. Tuy nhiên tư tưởng chỉ bị ép chế chứ không bị tiêu diệt cũng như đá đè th́ cỏ mọc không được đến khi dời đá đi chỗ khác th́ cỏ mọc lên tức th́ mà đôi khi c̣n tốt hơn lúc trước nữa. Tu Chỉ là mục đích làm dừng lại mọi vọng tưởng trong tâm để tâm được yên tịnh (tạm thời). Hành giả nhờ ly mà có được sự an lạc do đó sơ thiền là phương pháp rất thực dụng cho tất cảmọi chúng sinh nếu muốn đạt được sự an lạc. Vậy ly cái ǵ? Chữ ly ở đây là chữ gọi tắc của chữ viễn ly. Sống trong thế gian th́ bất cứ ai cũng đam mê về bản ngă (chấp ngă) và ngă sỡ hữu (chấp pháp). Ngoại trừ những người học đạo, hành đạo và chứng đạo th́ mới có thể kiềm chế cường độ đam mê đó c̣n phàm nhân th́ chạy theo những thứ đam mê này là chuyện thường chẳng có ǵ đặc biệt. Bản ngă và ngă sở hữu là cội gốc của vô minh và từ đó nó phát sinh đâm chồi nẫy nhánh tạo thành ba thứ vô ḿnh căn bản tham-sân-si.Và từ cái tam độc này nẫy sinh ra thamđắm về tài, sắc, danh, thực, thùy c̣n được gọi là đam mê theo ngũ dục lạc. Ngày nào con người c̣n lặn hụp trong tài sắc danh lợi an ngon ngủ kỷ này th́ cuộc đời không bao giờ có được an vui, tự tại. Đến đây có người thắc mắc rằng có tiền nhiều, danh vọng lớn, ăn ngon, mặc đẹp th́ nếu đây không phải là hạnh phúc, là những cứu cánh của cuộc đời th́ c̣n là ǵ? Thật vậy, Phật giáo không phủ nhận những hạnh phúc giả tạm nầy, nhưng nếu quán chiếu lại th́ sẽ thấy rằng tất cả những hạnh phúc ở trên đều phải có điều kiện. Mà hễ bất cứ cái ǵ trên thế gian mà cóđiều kiện th́ cái đó bị ràng buộc. Hạnh phúc nhỏ th́ ràng buộc ít c̣n hạnh phúc càng nhiều th́ chắc chắn sự ràng buộc càng to lớn hơn. Nói cách khác hễ có ràng buộc dầu ít hay nhiều th́ vẫn là cội nguồn cho những nỗi khổ sau này tức là trong cái hạnh phúc đó đă ngầm chứa mầm mống khổ đau rồi. Thí dụ ngày tân gia chắc chắn phải là ngay vui, hạnh phúc cho gia đ́nh, nhưng chỉ vài tháng sau nào là tiền nhà, tiền thuế, tiền bảo hiểm và biết bao thứ tiền khác dính liền với căn nhà mới này th́ lúc đó có c̣n vui vẻ như mấy tháng trước chăng? V́ thế, con người càng chạy theo ngũ dục lạc, càng đam mê tài sắc danh lợi ăn ngon ngủ kỷ th́ dễ sống trong vô minh bất giác, mê mờ chân tánh và sẽ không bao giờ có được giây phút an lạc trong tâm hồn. Do đó bây giờ hành giả tu theo sơ thiền sẽ làm cho tâm dần dần biết viễn ly, xa ĺa những ngă và ngă sở khiến cho những căn bản phiền năo tham sân si cũng dần dần tan biến. Càng viễn ly th́ cường độ tham sân si càng giảm khiến cho thân tâm nhẹ nhàng thanh thoát khinh an tự tại. Sauđó hành giả bắt đầu tu định nghĩa là định sinh hỷ lạc địa. Hành giả sau khi vượt qua viễn ly tức là đến đây th́ họ đă bỏ hết tất cả những ngoại duyên, nên họ có thể chú tâm để quán về một đối tượng sở quán nào đó. Thí dụhành giả bây giờ xoay về quán vô thường để thấy biết rằng thân là vô thường, cảnh cũng vô thường và tất cả vật thể hữu vi đều là vô thường. Từ quán vô thường rốt ráo đó đưa hành giả trở về viễn ly, xa ĺa không dính mắc tức là trở về lại với sơ thiền. Đến đây hành giả thấy thấu suốt được chân lư vô thường, khổ, vô ngă, bất tịnh của thế gian. Nói cách hành giả dùng những đối tượng vô thường, khổ,vô ngă, bất tịnh để quán và sau cùng thấy biết được bằng chính tri kiến của ḿnh do sức công phu thiền định, quán chiếu th́ thời điểm này hành giả chứng nhập những chân lư đó mà không phải cần qua sách vở nữa. Do đó nhị thiền là do sức công phu tu tập định tâm mà sinh ra hỷ lạc. 2) Tu Quán (Tam-ma-bát-đề) tức là tu trí tuệ.Khi tâm đă định th́ giai đoạn kế tiếp là tu Quán nghĩa là tiếp tục thiềnđịnh đến khi nhận chân được chân lư tức là trí tuệ phát sinh. Chỉ có trí tuệ mới có sức mạnh và công năng tiêu diệt ư thức, vọng tưởng. Đến đây th́ những vi tếtham sân si mới thật sự bị hủy diệt, tâm hằng tự tại thanh tịnh Niết bàn. Thí dụ tiền làm tâm ô nhiễm nên người tu Phật chạy trốn không dám đụng tới nó. Nhưng tại sao lại phải chạy trốn? Bởi v́ cái nhân của tham tiền, tham sắc, tham danh lợi th́ lúc nào cũngnúp ở trong tâm của con người chỉ đợi có cơ hội, có đủ duyên là chúng hợp lại đưa con người vào ṿng sa đọa của tam ác đạo. Lục Tổ dạy rằng: “Tịch tịch bất kiến văn” nghĩa là không c̣n chấp nơi thấy, nghe, hay, biết th́ có thanh tịnh nhẹ nhàng tức là thấy th́ thấy tất cả mà như không thấy ǵ hết. Nghe, ngửi, nếm, xúc, biết cũng thế. Nói thế th́ người chứng đạo cũng biết vui, biết đẹp, biết xấu, biết dở, biết tất cả đấy chứ, nhưng họ không đưa cái biết ấy vào tâm (vô trước là không chấp)để rồi sanh ra tham luyến cho nên đối với họ cái ǵ cũng biết nhưng xem như không biết ǵ hết. Đức Phật giới thiệu giáo lư “Như Thị” để người tu Phật có một cái nh́n, một nhận định chính xác về tánh “Như Thị” tức là “NhưVậy” của vạn pháp. Thập Như Thị là tinh hoa, là giáo lư rất thâm sâu của kinh Pháp Hoa bởi v́ chỉ có Phật với Phật mới có khả năng thấy biết cùng tận thật tướng của các pháp. Đó là các pháp đều có như thị tướng, như thị tánh, như thị thể,như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thịbáo, như thị bản mạt cứu cánh đẳng nghĩa là thật tướng của tất cả các pháp có đầyđủ 10 như thị. Thí dụ Như thị tướng (Tướng như vậy) nghĩa là h́nh tướng của vạn pháp như thế nào chúng ta chỉ nên thấy biết như thế ấy, đừng thêm, đừng bớt, đừng cộng ngă kiến vào th́ chúng ta nh́n đúng “Như Thị Tướng”. Do đó khi nh́n đóa hoa th́ biết là đóa hoa, đừng cho là hoa đẹp, hoa xấu, hoa tươi hay hoa héo… Con người v́ không nh́n vạn pháp bằng “Như Thị” mà nh́n đời bằng những phạm trù đối đăi phân biệt cho nên mới sinh ra phải quấy, thương ghét, tốt xấu, thân sơ, vui mừng, buồn giận…Nếu nh́n vạn pháp bằng tánh “Như Thị” th́ đó là lối nh́n theo Tri Kiến Vô Kiến. Ngược lại nếu con người dựa theo thiển kiến chủ quan của ḿnh mà nh́n vạn pháp th́ chắc chắn họ sẽ đánh mất tánh “Như Thị” cho nên lối nh́n này chính là Tri Kiến Lập Tri có thể đưa con người đến những nhận định không chính xác, sai lầm, thiếu hoàn hảo. V́ thế kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy rằng: Tri kiến lập tri tức vô minh bổn,Tri kiến vô kiến tư tức Niết bàn. Nghĩa là nếu con người lấy sự thấy biết nếm ngửi bên ngoài đem vào tâm làm tâm phát khởi sự phân biệt khiến tham-sân-si dấy khởi th́ đây là căn nguyên của vô minh. C̣n thấy biết th́ cái ǵ cũng thấy biết, nhưng không đem vào tâm th́ thấy biết mà cũng như không thấy biết ǵ hết nên tâm hằng thanh tịnh th́ đây chính là Niết bàn vậy. Khi trí tuệ thấu suốt, lục căn thanh tịnh th́ tuy biết đời là vô thường nhưng không cóđau khổ, biết đời là khổ nhưng không trốn cái khổ mà tận diệt chúng để có an vui tự tại. Biết đời, vạn pháp là vô ngă nhưng không v́ thế mà hủy diệt những cái có. Do đó mục đích chính vẫn là cải tạo làm cho lục căn được thanh tịnh th́ tuy sống trong thế giới vô thường vô ngă mà ta vẫn an lạc tự tại Niết bàn. V́ thế đối với thế gian là khổ đau, là phiền năo mà ta vẫn an vui hạnh phúc. Quán vạn pháp giai không th́ tâm không dính mắc, không c̣n lưu luyến hay bị nhận ch́m đọa lạc. Con người có khổ v́ sống trong vô minh, bất giác cho nên khi thức tỉnh để biết rằng thật tánh của khổ là Phật tánh th́ làm ǵ c̣n khổ nữa. Ngày xưa lúc c̣n là vị Thái tử giàu sang quyền quư, sống trên nhung gấm lụa là mà Tất ĐạtĐa đâu có hạnh phúc. Miệng ăn sơn hào hải vị mà vị đắng như ngậm bồ ḥn. Ngủnơi lầu son gác tía mà ḷng cứ lo sợ nay bị kẻ này giết, mai người kia ám sát nên đi đâu mặc dầu lúc nào cũng có tiền hô hậu ủng mà ḷng không an. Đến khi xuất gia thành đạo, ngày ăn một bửa đêm ngủ gốc cây mà ḷng an vui tự tại. V́ thế đối với đức Phật bỏ tất cả th́ sẽ được tất cả. Được tất cả nghĩa là không được ǵ hết tức là không c̣n dính mắc. Do đó tôn chỉ của đạo Phật là diệt khổ chớ không trốnđời bởi v́ khi quán chiếu để thấy biết cuộc đời là vô thường vô ngă, tịch tịnh th́ ở đâu cũng thanh tịnh, làm việc ǵ cũng an vui tự tại cho nên ngày xưa đức Phật đến đâu th́ nơi ấy là cơi Phật thanh tịnh bởi v́ tâm Ngài thanh tịnh th́ thế giới sẽ an b́nh thanh tịnh theo. “Rơ ràngđạo quả đâu xaChơn tu thành Phật, Phật là người tu”.NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Lê Sỹ Minh Tùng VÀI ĐIỀU NGẨM NGHĨ Khỏe, không phải là nhấc lên Mạnh, mà là để xuống Nhẹ Strength is NOT about HEAVY lifting, but lowering it down LIGHTLY Kính, không phải là đối với Trên, mà là xử với Dưới Respect is not just toward your UPPER (boss), but how to work withyour LOWER (staff) Đẹp, không phải là hút Người Vào, mà là giữ người Ở Lại Beauty is not to PULL others toward you, but how to KEEP them with you Xấu, không phải tại Gương Mặt, mà ở tại Cách Sống Ugliness is not about a FACE, but it is about how one LIVES Khéo, không phải tạo điều To, mà là làm tốt điều Nhỏ Tactfulness is not about BIG ACTION, but about doing a SMALL GESTURE Hay, không phải là Ngạc Nhiên, mà là sự Thú Vị Wonder is not about a SURPRISE, but about a FEELING Buồn, không phải v́ Bên Ngoài, mà ẩn ở Bên Trong Sadness is not about a OUTER SURFACE, but about something HIDDEN WITHIN Source: NGŨ UẨN VĂ€ CÄ‚N NGHIỆP CỦA CON NGƯỜI - LĂª Sỹ Minh TĂ¹ng Last edited by PhieuDu; 02-03-2012 at 02:17 PM. |