| ||||||
![]() |
| | LinkBack | Thread Tools | Display Modes |
| ||||
| Con đường trở về trong hiên tại: giác ngộ Bát nhă là con đường tắt trở về sự đầy đủ của Chân tánh trong đời sống hiện tại. Không phải ai cũng đi được con đường này. Qua kinh Bát Nhă, Phật dạy ta không nên nương tựa trên vật chất mà cũng không nên nương tựa trên kiến thức để nh́n ra sự đầy đủ nơi ta (chân tánh). Người thế gian thường dựa trên nguyên tắc nhị nguyên để vào đạo. Bỏ cơi giới sắc về cơi giới tâm th́ dễ hiểu, bỏ kiến thức bon chen của đời để học kiến thức xuất thế gian của đạo là điều dễ hiểu. Nhưng nếu Phật dạy không nên nương tựa lên đời lẩn đạo để vào Chân tánh th́ thật khó hiểu. Rồi Phật lại nói sắc tức là không, không tức là sắc, là một điều ta dùng lư trí gượng ép mà giải thích chớ không thể nào hiểu được cái tận cùng rốt ráo của lời Phật dạy. Khi Phật sắp nhập Niết bàn, Phật dơ cành hoa sen lên mà không nói một lời, đại chúng ngớ ngẩn nh́n nhau thắc mắc, chỉ có ngài Ca Diếp chúm chím cười. Phật chọn Ngài làm người thừa kế. Khi đọc lịch sử thiền tông, ta thấy có nhiều điều kỳ quái như khi có học tṛ hỏi về đại ư Phật pháp th́ sư tổ hét lên mà không trả lời hay dựng cây phất tử (chổi) lên trong im lặng, vậy mà có người lại ngộ đạo và liền đó quỳ lại cám ơn sư tổ. Người đệ tử này đă giác ngộ. Giác ngộ là sự liên ứng với chân tánh không qua suy nghĩ lư luận. Nhiều học giả không thích lư Bát Nhă hay thiền tông v́ cách truyền dạy này không có phương pháp và không ai giải thích được một cách tường tận. Con đường tức thời vào Chân tánh rất trơn trợt. Vừa khởi một ư nghĩ để hiểu là ta bị té rồi. Ta không thể dùng lư trí để lư giải được đạo (con đường) Bát Nhă. Muốn đi trên con đường này, hành giả phải tự cởi trói những ǵ đă học hỏi được. Đây là con đường giải thoát tâm linh chớ không phải hiểu biết lư giải danh từ giải thoát. Khi dừng mọi tư tưởng, tâm hành giả biến thành bầu trời trong suốt và hành giả là sự liên ứng của Chân tánh. Sự ứng hiện từ không mà có và chính cái hiện tượng ứng hiện tức thời đó chưa từng rời cái tịch lặng sáng suốt. Bây giờ hành giả mới nhận ra rằng sự đầy đủ thật sự không phải do tích chứa mà có. Thưỏ xưa Ngài Ca Diếp mỉm cười vẫn c̣n là hiện tại. Nụ cười thật đẹp đó ngay nơi đóa hoa Đức Phật đưa lên và nụ cười chính là đóa hoa sen. Phật, hoa sen và Ca Diếp đồng thời hiện ra và phản chiếu trong nhau. Ca Diếp vừa không phải là Phật mà vừa là Phật chính nơi lúc đó. Cái thực trạng tức thời đó thật khó diễn bày qua chữ nghĩa. Phân tâm học và Bát Nhă Theo phân tâm học, ta đau khổ do ta phân liệt (split) tâm ta một cách tự động mà ta không ư thức được. Chính sự phân liệt đó duy tŕ ngă và ngă sở. Sự phân liệt đó xuất hiện ở nhiều dạng khác nhau. Cái cảm nhận sự thật liên hệ rất nhiều t́nh trạng phân liệt đó. Một trong những cách phân liệt là hiện tượng phóng tâm (projection) mà dân gian gọi là đổ thừa. Ta đổ thừa người này vô duyên nói những lời chọc ta giận, ta đổ thừa người kia dụ dỗ và lường gạt ta. Đó là sự thật không chối căi mà ta cảm nhận được. Qua những lần phân tích tâm lư th́ sự phóng tâm ít dần đi. Khi ta ít giận hơn, ít ham muốn hơn th́ ta cảm thấy cùng một lời nói đó mà bây giờ ta có thể bỏ qua được. Ta có cảm tưởng như lời nói đó không c̣n quan trọng nửa. Nói theo nhà Phật th́ lúc trước ta c̣n vô minh (không hiểu rơ chính ḿnh) cái ngă ta c̣n lớn nên bị cái thế giới ngă sở làm ta điên đảo. Khi ta hiểu biết ta hơn th́ chấp ngă mỏng dần và ta bớt lệ thuộc vào cái ngă sở. Nói một cách khác, cái thế giới quan thay đổi theo sự nhận thức của ta. Cái tột đỉnh của sự tu hành diệt khổ là ta tập nhận thức sự phân liệt của tâm ta (vọng tưởng) và dần dần trở về cái tâm nhận thức không suy nghĩ của ta (chân tâm). Phân tâm học cho ta biết rằng khi ta càng suy nghĩ nhiều th́ ta càng đi lạc vào những cảnh giới của phân liệt. Thí dụ như ta theo những tư tưởng trả thù ghét bỏ người nói xấu ta. Ta dùng những suy nghĩ lư luận biện hộ phần đúng về ta. Càng suy nghĩ nhiều, cái cảm tưởng người đó xấu càng in sâu đậm vào tâm thức ta. Diều đó khiến cho ta thật khó mà nhận ra chính ḷng bực tức của ta vẻ ra cái cảnh đó. Khi ta thấy người đó hoàn toàn xấu rồi th́ dù ta có học đạo cách mấy cũng vẫn không thể tha thứ người đó được. Khi ta dẹp bỏ được tất cả những thế giới ngoại cảnh do tâm phân liệt của ta vẽ ra th́ ta trở về với con người nhận thức đầy đủ của ta. Tu hành rất đơn giản nếu ta chịu khó nh́n chính ḿnh và rất phức tạp nếu ta không chịu thay đổi ḿnh mà cứ muốn thay đổi người khác. “Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”: khi hành đạo ta biết không làm gió dừng được nhưng có thể làm tâm ta dừng được. Khi tâm ta dừng rồi th́ gió bên ngoài sẽ dừng theo. Điều này ta chỉ có thể thể nghiệm chớ không lư luận ra được. Có lẻ Phật muốn cho ta nhận ra điều này nên vào phút cuối cuộc đời, Phật dạy: Trong 49 năm thuyết pháp, Như Lai chưa từng nói một lời. Khi tâm ta bám vào cái đúng của pháp Phật, sớm muộn ǵ nếu không tạo băo táp th́ ta cũng tạo gió tranh chấp. Thần kinh học và Bát Nhă Những nghiêng cứu gần đây cho ta biết năo bộ của ta phản ứng với hoàn cảnh bên ngoài qua 3 hệ thống thần kinh (neural systems) ảnh hưởng qua lại với nhau: hệ thống thần kinh limbic, hệ thống prefrontal cortex, và hệ thống paralimbic. Hệ thống limbic là phần năo bộ cũ kỹ nhứt liên hệ đến bản năng và t́nh cảm ban sơ (sợ, ham muốn, giận dữ), hệ thống prefrontal cortex phát triển gần đây hơn trên quá tŕnh tiến hóa của loài người, liên hệ đến suy nghĩ, tính toán, và chiến lược. Ở những người không tu tập, hai hệ thống này làm việc song song mà không liên lạc với nhau, sanh ra hiện tượng phân liệt tâm mà phân tâm học nghiên cứu ở phần trên. Có nghĩa là ta có thể học hỏi lư luận trôi chảy (hoạt động của prefrontal cortex) mà không nhận ra những t́nh cảm tham, sân, si của ta phát ra từ hệ thống limbic. Ngược lại ta dùng sự hiểu biết của hệ thống prefrontal để ta phát triển sự sân hận: dùng trí khôn biện hộ, làm vũ khí độc hại hay dùng mưu lược chính trị xâm chiếm nước láng giềng. Từ khi hệ thống prefrontal cortex của loài người phát triển, họ tạo ra sự mất quần b́nh trên quả địa cầu. Nguyên do của sự phân chia lănh thổ và xử dùng tài nguyên một cách bất cân xứng là hâu quả của sự phát triển của hệ thống này. Chỉ có loài người mới tạo ra chiến tranh v́ mâu thuẫn với nhau. Hiện nay, họ giết lẫn nhau v́ tranh giành tài nguyên ít hơn là v́ mâu thuẫn tư tưởng. Mâu thuẫn không có ở bản năng. Bản năng tự nó có sẵn sự quân b́nh trong đó. Thí dụ loài thú chỉ đi săn khi nó đói và không giết các sinh vật khác nhiều hơn sự cần thiết của bao tử. Khi thức ăn hiếm th́ sự sanh sản ít theo, chớ không phải như loài người sanh sản không nương theo nhu cầu cung cấp của thiên nhiên. Hệ thống paralimbic đóng vai tṛ rất quan trọng trong sự liên kết hai hệ thống limbic và prefrontal cortex kể trên, nó nối liền lư trí và t́nh cảm thuộc về bản năng. Hệ thống này có nền tảng vật chất, là nhóm tế bào thần kinh nằm phía sau vùng orbitofrontal cortex và có những đường thần kinh nối liền với hệ thống limbic. Nhờ hệ thống này mà ta có được sự nhận thức toàn diện khi t́nh cảm và hiểu biết được phối hợp một cách hài ḥa. Cái giây phút phối hợp đó gọi là giác ngộ nhỏ, so với giác ngộ toàn diện của Phật. Khi ta không thiền định hoặc trải qua những khóa phân tích tâm lư th́ hệ thống này không tích cực hoạt động. Khi ta khởi động nó th́ ta sẽ có những giây phút trực hiểu thế giới một cách toàn diện (integrated and insightful knowledge), c̣n gọi là giác ngộ. (Quư đọc giả muốn tham khảo thêm về những hệ thống thần kinh này xin đọc: Mesulam MM, ed. 2000. Principles of Behavioral and Cognitive Neurology, 2nd ed. NewYork: Oxford University Press) Thái Minh Trung, M.D. Associate Clinical Professor Department of Psychiatry UCI Medical Center Source: khoa hoc@doi song/Phat giao, Khoa hoc va Giac Ngo |
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | |
| |