Threads: , Posts: , Members:
Online:

Go Back   Psyche > Tâm Linh, Huyền Bí > Nghiên Cứu và Thảo luận

Reply
 
LinkBack Thread Tools Display Modes
  #1 (permalink)  
Old 05-14-2020, 11:20 PM
DuTran's Avatar
DuTran DuTran is offline
Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 67
Pháp tu Quán Âm, phương pháp bí truyền của Mật Tông Tây Tạng

Bằng một phương pháp hết sức đặc thù, quyển sách nhỏ này đă diễn tả sự phát triển tâm từ bi và tuệ giác siêu việt của hàng Bồ Tát. Trong Phật Giáo, có rất nhiều phương pháp như thế; nhưng, ở đây (Trong sách này), chỉ đặc biệt đề cập đến một phương pháp, đó là: Quán Âm Quán Tưởng Tu Pháp.

Quán Âm Quán Tưởng Tu Pháp là một Pháp chuyên quán tưởng đến một vị Bồ Tát siêu đẳng, lừng danh có tên là Quán Thế Âm và thần chú: Lục Đại Tự Minh (Om Mani Padme Hùm). Pháp tu này đă được truyền thừa bởi Đạo Sư Tangtong Gyalbo (Thang-Stong rGayl-po), vị Thánh Tăng của Phật Giáo Tây Tạng ở vào thế kỷ thứ 15. Cho đến nay, pháp môn này vẫn đang được mọi người đón nhận và hành tŕ một cách sâu rộng, thâm thiết.

Phần lớn, trong suốt ḍng lịch sử của Phật Giáo, ta thấy, có rất nhiều quốc gia ở Á Châu, đă sùng tín, thực hành pháp tu liên hệ đặ̣c biệt đến pháp tu Quán Âm và Lục Tự Minh Chú này; V́ lẽ, Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát đă được toàn thể nhân gian tôn kính như là một biểu tượng tối cao của Đại Bi Tâm của Bậc Bồ Tát. Bậc Bồ Tát̉ là một bậc thệ nguyện đạt đến quả vị giác ngộ theo giáo lư của Phật, để, trên cầu Phật Đạo, dưới độ chúng sanh; và, nếu c̣n có một chúng sanh nào trên thế gian này mà chưa độ th́, Bồ Tát nhất định không thôi nghỉ. Quán Âm Bồ Tát là một trong những vị Bồ Tát đă thực hiện rất sớm thệ nguyện rộng lớn này; v́ thế, đối với nhiều người tu hành trong Phật Giáo, Bồ Tát Quán Âm đă thường được nhận là có một quan hệ bất khả phân với sự cần Đạo Giác Ngộ, Giác Thoát.



Danh xưng Quán Âm vốn tiếng Phạn: Avalokiteshvara (Tiếng Sanskrit, văn tự cổ Ấn Độ, nơi mà từ đó Phật Giáo đă khởi nguyên). Avalokiteshvara có nghĩa là Bậc có oai lực xem xét và bảo hộ chúng sanh. Ngài cũng được tôn xưng là Mahakarunita (Người có Đại Bi Tâm) và Padmapani (Kẻ thủ tŕ hoa sen - Liên Hoa Thủ). Chúng ta có thể t́m hiểu Quán Âm Bồ Tát trong kinh “Duy Ma Cật” (Vimalakirtinirdesha Sutra) và phẩm thứ 25, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutra). Theo “Cực Lạc Trang Nghiêm Kinh” (Sukhavativyuha Sutra), Ngài là thị giả của Phật A Di Đà (Vô Lượng Quang) và đă có một quan hệ rất rơ rệt đối với Tịnh Độ. Ngoài ra, có một bộ kinh hết sức trọng yếu, đó là kinh Karandavyuha Sutra, kinh này đă thuyết minh một cách chi tiết, rơ ràng Tâm Đại Bi và oai lực thần thông diệu dụng của Quán Âm Bồ Tát. Kinh “Lăng Nghiêm” (Shurangama Sutra), cũng đă giải thích về phương pháp Khế Chứng Vô Ngă của Quán Thế Âm. Trong “Bát Nhă Tâm Kinh” (Prajnaparamita-hrdaya Sutra) Quán Âm đă xiển minh cùng cực triết lư thâm áo về Trung Đạo Bất Nhị; và trong “Liên Hoa Vơng Mật Kinh” (Padmajala Tantra) đă hàm chứa rất nhiều tư liệu nói rơ sự quan hệ giữa Quán Âm và Mật Tông Kim Cang Thừa (Vajrayana).

Thệ nguyện của Quán Âm là tế độ tất cả chúng sanh, một trong những phương pháp mà Ngài đă sử dụng là quan sát nhu yếu của t́nh cảnh chúng sinh để tùy loại hiện thân. V́ để tuân thủ lời nguyện của Ngài nên Ngài đă phân thân thành rất nhiều chủng loại và thị hiện qua nhiều h́nh thái khác nhau trước mỗi một chúng sanh trong rất nhiều cảnh giới. Khi cần thiết, thậm chí Ngài có thể hóa thân làm những vật vô t́nh như cầu cống, pḥng xá, nơi trú ẩn, nương thân. Trong truyền thống tạc tượng chạm trổ h́nh đồ về sự thị hiện của Bồ tát Quán Âm, chúng ta cũng thấy được những loại biến hóa như thế. Song, những h́nh thái bất đồng đó có thể được coi như là sự hiển thị đa dạng của Phật tánh đồng nhất mà thôi.

Ở vào thời kỳ rất sớm tại Ấn Độ, h́nh tượng của Quán Âm phần nhiều đă được phát hiện dưới h́nh thức của một vị Vương Tử đang đứng, ḿnh mặc áo mũ vương giả. Ta thấy, cũng có nhiều pho tượng ngồi trong tư thế nghỉ ngơi thoải mái (Gọi là tư thế du hư, “latitasana”); ngoài ra, c̣n có một tượng rất nổi tiếng có tên là Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm, mục đích của Thiên Thủ là đáp ứng một cách trọn vẹn sự kỳ cầu vô tận nhưng vô cùng cần thiết của tất cả chúng sanh. Quán Âm c̣n xuất hiện trong một h́nh tướng phẫn nộ như Phục Bộ Thần Mă Đầu Minh Vương (Hayagriva), lư do của sự xuất hiện này là v́ đôi khi bên cạnh ḷng Từ Bi đ̣i hỏi phải có những thế lực mănh liệt để làm chúng sinh kính sợ. Phương pháp Thiền Định Quán Âm (Hay “Thiền định cho tất cả chúng sanh qua suốt cơi không gian”) được tŕnh bày trong quyển sách nhỏ này có liên hệ đến thế ngồi của Quán Âm với một đầu và bốn tay, h́nh tượng này đă trở thành một h́nh tượng hết sức đặc thù và vô cùng trọng yếu tại Tây Tạng. Những chi tiết diễn tả về h́nh dạng Quán Âm với bốn tay sẽ được tŕnh bày trong chương sau.

Sau khi Phật Giáo được truyền từ Ấn Độ vào các nước Á Châu, vị thế của Quán Âm lại ngày một gia tăng rộng lớn. Nhiều ngôi chùa lớn tại Đông Nam Á đă thờ phụng Thế Tự Tại Vương (Lokeshvara), một hiện tướng khác của Quán Âm Bồ Tát như là phản hiện với thần Shiva của Ấn Độ Giáo. Tại phương Bắc, ở Nepal (Nê Bạc Nhỉ), đă từng có đến 108 h́nh tượng Quán Âm. Những h́nh tượng này rất có thể vẫn c̣n thấy được hiện diện trong một cổ miếu tại Kathmandu. Người Tây Tạng đă xem Quán Âm Bồ Tát (Tây Tạng tôn xưng là Chenrezig) như là một lư tưởng tối cao của Phật Giáo đồ. Rất nhiều bậc Thánh Tăng của Tây Tạng, đặc biệt là đức Dalai Lama (Đạt Lai Lạt Ma) được coi như là hóa thân của Quán Âm Bồ Tát. Tại Viễn Đông, vị thế quan trọng của Quán Âm Bồ Tát đă phổ biến một cách hết sức rộng răi; đặc biệt, xuyên qua những nghệ thuật phẩm nổi bậc về Quán Âm trong nhiều tư thế. Tại Trung Quốc, Quán Âm cũng c̣n được tôn xưng là Quán Thế Âm, tại Nhật Bản th́ gọi là Kwannon. Trong tất cả những quốc gia ở Á Châu, Quán Thế Âm đă được tôn sùng như Bậc Vô Úy Thí tối thượng (Kẻ ban cho sự pḥng hộ thoát khỏi mọi sợ hăi) và Ngài cũng được coi là Bậc Đạo Sư, nhất là được coi như Bậc truyền cảm, dẫn khởi, khai tác ḷng Từ Bi giác ngộ sâu thẳm nhất.

Thế th́, lấy Quán Âm làm đối tượng để quán tưởng chính là con đường tối ư căn bản và hết sức hiệu lực đối với những ai chuyên tâm tầm cầu sự khai ngộ. Trong những trang được tŕnh bày sau đây về Pháp Tu Quán Âm, hành giả phải học hỏi cách quán tưởng Bồ Tát Quán Âm một cách trực tiếp. Trong phương pháp giảng yếu này, bao gồm một thứ kỹ thuật khả dĩ khiến hành giả đang trong thiền định có thể cảm nhận được sự gia tŕ che chở của Quán Âm. Đang trong khi quán tưởng, hành giả và cảnh giới sở nghiệm của hành giả đều được quán tưởng như được trở thành giác ngộ viên măn. Hành giả, lúc tụng Thần Chú Lục Tự (OM MANI PADME HUM), phải đồng lúc quán tưởng rằng: tất cả h́nh tướng, sắc tướng, âm thanh và tư tưởng đều đă được chuyển hóa thành h́nh sắc, âm thanh và tư tưởng của chính Quán Thế Âm.

Pháp Tu Quán Âm Quán Tưởng này (Nguyên tác: “Thiền Định Quán Tưởng cho tất cả chúng sinh suốt cơi không gian”) đă do Ngài Tangtong Gyalbo, một vị đại thánh của Tây Tạng soạn ra. Ngài đă từng có rất nhiều kinh nghiệm tu chứng và đươc̣ trực tiếp nh́n thấy sự thị hiện của chính Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tangtong Gyalbo đă được sinh ra tại Owa Latse vào năm 1361, thuộc vùng Tây bộ Tây Tạng. Lúc c̣n rất trẻ, Ngài đă say sưa thích thú, nhất là nghiên cứu, tu học giáo lự Phật Giáo, đặc biệt; những giáo lư có liên hệ đến Ngài Quán Âm. Ngài đă hấp thụ một tŕnh độ giáo lư tu chứng rất cao từ các bậc thầy lớn thuộc Kim Cang Đại Thừa của Ấn Độ và Tây Tạng đương thời; trong những bậc thầy đó có Ngài Kangapa Paljor Sherah là một bậc Đạo Sư chuyên gia hành tŕ về Quán Âm. Ngài cũng đă bỏ ra nhiều năm ṛng ră để thủ đắc công phu tu tập thiền định và đă từng trực tiếp hấp thụ một cách bí nhiệm sự chỉ dạy và tâm thuật minh kiến truyền thọ từ chư Phật và chư Bồ Tát cũng như từ những bậc Đại Sư ở nhân gian trong quá khứ. Sau đó, Ngài đă du hóa khắp xứ Tây Tạng, Ấn Độ, Bhutan (Phủ Đơn), Trung Hoa và Mông Cổ. Bất cứ nơi nào Ngài đến, Ngài đều truyền bá Minh Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng” (OM MANI PADME HUM) cho rất nhiều đệ tử của Ngài.

Pháp Tu Quán Âm do Tangtong Gyalbo soạn ra đă được đặt căn bản trên sự thân kiến và những kinh nghiệm tu chứng bản thân vê Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài đă truyền trao pháp tu cho các đệ tử, và sau đó đă được tương truyền từ thế hệ này rau thế hệ khác và cho măi đến hôm nay. Vào thế kỷ thứ 19, pháp tu này đă rất được tán dương và phục hồi bởi hai vị Ḥa Thượng Tây Tạng Jamyang Kyentse Wangbo Rinpoche và Jamgon Kongtrul Rinpoche. Nhờ thế, pháp tu này đă được truyền bá và thực hành rộng răi đến toàn thể Phật Giáo đồ trên khắp thế giới.

Kỹ xảo trọng yếu mà Tangtong Gyalbo đă sử dụng để phát triển bao gồm nghi thức Đoạn Ngă (phá trừ ngă chấp, chữ Tây Tạng gọi là pháp tu GCOD - đọc là chod) và thuật Mật Tông Du Già bí truyền từ Dakini Niguma (Em của Sư Tổ Mật Tông Naropa) và phương pháp quán tưởng Vô Lượng Thọ Phật (Amitayus) để làm tăng thêm tuổi thọ. Đặc biệt Tangtong Gyalbo c̣n được người Tây Tạng ngưỡng mộ một cách cao độ v́ công tŕnh kiến thiết cầu treo bằng sắt trên toàn cơi Tây Tạng. Sau khi phát hiện mỏ thiết đồ sộ, phong phú, Ngài đă phát minh ra phương pháp luyện thép để chế tạo một loại thép không rỉ sét. Những chiếc cầu treo được Ngài kiến tạo theo phương pháp này, cho đến nay vẫn c̣n được sử dụng.

Last edited by DuTran; 05-14-2020 at 11:24 PM.
Reply With Quote
  #2 (permalink)  
Old 05-14-2020, 11:25 PM
DuTran's Avatar
DuTran DuTran is offline
Member
 
Join Date: Jul 2007
Posts: 67
Tangtong Gyalbo viên tịch vào năm 1485, Ngài đă sống với một tuổi thọ rất cao (Ngài sống đến 124 tuổi), v́ thế đă chứng minh một cách hùng hồn cái công hiệu của thuật tăng tuổi thọ mà Ngài đă truyền dạy. Từ những hành hoạt về Bồ Tát Hạnh vô cùng lợi ích đối với dân Tây Tạng trong cuộc sống của Ngài; v́ thế, Ngài đă được tôn kính và được coi như là bậc hóa thân của Bồ Tát Quán Âm. Tangtong Gyalbo hiện vẫn tiếp tục thọ sanh (Tái sanh) như một bậc thượng sư muôn đời tại Tây Tạng. Hiện thân của Ngài hiện nay là Drubtob Rinpoche, ngài đă chào đời tại Golok thuộc miền Đông bộ Tây Tạng vào đầu kỷ nguyên này. Drubtob Rinpoche đang ở Bhutan và Ngài hiện là một bậc được tôn như là đại Minh Sư thần thông viên thành (Siddha) của “Thiết Kiều hệ, Mật Tông Tây Tạng”. Toàn bộ phương pháp giảng dạy của Tangtong Gyalbo đều được hoằng dương nơi những đạo tràng của Ngài, trong đó, gồm cả pháp tu Quán Âm. Đă có rất nhiều bậc thượng sư khác cũng đă truyền thọ pháp tu này như ngài Deshung Rinpoche ở Seatle, Washington, Ngài Kalu Rinpoche ở các trung tâm truyền bá Phật Giáo của Ḥa thượng trên khắp thế giới, và Ngài Lama Kunga ở Ewam Choden Center tại Berkeley, California.

Tác Giả: Tangtong Gyalbo - Dịch Giả: Thích Viên Lư
Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On




All times are GMT -7. The time now is 05:30 PM.
[email protected]
A vBSkinworks Design